GLV THỜI NAY

ĐỨC KITÔ THẦY CỦA GIÁO LÝ VIÊN

 

Tông Huấn CATECHESI TRADENDAE, một Tông Huấn nổi tiếng của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, nói về việc dạy giáo lý. Tuy nhiên, đối với nhiều người, Tông Huấn này xem ra còn quá xa lạ. Chính vì thế, việc tìm hiểu và quảng diễn Tông Huấn này là một việc rất nên làm, để mọi thành phần dân Chúa ý thức được tầm quan trọng của giáo lý, hầu thêm nhiệt tình cộng tác với hàng Giáo Phẩm và với nhau để củng cố đức tin, đào sâu đức tin, tái truyền giáo và loan báo Tin Mừng.

Quá trình hình thành Tông Huấn CATECHESI TRADENDAE

– Trước hết việc truyền đạt giáo lý luôn luôn được Hội Thánh coi là một trong những nhiệm vụ tốâi quan trọng của mình, vì trước khi lên cùng Cha Người, Đức Kitô Phục Sinh đã ban cho các Tông Đồ một huấn lệnh sau cùng: làm cho mọi dân tộc trở nên môn đệ và dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Người đã truyền. (x. Mt 28,29-30)

– Từ rất sớm, người ta đã dùng từ ngữ “dạy giáo lý” để gọi toàn thể các nỗ lực trong Hội Thánh, nhằm đào tạo các môn đệ, để giúp nhân loại tin rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, ngõ hầu nhờ đức tin họ được sự sống nhân Danh Người. (x. Ga 20,31) (CT số 1)

– Các vị Giáo Hoàng gần đây nhất cũng đã dành cho công việc ấy một địa vị quan trọng trong việc chăm sóc mục vụ của các Ngài:

* Đức Cố Giáo Hoàng Phaolô VI, vào ngày 18 tháng 3 năm 1971 đã chuẩn y “Tập chỉ dẫn tổng quát về việc dạy giáo lý” do Thánh Bộ Giáo Sĩ soạn thảo. Đây là văn kiện căn bản để khích lệ và hướng dẫn sự canh tân việc dạy giáo lý trong toàn thể Hội Thánh.

* Năm 1975, Ngài đã thiết lập Hội Đồng quốc tế về khoa dạy giáo lý và đã trở lại đề tài này cách minh thị trong Tông Huấn Evangelii Nuntiandi để làm chủ đề cho Đại Hội thứ VI của Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới diễn ra trong tháng 10 năm 1977. Thành quả của Thượng Hội Đồng đã được Đức Phaolô VI tiếp nhận trong diễn văn bế mạc.

* Chính trong bầu khí đức tin và hy vọng này mà Tông Huấn Catechesi Tradendae đã hình thành và đã được Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II công bố ngày 16 tháng 10 năm 1979.

Vậy dựa vào Tông Huấn này, Ban Giáo Lý sẽ trình bày một số đề tài, một mặt, để tìm hiểu kỹ hơn tinh thần của Tông Huấn, mặt khác, rút ra những bài học cần thiết, gợi lên những điểm thực hành liên quan đến trách nhiệm của người Kitô hữu hôm nay, qua ơn gọi là giáo lý viên, đang khi cố gắng “ra khơi thả lưới” theo lệnh truyền của Chúa. Đề tài lần này là Đức Kitô, thầy của giáo lý viên.

  1. 1.      Thầy duy nhất.

Một lần kia, Chúa Giêsu nói với đám đông và các môn đệ Người rằng: “Phần anh em, đừng để ai gọi mình là “ráp-bi”, vì anh em chỉ có một Thầy, còn tất cả anh em đều là anh em với nhau… Anh em chỉ có một vị lãnh đạo là Đức Kitô”. (Mt 23,8-10).

Trong giờ phút cuối cùng, Người đã tự xưng là Thầy: “Anh em gọi Thầy là “Thầy”, là “Chúa”, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa.” (Ga. 13,13; Mt 10,25)

Trong bức thư gửi Tín Hữu Do Thái, Thánh Phaolô cũng đã viết: “Thủa xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Người Con (Dt 1,1-2).

Tính cách qui Kitô này (Christocentrisme) đã được Đại Hội thứ IV của Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới diễn ra trong năm 1977 minh định lại một lần nữa rằng: Trọng tâm khoa dạy giáo lý, cốt yếu có một Ngôi Vị, tức là Ngôi Vị của Đức Giêsu thành Nazareth, “Con một tự nơi Cha, tràn đầy ơn nghĩa và sự thật” (Ga. 1,14), đã chịu khổ hình và chết vì chúng ta và sau khi Phục Sinh, hiện đang sống với chúng ta cho đến muôn đời. Chính Đức Giêsu là “Đường, là Sự thật và là Sự sống” (Ga. 14,6) và đời sống Kitô hữu là theo chân Đức Kitô.1 (JEAN PAUL II. Exhortation apostolique post-synodale, Catechesi Tradendae, n.5)

Trong sách giáo lý Hội Thánh Công Giáo cũng đã khẳng định: “Con Thiên Chúa làm người là Lời duy nhất, hoàn hảo và dứt khoát của Chúa Cha. Nơi Người, Thiên Chúa phán dạy mọi sự và sẽ không có lời nào khác ngoài Lời đó” (số 65)

2. Thầy giảng dạy và chữa lành.

Sau 30 năm sống ẩn dật, Người đã đến sông Jorđan để chịu phép rửa của Gioan. Tiếp đến, Người vào hoang địa ăn chay ròng rã 40 đêm ngày (Mt 4,1-2), rồi lui về Galilêa. Từ lúc đó, Người bắt đầu rao giảng rằng: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 4,17) và chữa hết mọi bệnh hoạn tật nguyền của dân (Mt 4, 23). Tất cả cuộc đời của Người là một bài giảng liên tục: sự im lặng, phép lạ, cử chỉ, việc cầu nguyện, tình yêu của Người đối với nhân loại, các trẻ nhỏ, người nghèo khó và sự chết trên thập giá. (CT số 9)

Bằng tất cả sự hiện diện và tỏ mình qua lời nói cũng như việc làm, dấu chỉ và phép lạ, nhất là qua cái chết và sự sống lại từ trong kẻ chết, sau cùng bằng việc phái Thần Chân Lý đến, Người đã bổ túc và hoàn tất Mạc Khải (DV số 4).

– Người giảng dạy ở khắp mọi nơi: trên núi, dưới thuyền, trong hội đường, nơi bàn tiệc, trên đường đi, trong đền thờ, ở nhà riêng…

– Người giảng dạy bằng cách nói trực tiếp qua những gặp gỡ, qua những tiếp xúc, nói vừa tầm người nghe bằng việc trích dẫn Kinh Thánh, dựa vào lẽ khôn ngoan và kinh nghiệm trong cuộc sống như chim trời, cành huệ (Mt. 6,25-28), như xây nhà trên đá và cát (Mt 7, 24-27). Người dùng những câu chuyện đời thường (trong Tin Mừng có 50 câu chuyện khác nhau) trong đời sống nông dân: gieo giống, hạt lúa, hạt cải, cỏ lùng, cây nho, đèn để trên giá (Lc 8,16-18), nắm men và thúng bột (Lc 13, 20-21), trong đời sống của người chăn nuôi: Mục tử tốt lành (Ga 10,1-18), trong đời sống xã hội: chủ vườn

nho và tá điền (Mt 21,33-46), Phú hộ và Lazarô (Lc 16,19-31), trong đời sống tôn giáo: Biệt phái và người thu thuế, người Samari nhân hậu (Lc 10, 29-37).

– Người giảng dạy bằng cả cuộc sống của mình. Người luôn làm điều Người dạy và luôn dạy điều Người làm. Ví dụ khi dạy về tinh thần phục vụ (Mt 20, 28), thì Người đã quì xuống rửa chân cho các môn đệ. Mỗi bài giảng của Người là một bài giảng phong phú, hấp dẫn và có sức cảm hoá cho những người biết lắng nghe và chiêm ngắm.

3. Thầy kêu gọi, tuyển chọn và đào tạo môn đệ.

3.1. Trước hết, người kêu gọi môn đệ: bốn môn đệ đầu tiên (Mt 4,18-22), Matthêu (Mt 9,9), Philipphê (Ga. 1,43-44) và các môn đệ khác.

3.2. Tiếp đến, người tuyển chọn 12 người gọi là Tông Đồ (Lc 6,12-16) và chỉ định thêm 72 người khác nữa (Lc 10,1).

3.3. Sau cùng, Người đào tạo các Tông đồ để kế thừa sứ mệnh cứu độ của Người. Khởi đầu công cuộc này, Người đã cho các ông ở sát bên mình để hướng dẫn, xây dựng tinh thần tông đồ và tinh thần lãnh đạo (Mt 4,19; 5,1-14; 10,5-37). Người tìm mọi cơ hội để dạy các ông (Mt 12,1-8; 13,1; 16,8; 17,9; 20,17-19; Ga 13,4tt). Các ông đã được học nơi Người những bài giảng sống động là những Lời ban sự sống đời đời (Ga 6,67-69), là những hy sinh vất vả của Người, là gương sống cầu nguyện, là những bài học đặc biệt mà Người dành riêng cho các ông (Mt 13, 18-23. 36-43.51-52). Học rồi, Người sai các ông đi thực tập (Lc 10,1-16). Làm xong thì Thầy trò lại quây quần để lượng giá, để rút tỉa kinh nghiệm (Lc 10,17-20). Nếu các ông có gặp thất bại, thì Người khích lệ và dạy bảo thêm (Mt 17,14-21). Người đào tạo các ông rất kỹ và lợi dụng mọi cơ hội để trui rèn các ông (Mt 15,32-39; 16,5-12). Đôi lúc Người dùng những biện pháp cứng rắn để uốn nắn cho các ông được nên mạnh mẽ, vững vàng hơn, hầu sau này có thể thay thế Người trong công cuộc cứu độ (Mt 17,21-26; 20,20tt).

Qua cách giáo dục cũng như đào tạo đặc biệt này của Thầy Giêsu và qua sự gắn bó mật thiết giữa thầy trò mà các môn đệ đã tìm thấy ánh sáng, sức mạnh và niềm vui để toàn tâm toàn ý phục vụ cho công cuộc rao giảng Tin Mứng sau này.

4. Thầy sai đi và đồng hành.

4.1 Sau khi đã kêu gọi, tuyển chọn, đào tạo và chỉ bảo những lời sau hết (Lc 24,44-49), Thầy Giêsu đã sai các ông đi để tiếp nối công cuộc cứu độ của Người.

– Nơi được sai đến: bắt đầu từ Giêrusalem (Lc 24,47), trong khắp các miền Giuđêa, Samaria, tứ phương thiên hạ (Mc 16,15) và cho đến tận cùng trái đất (Cv 1,8).

– Đối tượng của việc sai đi: Chiên lạc nhà Israel (Mt 10,6), muôn dân (Mt 28,19), mọi loài thụ tạo (Mc 16,15)

– Mục đích nhắm tới: Làm chứng (Cv 1,8), loan báo Tin Mừng (Mc 16,15), làm cho trở thành môn đệ, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền (Mt 28, 19-20), kêu gọi sám hối (Lc 24, 47).

4.2. Thầy Giêsu không bỏ rơi các ông (Ga 14, 18.20), nhưng luôn hiện diện và đồng hành với các ông: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Người hiện diện qua nhiều cách, đặc biệt:

– Qua Chúa Thánh Thần: “Nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em. Người sẽ dẫn anh em đến sự thật toàn ven.” (Ga 16,7.13)

– Qua “Lời Chúa vẫn tồn tại đến muôn thuở muôn đời. Đó chính là Lời đã được loan báo cho anh em như một Tin Mừng” (1Pet 1,25), Lời đem lại sự sống đời đời. (Ga 7, 68), là ngọn đèn soi, là ánh sáng chỉ đường (Tv 119,105). “Lời Chúa còn có sức mạnh và quyền năng có thể nâng đỡ và tăng cường Hội Thánh, ban sức mạnh đức tin, là lương thực linh hồn, nguồn sống thiêng liêng, tinh tuyền và trường cửu cho con cái Hội Thánh” (DV 21) (GLCG số 131)

– Qua các Bí Tích, nhất là Bí Tích Thánh Thể, là nguồn mạch và tột đỉnh của đời sống Kitô hữu (LG 11), chứa đựng tất cả của cải thiêng liêng của Hội Thánh, đó chính là Chúa Kitô, Người là mầu nhiệm Phục Sinh của chúng ta (PO 5)

– Qua Giáo Hội: “Trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16,18)

Là Kitô hữu, mỗi người chúng ta đều có cùng một ơn gọi làm giáo lý viên mà Thầy Giêsu đã uỷ thác: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.” Ơn gọi này không những bắt nguồn từ Bí Tích Thánh Tẩy và Bí Tích Thêm Sức, mà còn do một lời mời gọi đặc biệt của Chúa Thánh Thần, một đặc sủng được Giáo Hội công nhận. Chính vì thế, mỗi Kitô hữu cần ý thức sâu xa về ơn gọi của mình, luôn biết vun trồng ơn gọi ấy và nhất là theo gương THẦY GIÊSU DUY NHẤT, ĐẤNG ĐÃ GIẢNG DẠY VÀ CHỮA LÀNH, ĐẤNG ĐÃ KÊU GỌI, TUYỂN CHỌN VÀ ĐÀO TẠO MÔN ĐỆ, ĐẤNG ĐÃ SAI ĐI VÀ ĐỒNG HÀNH để chu toàn ơn gọi ấy theo như lòng Chúa và Hội Thánh mong ước.

 Lm. Vinh-sơn Nguyễn Văn Thanh 

Nguồn : http://www.gplongxuyen.net/tapsan/082008/ktgly0808.htm

 


 

GIÁO LÝ VIÊN MÔN ĐỆ CỦA ĐỨC KITÔ

Hội Thánh được khai sinh với mục đích làm cho Nước Chúa Kitô được rộng mở trên khắp hoàn cầu, tức là làm cho mọi người được cứu rỗi, để nhờ đó, toàn thể vũ trụ thực sự được qui hướng về Chúa Kitô. Mọi hoạt động của Nhiệm Thể hướng về mục đích này gọi là  việc tông đồ. Đó là công việc mà Hội Thánh thực hiện qua mọi chi thể, tuỳ theo những cách thức khác nhau. Nói cho đúng ra, ơn gọi làm Kitô hữu tự bản chất cũng là ơn gọi làm tông đồ. Họ được chính Chúa chỉ định làm việc này, vì Bí tích Rửa Tội tháp nhập họ vào Nhiệm thể Chúa Kitô và Bí tích Thêm Sức làm cho họ nên mạnh mẽ nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Họ được thánh hiến vào chức vụ tư tế, vương giả và Dân tộc thánh (x. 1P 2,2-10)[1].

Hình thức đặc biệt của hoạt động tông đồ giáo dân là làm chứng bằng cả đời sống phát xuất từ lòng tin, cậy, mến. Ngoài ra, còn làm tông đồ bằng lời nói để rao giảng Chúa Kitô qua việc cắt nghĩa và phổ biến giáo lý của Ngài tuỳ theo hoàn cảnh và tài năng của mỗi người, đồng thời trung thành tuyên xưng giáo lý của Ngài[1] qua một mệnh lệnh : “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ…, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28, 19-20). Vậy môn đệ của Đức Kitô là ai?

1. Môn đệ của Đức Kitô [1]

Môn đệ (disciple). Đó là người tự nguyện theo học trường của một thầy và cùng chia sẻ những ý kiến, quan niệm của Thầy. Từ ngữ này hầu như vắng mặt trong Cựu Ước, nhưng được sử dụng thường hơn trong đạo Do Thái sau này, dẫn đến việc dùng từ này trong truyền thống Kinh Thánh. Người ta gặp từ ngữ tương tự trong Tân Ước nhưng với nghĩa nguyên thuỷ mà Chúa Giêsu đã cho nó.

1.1. Cựu Ước

– Môn đệ của các Tiên Tri và nhà hiền triết – Qua mọi thời, người ta cho Êlisê đã gắn bó với Elia (1V 19,19tt) hoặc một nhóm môn đệ nhiệt thành vây quanh Isia để tiếp nhận chứng từ và sự mạc khải của ông (Is 8,16). Thông thường hơn, các nhà hiền triết có những môn đệ mà họ gọi là “con” và những môn đệ này khắc sâu vào tâm trí những lời giảng dạy rất truyền thống. Nhưng chẳng có tiên tri và hiền triết nào dám thay thế Lời Chúa bằng lời giảng dạy của họ.

– Môn đệ của Thiên Chúa – Vì Lời Chúa là nguồn mọi sự khôn ngoan, cho nên lý tưởng không phải là gắn bó với một thầy nhân loại mà muốn là môn đệ của chính Thiên Chúa. Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa được nhân cách hoá cũng gọi những người nghe và theo những bài học khôn ngoan là môn đệ (Cn 1,20tt; 8,4tt.32 tt). Những sấm ngôn của thế hệ cuối cùng loan báo rằng vào thời sau hết, chính Chúa sẽ là Thầy của mọi tâm hồn : không ai còn cần đến thầy của trần gian nữa (Jr 31,13- 34), nhưng tất cả sẽ là “môn đệ của Đức Giavê” (Is 54,13). Vì thế, “Chính người Tôi Tớ Giavê, được ủy thác giảng dạy các thánh chỉ của Ngài (Is 42,1.4), vào mỗi buổi sáng, đã mở tai ra và đón nhận miệng lưỡi của người môn đệ (Is 50,4). Trung thành với lời tiên tri này, tác giả Thánh vịnh đã nài xin không ngừng : “Lạy Chúa, xin dạy bảo tôi!” (Tv 119,12.26tt.33;25,4 -9…).

– Thầy và môn đệ trong Do Thái giáo – Trở lại với thời lưu đầy, Lề Luật trởø thành đối tượng đầu tiên của việc giảng dạy, và vị thầy được ủy thác cho sự giáo dục nền tảng này được gọi là “tiến sĩ luật”. Dựa vào uy tín của Lời Chúa để chú giải, dần dần họ thêm uy tín cá nhân của mình vào việc chú giải (Mt 23,2.16- 22), nhất là khi họ truyền bá truyền thống mà chính họ đã nhận được từ những người thầy. Vào thời Tân Ước, Phaolô đã nhắc lại rằng chính Ngài là môn đệ của Gamalien (Cv 22,3).

1.2. Tân Ước

– Môn đệ của Chúa Giêsu – Trừ ra một vài chỗ nhắc đến những môn đệ của Maisen (Gio 9,28), của Gioan Tẩy Giả (Mc 2,18; Ga 1,35; Cv 19,1tt) hoặc của những người Pharisiêu (Mt 22,16), thì Tân Ước chỉ dành tên “môn đệ” cho những người đã nhận biết Chúa Giêsu là Thầy của họ. Bởi thế, trong Tin Mừng, nhóm mười hai được xác định trước tiên (Mt 10,1;12,1). Rồi ngoài thành phần chí cốt này, phải kể đến những người đi theo Chúa Giêsu (Mt 8,21), nhất là nhóm bảy mươi hai mà Ngài sai đi truyền giáo (Lc 10,1). Những môn đệ này thì vô số (Lc 6,17; 19,37; Ga 6,60), nhưng nhiều người đã bỏ Ngài ra đi (Gio 6,66). Không ai có tham vọng làm thầy, nhưng chỉ muốn được “làm môn đệ” (Mt 28,19; Cv 14,21), không phải vì cái lợi riêngï nhưng duy nhất chỉ vì Đức Kitô. Dần dần, khởi đi từ chương 6 của sách Tông Đồ Công Vụ, tên gọi đơn giản “môn đệ” được nhắm tới mọi tín hữu dù đã biết hay không biết Chúa Giêsu khi Ngài còn tại thế (Cv 6,1; 9,10-26). Các tín hữu, theo cái nhìn này, được đồng hoá với chính nhóm mười hai (Ga 2,11; 8,31; 20,29).

– Đặc điểm của môn đệ Chúa Giêsu : Chính Chúa đã có những đòi hỏi độc đáo dành cho các môn đệ của mình.

a) Ơn gọi. Điều kiện trở thành môn đệ, không phải là khả năng trí thức hay đạo đức nhưng là một lời mời gọi mà Chúa Giêsu chủ xướng (Mc 1,17-20; Ga 1,38-50), và sau Ngài, Chúa Cha  “ban” các môn đệ cho Chúa Giêsu (Ga 6,39; 10,29; 17,6 -12).

b) Gắn bó cá nhân với Đức Kitô. Để trở nên môn đệ của Chúa Giêsu, không đòi hỏi phải trở nên một con người siêu đẳng, vì thực ra, tương quan nối kết giữa trò và thầy trước tiên không phải chỉ là một mệnh lệnh thuộc về trí óc. Chúa Giêsu nói: ”Hãy theo Ta!”. Trong Tin Mừng, động từ “theo” luôn diễn tả sự gắn bó với cá nhân Chúa Giêsu (Mt 8,19). Theo Chúa Giêsu chính là dứt bỏ hoàn toàn quá khứ, theo sát sự hướng dẫn của Ngài, lắng nghe những bài học của Ngài và làm cho cuộc đời của mình tháp nhập vào cuộc đời của Đấng Cứu Độ (Mc 8,34; 10,21.42.45; Ga 12,26). Khác với môn đệ của các tiến sĩ, mỗi lần dạy về luật, đến lượt họ, họ có thể tách ra khỏi thầy của mình. Còn môn đệ Chúa Giêsu được gắn kết không phải với một học thuyết nhưng là với một cá nhân. Họ không thể lìa bỏ người thầy mà từ nay trở đi có trách nhiệm đối với mình hơn cả cha mẹ (Mt 10,37; Lc 14,25).

c) Định mệnh. Môn đệ của Chúa Giêsu được kêu gọi để chia sẻ chính thân phận của thầy mình: mang thập giá (Mc 8,34), uống chén của Thầy (Mc 10,38), sau cùng thì nhận lãnh Nước Trời (Mt 19,28; Lc 22,28; Gio 14,3). Cũng thế, ngay từ bây giờ, bất cứ ai cho người môn đệ một ly nước lã với tư cách là môn đệ sẽ không mất phần thưởng đâu (Mt 10,42). Vậy giáo lý viên có phải là môn đệ của Đức Kitô không?

2. Giáo lý viên, môn đệ của Đức Kitô.

2.1. Giáo lý viên

Đó là người được ủy thác trong nhiệm vụ giáo dục đức tin, giúp cho người khác nhận biết Chúa, yêu mến Chúa, đi theo Chúa qua việc dạy giáo lý và làm chứng cho Chúa Kitô bằng chính cuộc sống của mình.

Giáo lý viên có ơn gọi chung với giáo dân là đi theo Đức Kitô để làm môn đệ của Ngài qua bí tích Rửa tội và Thêm Sức, nhưng có điểm riêng là được Chúa Thánh Thần kêu gọi cách đặc biệt, nghĩa là ban cho một đặc sủng (ơn đặc biệt) được Hội Thánh nhìn nhận và được Đức Giám Mục minh nhiên ủy nhiệm[1].

2.2. Ơn gọi và trách nhiệm của giáo lý viên[1]

Việc dạy giáo lý là một hồng ân lớn lao mà Chúa dành cho giáo lý viên, một sứ mệnh tông đồ: xây dựng và mở rộng Nước Chúa “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con” (Gio 20,21) và là một nhiệm vụ có liên hệ đến tất cả mọi người mà trong đó có các Giám mục, Linh mục, Tu sĩ và Giáo dân. Đồng thời, nhiệm vụ ấy còn liên hệ đến khung cảnh cụ thể và môi trường dạy giáo lý như giáo xứ, gia đình, trường học, phong trào, hội đoàn và viện giáo lý.

– Giám mục : Người chịu trách nhiệm trước tiên về việc dạy giáo lý, là giáo lý viên theo đúng nghĩa, nên phải quan tâm về việc cổ võ công cuộc dạy giáo lý linh hoạt và hữu hiệu, không thua kém bất cứ sự quan tâm nào khác. Vai trò chính của Giám Mục là khơi dậy và gìn giữ trong giáo phận một sự say mê dạy giáo lý. Sự say mê này phải được thể hiện trong một tổ chức thích hợp và hữu hiệu, vận dụng người, phương tiện, dụng cụ và cả tài nguyên cần thiết. Nếu việc dạy giáo lý được tiến hành đúng đắn trong các giáo hội địa phương, thì mọi việc khác sẽ trôi chảy.

– Linh mục

Là cộng tác viên trực tiếp của Đức Giám mục. Hội Thánh mong ước các linh mục không bỏ sót việc nào cần thiết cho một công cuộc dạy giáo lý có tổ chức và định hướng đúng đắn. Tất cả những người có đức tin đều có quyền học giáo lý. Tất cả các chủ chăn đều có bổn phận lo liệu việc ấy. Đức Giáo Hoàng nói : “Cha khẩn khoản nài xin các con đừng để vì một sự thiếu nhiệt thành nào, do một thiên kiến bất lợi nào mà các tín hữu không được học giáo lý. Đừng để ai có thể nói rằng : Các trẻ nhỏ đòi bánh mà không ai chia cho chúng!”

– Tu sĩ nam nữ

Qua dòng lịch sử, các tu sĩ nam nữ đã rất tận tụy trong hoạt động dạy giáo lý của Hội Thánh. Đức Giáo Hoàng nói: “Cha khuyên các con hãy dọn mình càng kỹ lưỡng càng tốt cho nhiệm vụ dạy giáo lý. Tuỳ theo ơn gọi khác nhau của dòng hay tùy theo sứ mệnh giao phó cho các con, đi đâu các con cũng hãy đem theo mối quan tâm ấy. Chớ gì các cộng đoàn dành tối đa khả năng và nghị lực vào công cuộc dạy giáo lý!”

– Giáo dân

Những người có mặt ở khắp nơi đang tận tụy trong việc giáo dục đạo giáo cho nhiều thế hệ. Hoạt động này tuy khiêm tốn và kín đáo, nhưng nhiệt thành, hăng hái và quảng đại, là một hình thức tuyệt vời của tông đồ giáo dân, đặc biệt quan trọng ở những nơi mà vì nhiều lý do khác nhau, các trẻ nhỏ và thanh niên không được huấn luyện về đạo giáo một cách xứng hợp trong gia đình chúng. Đức Giáo Hoàng nói rằng : “Cha khuyến khích các con luôn tiếp tục cộng tác vào đời sống của Hội Thánh. Cha ước mong nhiều người khác thay phiên tiếp tục đi con đường ấy và Cha cầu chúc con số họ đông hơn nữa để phục vụ cho công cuộc truyền giáo”.

Nói tóm lại, nhờ Bí tích Rửa tội và Thêm sức, giáo lý viên trở thành môn đệ của Đức Kitô. Họ được mời gọi làm tông đồ qua việc dạy giáo lý nhằm mở rộng Nước Chúa. Ơn gọi này phát xuất từ lời mời gọi đặc biệt của Chúa Giêsu (Mt 4,19). Để chu toàn ơn gọi này, giáo lý viên phải gắn bó mật thiết với Ngài bằng tinh thần “từ bỏ mình, vác thập giá hằng ngày” (Mt 17,24), lắng nghe Lời Chúa và thực thi ý Chúa (Mt 12,50; Lc 8,21). Hơn nữa, giáo lý viên cần phải ý thức rõ ràng trách nhiệm được Hội Thánh nhìn nhận và ủy thác. Trách nhiệm này còn có liên quan đến mọi thành phần dân Chúa mà Đức Giám Mục là người chịu trách nhiệm trước tiên.

Theo Tông Huấn CATECHESI TRADENDAE (Dạy Giáo Lý),  Đức Giáo Hoàng mong ước việc dạy giáo lý được quan tâm đúng mức, được định hướng đúng đắn, được tổ chức chu đáo, biết tận dụng mọi cơ hội và khả năng để lo sao cho mọi người đều được học giáo lý và đạt kết quả mỹ mãn. Còn về phía các giáo lý viên, Ngài mong sao cho họ được chuẩn bị kỹ lưỡng, được đào tạo chắc chắn, biết cộng tác với nhau và nhiệt tình phục vụ Chúa trong mọi người.

Thế nhưng, khung cảnh và môi trường cụ thể như: giáo xứ, gia đình, trường học, các phong trào, hội đoàn và viện giáo lý có liên hệ gì đến giáo lý viên và việc dạy giáo lý? Huấn giáo đã được thực hiện qua các thời đại như thế nào? Là môn đệ của Đức Kitô, giáo lý viên phải làm gì? Đó là những nội dung mà chúng ta sẽ tiếp tục bàn tới.

4. Thầy sai đi và đồng hành.

4.1 Sau khi đã kêu gọi, tuyển chọn, đào tạo và chỉ bảo những lời sau hết (Lc 24,44-49), Thầy Giêsu đã sai các ông đi để tiếp nối công cuộc cứu độ của Người.

– Nơi được sai đến: bắt đầu từ Giêrusalem (Lc 24,47), trong khắp các miền Giuđêa, Samaria, tứ phương thiên hạ (Mc 16,15) và cho đến tận cùng trái đất (Cv 1,8).

– Đối tượng của việc sai đi: Chiên lạc nhà Israel (Mt 10,6), muôn dân (Mt 28,19), mọi loài thụ tạo (Mc 16,15)

– Mục đích nhắm tới: Làm chứng (Cv 1,8), loan báo Tin Mừng (Mc 16,15), làm cho trở thành môn đệ, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền (Mt 28, 19-20), kêu gọi sám hối (Lc 24, 47).

4.2. Thầy Giêsu không bỏ rơi các ông (Ga 14, 18.20), nhưng luôn hiện diện và đồng hành với các ông: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Người hiện diện qua nhiều cách, đặc biệt:

– Qua Chúa Thánh Thần: “Nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em. Người sẽ dẫn anh em đến sự thật toàn ven.” (Ga 16,7.13)

– Qua “Lời Chúa vẫn tồn tại đến muôn thuở muôn đời. Đó chính là Lời đã được loan báo cho anh em như một Tin Mừng” (1Pet 1,25), Lời đem lại sự sống đời đời. (Ga 7, 68), là ngọn đèn soi, là ánh sáng chỉ đường (Tv 119,105). “Lời Chúa còn có sức mạnh và quyền năng có thể nâng đỡ và tăng cường Hội Thánh, ban sức mạnh đức tin, là lương thực linh hồn, nguồn sống thiêng liêng, tinh tuyền và trường cửu cho con cái Hội Thánh” (DV 21) (GLCG số 131)

– Qua các Bí Tích, nhất là Bí Tích Thánh Thể, là nguồn mạch và tột đỉnh của đời sống Kitô hữu (LG 11), chứa đựng tất cả của cải thiêng liêng của Hội Thánh, đó chính là Chúa Kitô, Người là mầu nhiệm Phục Sinh của chúng ta (PO 5)

– Qua Giáo Hội: “Trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16,18)

Là Kitô hữu, mỗi người chúng ta đều có cùng một ơn gọi làm giáo lý viên mà Thầy Giêsu đã uỷ thác: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.” Ơn gọi này không những bắt nguồn từ Bí Tích Thánh Tẩy và Bí Tích Thêm Sức, mà còn do một lời mời gọi đặc biệt của Chúa Thánh Thần, một đặc sủng được Giáo Hội công nhận. Chính vì thế, mỗi Kitô hữu cần ý thức sâu xa về ơn gọi của mình, luôn biết vun trồng ơn gọi ấy và nhất là theo gương THẦY GIÊSU DUY NHẤT, ĐẤNG ĐÃ GIẢNG DẠY VÀ CHỮA LÀNH, ĐẤNG ĐÃ KÊU GỌI, TUYỂN CHỌN VÀ ĐÀO TẠO MÔN ĐỆ, ĐẤNG ĐÃ SAI ĐI VÀ ĐỒNG HÀNH để chu toàn ơn gọi ấy theo như lòng Chúa và Hội Thánh mong ước.

Lm. Vinh-sơn Nguyễn Văn Thanh

Nguồn : http://www.gplongxuyen.net/tapsan/102008/ktgly1008.htm

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: