BAN GIÁO LÝ GIÁO TỈNH SÀIGÒN VÀ GIÁO TRÌNH ĐÀO TẠO GIÁO LÝ VIÊN

Chiều ngày 14/12/2010, Ban Giáo lý giáo tỉnh Sàigòn đã có buổi họp thường kỳ tại Trung tâm Mục vụ Tổng giáo phận Tp. HCM.

Trong phiên họp lần này, các linh mục Trưởng ban Giáo lý của 10 giáo phận cùng với hai linh mục chuyên viên là Cha Phanxicô X. Nguyễn Hai Tính và Cha Phêrô Hoàng Đình Thành đã trao đổi về Giáo trình đào tạo giáo lý viên với hai môn căn bản: Tín lý và Luân lý.

Mặc dù nội dung Tín lý và Luân lý Kitô giáo truyền giảng cho giáo lý viên không là những gì khác ngoài những điều đã được Giáo Hội tuyên tín và hướng dẫn, nhưng với đối tượng là “Người giáo lý viên – trong xã hội Việt Nam – ngày nay”, ban Giáo lý cần phải giúp học TIN và SỐNG đúng như Chúa muốn và Giáo Hội chỉ dạy, để không còn là “nghiệp dư” mặc dù “thiện nguyện”.

Bàn về Tín lý, cha Phanxicô X. Tính đề nghị một hành trình “khám phá lại lòng tin” với những đề tài then chốt của thần học tín lý như Đức tin, Mạc khải, Ba Ngôi, Giáo hội và Cánh chung. Vì là hành trình khám phá đức tin, nên mỗi đề tài phải được trình bày khởi đi từ kinh nghiệm thực tế của học viên và giúp họ đón nhận mạc khải của Thiên Chúa. Các cha đề nghị sử dụng những từ ngữ đơn sơ hơn là những thuật ngữ chuyên môn để giúp giáo lý viên dễ dàng lãnh hội chân lý chứ không cảm thấy quá xa lạ hay bí nhiệm. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng giáo lý viên cần được trang bị và làm quen với những lối diễn tả các chân lý đức tin bằng những thuật ngữ chuyên môn, nhờ đó có được sự chuẩn xác và rõ ràng trong nhận thức về những điều cốt yếu mà Giáo Hội dạy cũng như có đủ ngôn ngữ để diễn tả đức tin của mình trong sự hiệp thông với Giáo Hội.

Về huấn luyện luân lý cho giáo lý viên, cha Phêrô Thành khẳng định: mục đích chính yếu là giúp giáo lý viên “bước theo Chúa Giêsu”. Vì thế tài liệu huấn luyện bô môn này không những phải trình bày một nội dung đầy đủ về Luân lý Kitô giáo và có hệ thống, mà còn phải gần gũi với đối tượng và giúp họ sống tự do của người con cái Thiên Chúa. Trong ý hướng ấy, giáo trình không gồm những đề tài cần triển khai nhưng gồm những lời mời gọi học viên sống với và sống như Chúa Giêsu. Giáo trình nên khởi đầu với phẩm giá của con người – được tạo dựng nên giống hình ảnh của Thiên Chúa – và kết thúc với việc mở ra cho truyền giáo, nghĩa là mở ra với anh chị em đồng loại trong xã hội. Tóm lại, nhà đào tạo phải cân nhắc trong việc chọn nội dung và phương pháp giảng dạy thích hợp. Theo cha Phêrô, giáo trình đào tạo luân lý cho giáo lý viên sẽ không hoàn toàn giống giáo trình đào tạo cho linh mục và tu sĩ, bởi họ phải sống và nên thánh ở giữa đời, với những bổn phận và hoàn cảnh khác nhau.

Nhóm Thư ký ban Giáo lý Giáo tỉnh Sàigòn
Nguon: http://giaolyductin.org/newsview/vn/130/DAO-TAO-GIAO-LY-VIEN-VE-TIN-LY-VA-LUAN-LY.html

Advertisements

GIỚI THIỆU LỘ TRÌNH ĐÀO TẠO GIÁO LÝ VIÊN CỦA GIÁO PHẬN ROMA

ĐÀO TẠO GIÁO LÝ VIÊN

Trong bối cảnh xã hội và văn hóa hiện đại cũng như trước tình hình nhiều gia đình không có khả năng bảo đảm việc huấn luyện kitô giáo cho con em họ, nhiều cộng đoàn trong Giáo Hội bắt đầu từ những giáo xứ, đảm nhận toàn bộ lộ trình huấn luyện, bắt đầu từ những năm tuổi thơ cho đến tuổi trẻ, tuổi trưởng thành và tuổi già.

Người ta nói đến việc huấn luyện những Kitô hữu đích thực và điều này không thể thực hiện được nếu như không có sự tham gia của những huấn luyện viên cũng như những người được huấn luyện.

(Thư của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhân dịp bế mạc Năm Đại Thánh 2000, số 5).

1. HUẤN LUYỆN LÀ GÌ?

Huấn luyện là tạo cơ hội giúp giảng viên giáo lý trưởng thành trong đức tin, là khơi dậy nơi giảng viên giáo lý một đức tin sống động và mạnh mẽ trong Đức Kitô, là huấn luyện chính con người (being) của họ, tương ứng với ơn gọi đặc thù của họ là phục vụ (doing), trước khi bàn tới việc “dạy giáo lý” (teaching).

Công cuộc huấn luyện hướng tới việc khơi lên nơi người giảng viên giáo lý một niềm khát khao nên thánh và nâng đỡ họ sống theo Chúa Thánh Thần, cùng với họ nối kết đức tin và cuộc sống, đức tin và văn hóa, đồng thời khơi dậy khả năng nhận ra niềm mong đợi của con người qua những dấu chỉ thời đại.

1.HUẤN LUYỆN NHỮNG GÌ?
Huấn luyện không những nội dung đức tin, mà còn giáo dục và phát triển nơi giảng viên giáo lý những thái độ của một người tín hữu: không ngừng củng cố và đào sâu đức tin, phục vụ Giáo hội cách quảng đại, dấn thân truyền giáo để xây dựng thế giới thành “trời mới, đất mới”.

1.HUẤN LUYỆN TRỞ THÀNH NHỮNG NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO?
Được Thánh Thần hướng dẫn, giảng viên giáo lý mạnh dạn bước theo Chúa Kitô, trở nên chứng nhân sống động của Ngài, nên sứ giả loan báo Tin Mừng nhờ chia sẻ hồng ân đức tin đã lãnh nhận, một đức tin luôn được củng cố nhờ biết xẻ chia.

Để được như thế, kế hoạch huấn luyện phải được thực hiện như lộ trình lớn lên của người môn đệ trong cộng đoàn kitô hữu, hướng tới sự trưởng thành nhân bản và đức tin, biết đón nhận lời mời gọi phục vụ và trách nhiệm của người tín hữu là chia sẻ cho người khác chính kinh nghiệm đức tin và tìm kiếm chân lý của mình, để chính họ cũng được lớn lên và trưởng thành trong đức tin.

2. HUẤN LUYỆN Ở ĐÂU?

Công cuộc huấn luyện bắt đầu từ giáo hội địa phương, nơi mà giảng viên giáo lý bước vào hành trình đức tin và trưởng thành trong ơn gọi phục vụ của mình. Giáo hội địa phương hay giáo xứ là nơi giảng viên giáo lý sống và lớn lên trong đức tin, được mời gọi làm chứng và loan báo Tin Mừng trong tư cách một giảng viên giáo lý.

Giáo hạt là nơimà giảng viên giáo lý trải nghiệm sự cộng tác giữa các giáo xứ, đối chiếu những kinh nghiệm của mình với những giảng viên khác, mở ra cho việc đào sâu nội dung đức tin một cách có tổ chức và hệ thống.

Giáo phậnlà nơithuận tiện đểgiảng viên giáo lý nhận thức rằng Giám mục là người chịu trách nhiệm cộng đoàn và thầy dạy đức tin, điều hành và hướng dẫn tất cả các hoạt động giáo lý của giáo phận.

3. HUẤN LUYỆN THEO LỘ TRÌNH NÀO?

Việc huấn luyện được tiến hành trong bầu khí hiệp thông giáo hội mới có thể phát triển việc làm chứng đức tin cách đích thực và hiệu quả, vì sự hiệp thông này là động lực cần thiết giúp các giảng viên giáo lý đảm nhận những nhu cầu và thách đố của công cuộc “tân phúc âm hóa”, hội nhập và đối thoại với các nền văn hóa, với các tôn giáo cũng như với những anh chị em không tôn giáo.

Lộ trình huấn luyện nhằm đào sâu một cách hệ thống và có tổ chức nội dung đức tin và nâng cao khả năng giảng dạy giáo lý nhờ nắm vững mục đích và nhiệm vụ của việc dạy giáo lý cũng như phương pháp giáo dục chủ động, nhờ gắn liền đức tin với cuộc sống và văn hóa cũng như chú ý đến tiến trình phát triển tâm lý và khả năng hướng dẫn người thụ giáo trong hành trình giáo lý thường xuyên.

Lộ trình huấn luyện không chỉ giúp giảng viên giáo lý nhận thức đầy đủ về việc dạy giáo lý, mà còn giúp họ có khả năng đồng hành với những đối tượng khác nhau vươn tới một đức tin trưởng thành. Trong khi hướng dẫn, huấn luyện viên phải chú ý đến việc phát triển khả năng đặc thù của giảng viên giáo lý trong môi trường mục vụ của Giáo hội, hướng họ đến việc truyền giáo nhờ khơi dậy niềm xác tín mỗi giảng viên giáo lý là một nhà truyền giáo giống như Giáo hội là truyền giáo.

4. HUẤN LUYỆN THEO CÁC CẤP NÀO?

Với mục đích như thế, lộ trình huấn luyện trước hết nhắm tới con người giảng viên giáo lý viên, kế đến là đời sống và sứ vụ của họ, sau hết là khả năng và kỹ năng thông truyền nội dung đức tin, để họ có thể phục vụ Giáo hội cách nhiệt tình và hiệu quả.

Kế hoạch huấn luyện được sắp xếp theo các cấp khác nhau tương ứng với nhu cầu huấn luyện giảng viên giáo lý và nhu cầu của môi trường.

4.1. Cấp một

Việc huấn luyện cơ sở được thực hiện tại giáo xứ nhằm huấn luyện con người giáo lý viên, giúp họ trưởng thành trong đời sống đức tin và làm chứng cho niềm tin. Giáo xứ được ủy thác để khơi dậy nơi giảng viên giáo lý và giúp họ phân định ơn gọi phục vụ, đồng thời tạo môi trường thuận tiện để họ lớn lên và trưởng thành trong ơn gọi ấy. Tại giáo xứ, giảng viên giáo lý phải được đồng hành trong một hành trình giáo dục tiệm tiến hướng đến việc phục vụ; nhờ đó, họ đảm nhận trách nhiệm của mình trong cộng đoàn kitô hữu.

4.2. Cấp hai

Việc huấn luyện căn bản được thực hiện tại giáo hạt nhằm giúp cho các giảng viên đã được huấn luyện tại giáo xứ trở thành những thầy dạy và những nhà giáo dục đức tin. Chương trình huấn luyện cấp II kéo dài trong 3 năm, gồm lộ trình huấn luyện tổng quát trong 2 năm và lộ trình huấn luyện chuyên biệt trong 1 năm. Việc huấn luyện căn bản được thực hiện theo chỉ dẫn của Giáo hội Ý trong hai tài liệu “Canh tân Giáo lý” và “Kế hoạch Giáo lý”.

Lộ trình huấn luyện tổng quát trang bị cho giảng viên giáo lý kiến thức căn bản về nhân học, thánh kinh, kitô học, giáo hội học, linh đạo, luân lý và sư phạm giáo lý. Lộ trình huấn luyện chuyên biệt trang bị cho giảng viên giáo lý kiến thức về phụng vụ và bí tích, lộ trình đức tin và tâm lý các lứa tuổi, những môi trường và hoàn cảnh giáo dục khác nhau. Cả hai giúp giảng viên giáo lý có khả năng đồng hành với người thụ giáo trong toàn bộ hành trình giáo lý thường xuyên.

4.3. Cấp ba

Lộ trình huấn luyện cấp ba có thể thực hiện ở giáo phận, giáo hạt hay giáo xứ, có mục đích giúp giảng viên giáo lý cập nhật kiến thức, canh tân nhiệt tình, phương pháp và cách diễn tả đức tin. Lộ trình bao gồm những khóa ngắn hạn liên quan đến những vấn đề và những nhu cầu của các giảng viên đang dấn thân trong việc dạy giáo lý; những khóa học này có thể được thực hiện để đào sâu nội dung thánh kinh, thần học, giáo lý hay phương pháp dạy giáo lý. Những khóa học của cấp ba không thay thế và loại trừ các khóa huấn luyện ở các cấp khác.

5. HUẤN LUYỆN NHỮNG CHIỀU KÍCH NÀO?

Các lộ trình huấn luyện bổ túc và phụ thuộc lẫn nhau. Mỗi lộ trình có những chiều kích sau:

5.1. Chiều kích cuộc sống liên quan đến căn tính của giảng viên giáo lý, bối cảnh xã hội và văn hóa mà họ sống cũng như đặc tính giáo hội và giáo phận mà họ phục vụ. Cụ thể, chiều kích này liên quan đến các lãnh vực văn hóa nhân học và xã hội trong năm thứ nhất của cấp hai và linh đạo trong năm thứ ba. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc huấn luyện giảng viên giáo lý trong hành trình ơn gọi thánh tẩy và thêm sức, trong việc xây dựng giáo hội và thánh hóa thế giới.

5.2. Chiều kích thánh kinh -thần học liên quan đếnviệcđào sâu nội dung đức tin một cách hệ thống và có tổ chức trong viễn tượng phục vụ giáo hội của giảng viên giáo lý.

•Thánh kinh: hiểu biết Thánh Kinh trong tương quan với hoạt động giáo lý.
•Kitô học, Giáo hội học, Bí tích: hiểu biết Đức Kitô, Giáo hội và các Bí tích để sống và chia sẻ với những người khác, nâng đỡ đời sống và sự dấn thân của giảng viên giáo lý.
5.3. Chiều kích phụng vụ và linh đạo: liên quan đến linh đạo kitô giáo đặt nền trên sự chọn lựa bước theo Đức Kitô và làm chứng đức tin, một linh đạo có khả năng hòa nhập đức tin vào cuộc sống.

•Phụng vụ: nổi bật trong “nhiệm cục bí tích” của năm thứ ba xét như “đỉnh cao” và “suối nguồn” của sứ vụ mà giảng viên giáo lý đảm nhận;
•Linh đạo: xuyên suốt trong ba năm nhằm hướng dẫn và nâng đỡ giảng viên giáo lý trong hành trình trưởng thành đức tin của họ, chuyên cần cầu nguyện và học tập dưới tác động của Thánh Thần. Những điều này hướng giảng viên giáo lý đến việc thờ phượng Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý, để cổ võ một chứng tá đích thực của đời sống mới trong Thán Thần.
5.4. Chiều kích giáo dục liên quan đến việc giúp giảng viên giáo lý có được khả năng sư phạm trong sứ mạng phục vụ của Giáo hội.

5.5. Chiều kích phương pháp luận thể hiện trong cả ba năm và trong các lãnh vực liên quan đến các chiều kích tâm lý, xã hội, sư phạm và mục vụ của năm thứ ba; đây là những chiều kích liên quan đến những chuyên môn khác nhau và giúp giảng viên giáo lý có được khả năng tiến hành và hướng dẫn các lộ trình giáo lý khác biệt.

6. HUẤN LUYỆN THEO NHỮNG PHƯƠNG PHÁP NÀO?

Những khóa học khác nhau làm nên lộ trình ở các cấp, mặc dù được phân biệt để triển khai, đều sử dụng phương pháp tiếp cận.

Mỗi khóa học bao gồm những bài học và những bài tập thực hành: những bài học được huấn luyện viên hướng dẫn theo kiểu đối thoại nhằm nối kết hiểu biết và kinh nghiệm. Những bài tập thực hành thường được tiến hành theo nhóm để thẩm tra trực tiếp khả năng lãnh hội của mỗi giảng viên giáo lý.

Mỗi khóa học của lộ trình huấn luyện đều kết thúc bằng một bài kiểm tra hoặc một bài tự luận về những đề tài khác nhau do huấn luyện viên đề nghị. Kết quả các bài kiểm tra đó sẽ được ghi vào trong một cuốn sổ cá nhân của giảng viên giáo lý viên, được người có trách nhiệm của văn phòng giáo lý giáo phận chứng thực ở cuối mỗi năm.

LỘ TRÌNH HUẤN LUYỆN CON NGƯỜI

CẤP MỘT

“Trong viễn tượng nuôi dưỡng một niềm tin sống động và mạnh mẽ nơi Đức Kitô,

thì việc huấn luyện trước hết là huấn luyện con người giáo lý viên, trước khi huấn luyện người đó dạy giáo lý”.

Mons. Cesare Nosiglia 11.2.1997

Lộ trình huấn luyện cấp một được thực hiện tại giáo xứ như lộ trình giáo dục đức tin giúp người tín hữu thể hiện khuynh hướng phục vụ, giúp họ phân định để đón nhận lời mời gọi phục vụ trong các lãnh vực hoạt động mục vụ khác nhau. Chương trình huấn luyện này do giáo xứ tổ chức và được cha xứ hoặc người mà ngài ủy quyền hướng dẫn theo lộ trình hai môn đệ đi Emmau:

“Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ”

1.Suy tư về cuộc sống với những vấn đề văn hóa và xã hội của địa hạt mình đang sống;
2.Trung thành với Thiên Chúa và con người: những đường nét hoạt động mục vụ.
3.Suy nghĩ về đức tin và về Giáo hội.
4.Nhận diện và nhận định về ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông xã hội.
5.Suy nghĩ về Giáo hội: xét như một “tổ chức xã hội” và như một “mầu nhiệm”; xét như một “phẩm trật” và như một “gia đình”.
6.Đặt tất cả mọi sự trong sáng kiến và sự quan phòng của Thiên Chúa: nhận biết sự hiện diện và hành động của Thiên Chúa trong đời sống hằng ngày; chính Người đã kêu gọi và qui tụ chúng ta trong Giáo hội để ở lại với Chúa và được sai đi để phục vụ.
Việc đào sâu này giúp người tín hữu có khả năng đọc những dấu chỉ thời đại trong hoạt động mục vụ và nhận ra các việc Thiên Chúa làm trong lịch sử để giáo dục họ dấn thân phục vụ.

“Người giải thích … tất cả Sách Thánh”

1.Tiếp cận Sách Thánh, chiều kích thánh kinh trong cuộc sống
2.Chúa Giêsu Kitô: Lời nhân loại đợi trông.
◦Kinh Thánh: đường lối ưu tiên gặp gỡ Đức Kitô.
3.Hiếu biết, yêu mến và tôn kính Lời Thiên Chúa và đọc cuộc sống dưới ánh sáng Lời Chúa;
4.Đón nhận Kinh Thánh trong sự vâng phục đức tin, như Giáo Hội đề nghị và giải thích dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần.
◦Chúa Giêsu, Lời chung cuộc của Chúa Cha cho con người.
5.Sự mạc khải viên mãn nơi Đức Kitô;
6.Theo Đức Kitô, con người hoàn hảo, để trở nên người hơn (GS 41);
7.Vươn tới sự toàn vẹn về nhân tính của Đức Kitô để bước vào sự toàn vẹn về thiên tính của Ngài.
◦Cầu nguyện qua việc đón nhận Lời Chúa trong cuộc sống, kinh nguyện kitô hữu. Việc suy tư giúp người tín hữu đào sâu chiều kích cầu nguyện của đời sống kitô hữu.
“Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người”

1.Trong Giáo Hội: được Thiên Chúa kêu gọi để phục vụ tha nhân;
2.Giáo lý viên, chứng nhân, thầy dạy, nhà giáo dục.
◦Trung thành với Lời Chúa và với những đòi hỏi cụ thể của con người
3.Thánh Thần hướng dẫn chúng ta đón nhận và ở lại trong sự thật;
4.Trong Thánh Thần, chúng ta trung thành với chân lý, để là những chứng nhân đích thực của Đức Kitô;
5.Hy tế Thập giá trường tồn dưới những dấu chỉ Thánh thể.
◦Đến với con người trong hoàn cảnh sống của họ và phục vụ tha nhân bằng chính đức ái của Chúa Kitô.
6.Giới răn mới, hồng ân Vượt Qua phải thực hiện trong Thánh Thần.
◦Cầu nguyện và chiêm niệm trợ giúp một sự gắn bó tròn đầy với Đức Kitô.
Những suy tư này giúp người tín hữu tích cực tham gia vào phụng vụ và lãnh nhận các bí tích, đặc biệt với bí tích Thánh Thể, là phương thế hữu hiệu giúp họ mở ra để đón nhận và thực hiện ơn gọi phục vụ giáo hội như một ân ban.

“Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại”

1.Nhà truyền giáo trong một Giáo Hội truyền giáo
2.Đối thoại và tương quan giáo dục.
◦Được Giáo Hội sai đi
3.Những nhà truyền giáo của thời đại trong một Giáo hội có bản chất là truyền giáo.
4.Được sai đi để phục vụ với sự quan tâm đặc biệt dành cho những người rốt hết.
◦Thành viên sống động của cộng đoàn trong tương quan hiệp thông và trung thành với giáo huấn của Giáo hội.
5.Cảm thức hoàn toàn thuộc về cộng đoàn
6.Hoạt động trong sự hiệp nhất với Giáo Hội.
Việc đào sâu chiều kích truyền giáo này giúp người tín hữu mở ra và cộng tác với Chúa Thánh Thần trong sự hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội cùng với Đức Trinh Nữ Maria.

HUẤN LUYỆN GIÁO LÝ VIÊN

CẤP II

“Mọi việc phục vụ đều diễn tả lòng trung thành với lời mời gọi của Chúa trong bí tích Thánh Tẩy và Thêm sức. Mọi người đã được thanh tẩy đều là giáo lý viên, mà giáo lý viên là một con người, một kitô hữu, một chứng nhân, một thầy dạy, một nhà giáo dục”.

(Rinnovamento della Catechesi/Canh tân giáo lý, ch. X).

LỘ TRÌNH HUẤN LUYỆN TỔNG QUÁT

Năm I (27 buổi, mỗi thứ Hai, từ 9g30 đến 12g00)

Con người có khả năng đón nhận Thiên Chúa. Con người nào? 4 buổi

1.Hình ảnh con người trong Thánh Kinh so với những hình ảnh khác về con người gắn liền với nền văn hóa phát triển.
2.Những người con trong Người Con hay kinh nghiệm tôn giáo về con người và về tín hữu.
3.Con người, con đường ưu tiên của Giáo Hội (GS 22; RH 13-14)
4.Con người, hình ảnh Thiên Chúa được mạc khải nơi Đức Kitô.
5.Mầu nhiệm con người dẫn đến mầu nhiệm Thiên Chúa.
Nhận biết và thấu hiểu thế giới chúng ta đang sống(GS 4)

1.Phác họa và giải mã những định hình văn hóa trong thời đại chúng ta (đặc biệt từ những năm 60 đến nay)
2.Làm nổi bật khái niệm về con người theo văn hóa đương đại.
3.Dạy giáo lý là phục vụ con người trong lãnh vực giáo dục.
“Chuyên cần lắng nghe lời Chúa” 1 – 6 buổi

1.Thiên Chúa muốn mạc khải chính mình và tỏ bày mầu nhiệm thánh ý Ngài (Ep 1,9).
Thiên Chúa mạc khải trong lịch sử

•Tôn giáo và mạc khải;
•Thiên Chúa tỏ mình qua các biến cố và qua lời;
•Mạc Khải diễn ra trong lịch sử và hoàn tất nơi Đức Kitô.
Loan truyền Mạc Khải của Thiên Chúa

•Tương quan giữa Thánh Kinh,Thánh truyền và Huấn quyền;
•Truyền thống tông đồ.
Sách Thánh

•Linh hứng;
•Một cuốn sách duy nhất trong sự thống nhất giữa Cựu và Tân Ước;
•Tính lịch sử của Đức Giêsu.
Thánh Kinh trong đời sống Giáo Hội

•Huấn luyện về thư quy;
•Những công thức đức tin.
Kinh Thánh, việc dạy giáo lý và sách giáo lý

Chúa Giêsu Kitô, sự mạc khải viên mãn (5 buổi)

1.Chúa Giêsu Kitô Đấng Cứu độ duy nhất của con người.
2.Chiều kích quy kitô trong giáo lý;
3.Kitô học trong chương trình giáo lý Ý;
4.Hoạt động và sứ điệp của Đức Giêsu thành Nadaret;
5.Chúa Giêsu trao ban chính mình trên Thập Giá và qua sự phục sinh;
6.Đức Kitô mạc khải Chúa Cha và ban Thánh Thần.
Đáp lời Chúa Cha trong Đức Kitô và Thánh Thần (1 – 5 buổi)

•Con người mới trong Đức Kitô.
•Theo Chúa Kitô bằng một đời sống mới trong Thánh Thần, đến với Chúa Cha; ơn gọi và sự đáp trả của người kitô hữu.
•Lề luật mới trong Thánh Thần. Tự do tin mừng và tự do kitô hữu; các mối phúc.
•Nguyên tắc luân lý và trách nhiệm của con người; lương tâm kitô giáo.
1.Dạy giáo lý trong đời sống Giáo Hội (1 – 7 buổi)
◦Ơn gọi để hiện hữu và phục vụ
◦Là giáo lý viên
◦Giáo lý viên trong cộng đoàn Kitô hữu và việc huấn luyện đời sống thiêng liêng cũng như làm tông đồ.
◦Niên biểu lịch sử giáo lý qua các thời đại văn hóa khác nhau.
2.Giáo lý trong chương trình mục vụ của giáo phận
◦Các sách giáo lý trong hoạt động mục vụ;
◦Mục đích giáo dục của hoạt động mục vụ;
◦Phối hợp các hoạt động giáo lý.
3.Những nguyên tắc dạy giáo lý
◦Trung thành với Thiên Chúa và với con người
◦Lưu tâm đến chủ thể
◦Phương pháp và những cách thức
◦Giáo lý cho đời sống kitô hữu và những lộ trình khác nhau cho việc huấn luyện thường xuyên.
___________________

Năm II (27 buổi, mỗi thứ Ba, từ 9g30 đến 12g00)

Chuyên cần lắng nghe lời Chúa (2 – 8 buổi)

1.Làm thế nào giải thích Kinh Thánh, đọc bản văn và những tiêu chuẩn hiện tại hóa.
2.Chiều kích thánh kinh trong giáo lý.
3.Đào sâu kinh thánh là lưu tâm đến việc tiếp cận thống nhất của Kinh Thánh trong Giáo lý.
“Thiên Chúa hướng dẫn dân Người, Giáo Hội” (6 buổi)

1.Hội Thánh dân Thiên Chúa và Giáo hội hiệp thông
◦Hiện tại hóa mục vụ liên quan đến bản chất Giáo Hội;
2.Giáo hội học và giáo lý trong chương trình giáo lý Ý
◦Đào sâu giáo hội học là lưu tâm đến việc đối thoại đại kết và đối thoại liên tôn.
◦Giáo hội trong các sách Giáo lý.
Đáp lời Chúa Cha trong Đức Kitô và ThánhThần (2 – 5 buổi)

•Kinh nghiệm kitô hữu;
•Đón nhận và tôn trọng sự sống;
•Phái tính, hôn nhân và đời sống thánh hiến;
•Gia đình và công việc;
•Dấn thân xã hội và chính trị.
Dạy giáo lý trong đời sống Giáo Hội (2 – 8 buổi)

•Những yếu tố nền tảng của huấn giáo
•Loan báo Tin Mừng và Giáo lý;
•Những tiêu chuẩn và những yếu tố để trình bày sứ điệp Kitô;
•Các nguồn của Giáo lý;
•Các chủ thể hay đối tượng của giáo lý.
_________________

LỘ TRÌNH HUẤN LUYỆN CHUYÊN BIỆT

Năm III (27 buổi, mỗi thứ Tư, từ 9g30 đến 12g00)

Phần I – Tổng quát (16 buổi)

Mầu nhiệm Vượt qua trong thời Giáo Hội (5 buổi)

1.Phụng vụ: công trình của Ba Ngôi.
2.Nhiệm cục bí tích.
3.Các đối tượng, nơi chốn, cách thức và thời gian cử hành
4.Phụng vụ và giáo lý
Mầu nhiệm Vượt qua trong các bí tích của Hội Thánh (5 buổi)

1.Trở nên người kitô hữu, khai tâm kitô giáo
2.Các bí tích khai tâm kitô giáo
3.Các bí tích chữa lành
4.Các bí tích phục vụ cộng đoàn
Lộ trình đức tin cho đời sống kitô hữu (6 buổi)

1.Chương trình giáo lý Ý
2.Thủ bản giáo lý và việc lên chương trình giáo lý
3.Những lộ trình khác biệt: làm thế nào để tổ chức và thực hiện một lộ trình đức tin.
Phần tổng quát đặt nền cho phần chuyên biệt.

Phần II – Chuyên biệt (11 buổi)

•Nét đặc thù của các lứa tuổi, hoàn cảnh và môi trường sống (11 buổi).
•Hiểu biết các chủ thể hay đối tượng, chiều kích tâm lý – xã hội -sư phạm;
•Chiều kích mục vụ và phương pháp luận được đào sâu trong phần thực hiện những lộ trình khác nhau.
Nhờ sử dụng những thủ bản giáo lý và tài liệu hỗ trợ, giáo lý viên có khả năng thực hiện những lộ trình trưởng thành đức tin cho các đối tượng giáo lý mình phục vụ.

Phần huấn luyện chuyên biệt bao gồm việc hiểu biết đối tượng giáo lý và đào sâu chiều kích tâm lý-xã hội-sư phạm, mục vụ cũng như phương pháp luận.

•Nhằm mục đích giúp cho giảng viên giáo lý có khả năng chuẩn bị trước những lộ trình trưởng thành đức tin, khởi đi từ những thủ bản giáo lý dành cho các lứa tuổi khác nhau;
•Phần thứ hai của lộ trình với những đề nghị cho các đối tượng khác nhau, ưu tiên phương pháp thực nghiệm giáo lý (experience of laboratory).
Tất cả những buổi gặp gỡ trong chương trình huấn luyện đều khởi sự với giây phút cầu nguyện và tương hợp với các mùa phụng vụ để tạo cơ hội cho giảng viên giáo lý sống đức tin.

Phần hiểu biết chủ thể hay đối tượng của giáo lý được trình bày liên tục qua các đề tài:

•Giáo lý khai tâm kitô giáo
•Cho người lớn (Dự tòng)
•Cho trẻ em
•Giáo lý cho người trẻ
•Thiếu niên, 15-17 tuổi
•Giới trẻ, 18-25 tuổi
•Giáo lý người lớn
•Giáo lý gia đình
•Giáo lý cho người có hoàn cảnh đặc biệt (disable).

HUẤN LUYỆN THƯỜNG XUYÊN – THƯỜNG HUẤN

Cấp III

Lộ trình huấn luyện thường xuyên giúp giảng viên giáo lý cập nhật kiến thức, bồi dưỡng đời sống thiêng liêng và nghiệp vụ chuyên môn. Lộ trình gồm những khóa ngắn hạn được ấn định theo yêu cầu địa phương.

TRUNG TÂM

HUẤN LUYỆN GIÁO LÝ VIÊN

CỦA GIÁO HẠT

Trung tâm Huấn luyện phục vụ cho những người đã được huấn luyện cơ sở tại giáo xứ, những người ước muốn bước vào hành trình huấn luyện có tổ chức và hệ thống để trở thành những giảng viên giáo lý.

Kiên trì tiếp cận với thực tế địa phương, Trung Tâm đảm nhận việc huấn luyện căn bản và cập nhật cho giảng viên giáo lý theo yêu cầu của giáo hạt hoặc giáo xứ, qua những lộ trình huấn luyện tổng quát và chuyên biệt gắn với kế hoạch mục vụ của giáo phận.

Ban giảng huấn

Trung tâm Huấn luyện của giáo hạt được linh hoạt bởi một ban giảng huấn bao gồm giám học, điều phối viên, các giảng viên và thư ký. Các thành viên của Trung Tâm làm việc trong sự đồng thuận và liên kết thường xuyên với Trung tâm Huấn luyện của Giáo phận. Họ được tuyển chọn giữa những người đang sống và làm việc trong các giáo hạt.

Giám học

Giám học là người điều phối các hoạt động mục vụ của giáo hạt, thúc đẩy việc huấn luyện giảng viên giáo lý, bổ nhiệm các thành viên của Trung Tâm và kiểm tra việc thực hiện các lộ trình huấn luyện của Trung Tâm.

Điều phối viên

Điều phối viên có nhiệm vụ điều phối các hoạt động của Trung Tâm, được giám học bổ nhiệm, nối kết Trung Tâm và Giáo Phận, thực hiện mục đích và yêu cầu giáo dục và mục vụ mà Trung Tâm đề ra.

Điều phối viên được tuyển chọn từ những người hoạt động mục vụ tại địa phương, được đào luyện từ các khoa thần học, mục vụ, giáo lý hay từ các khoa giáo dục tôn giáo, hoặc đã hoàn tất hành trình huấn luyện dành cho những người hoạt động mục vụ. Điều phối viên là gạch nối giữa Giám học và Hội đồng Mục vụ của Giáo hạt.

Điều phối viên thi hành các phận vụ sau:

•Cùng với Hội đồng Mục vụ của giáo hạt chọn các giảng viên: Ước mong các giảng viên (linh mục, tu sĩ và giáo dân) được chọn là những người trong giáo hạt để hành trình huấn luyện gắn với môi trường mục vụ. Sự chọn lựa cần được giới thiệu ngay với Trung tâm Huấn luyện của giáo phận;
•Kiểm tra xem nội dung và hình thức trình bày của các giảng khóa có đồng nhất và dễ hiểu đối với những người tham gia khóa học không;
•Lên chương trình thực tập và những ngày tĩnh tâm;
•Điều khiển những buổi tiếp xúc với giáo phận về việc thống nhất kế hoạch huấn luyện sao cho phù hợp với những đòi hỏi chung của kế hoạch mục vụ giáo phận;
•Cổ võ sự tương tác sống động và thoải mái giữa các tham dự viên với các lộ trình huấn luyện.
•Linh hoạt cầu nguyện cộng đoàn vào đầu giờ học và trong các buổi tĩnh nguyện vào những thời điểm chính của phụng vụ như mùa Vọng, mùa Chay, Phục sinh, Hiện xuống, hay vào thời điểm khai mạc và bế mạc các lộ trình huấn luyện.
Thư ký

Thư ký là thành viên của ban giảng huấn, có bổn phận điều phối kỹ thuật và tổ chức. Vào các tháng 5 và 6, thúc đẩy việc ghi danh các khóa học, gửi thông báo và các mẫu đơn đến các cha xứ. Việc ghi danh kéo dài đến cuối tháng 6. Phối hợp với các giảng viên và điều phối viên để soạn thảo lịch giảng dạy và quán xuyến công việc của văn phòng thư ký.

Các giảng viên

Các giảng viên cần nắm vững phương pháp giảng dạy “thực nghiệm”: nghiên cứu, đối thoại, sinh hoạt nhóm xen kẽ những khoảnh khắc cầu nguyện và trao đổi kinh nghiệm nhằm khơi dậy một sự tham gia tích cực của người thụ giáo.

Các giảng viên còn phải nắm vững hệ thống huấn luyện và thực hiện trong bầu khí hiệp thông giáo hội để có được những giải pháp cụ thể cho mọi hoàn cảnh và môi trường sống, cũng như cho mọi lứa tuổi.

Các giảng viên cần đối chiếu với các văn kiện chính thức về giáo huấn của Giáo Hội, những văn kiện của Hội đồng Giám mục cũng như của Giáo phận.

Các giảng viên do điều phối viên của Trung Tâm giáo hạt tuyển chọn với sự chấp thuận của Trung tâm Huấn luyện giáo phận. Các giảng viên gặp nhau theo từng thời điểm để lên kế hoạch và kiểm tra hoạt động huấn luyện của Trung Tâm.

Các giảng viên không chỉ quan tâm đến nội dung giảng dạy mà còn phải quan tâm đến chủ thể hay đối tượng, không chỉ giản lược vào việc trình bày các đề tài về thánh kinh, thần học, sư phạm, mà còn phải nghiên cứu theo những phương pháp đặc thù nhắm đến thực hành giáo lý.

Cần dự kiến những buổi gặp gỡ hàng năm giữa ban giảng huấn và đại diện giám mục để điều phối các hoạt động huấn luyện.

Những chỉ dẫn chung

•Chương trình “huấn luyện căn bản” dành cho GLV được đề nghị trong một lộ trình 3 năm và thực hiện tại giáo hạt. Lộ trình huấn luyện căn bản hàng năm được thực hiện trong 80 tiết học, được phân chia theo các giảng khóa khác nhau, và theo kế hoạch của giáo phận.
•Hai năm đầu trong lộ trình căn bản được phân biệt chứ không lặp lại.
•Mỗi giáo hạt ấn định ngày giờ thực hiện các khóa học theo tình hình và nhu cầu địa phương, lưu ý mỗi tiết học kéo dài tối thiểu 45 phút.
•Học viên đến ghi danh theo các lộ trình huấn luyện phải tròn 18 tuổi.
•Chỉ được phép thi cuối các giảng khóa nếu hiện diện đủ 2/3 các buổi học.
•Trung tâm Huấn luyện tự điều hòa các khoản đóng góp của các học viên và sự cộng tác của các cộng đoàn, giáo xứ.

(SOẠN THEO TÀI LIỆU CỦA VĂN PHÒNG GIÁO LÝ VÀ PHỤC VỤ CHO NGƯỜI DỰ TÒNG GIÁO PHẬN RÔMA 2001)
Nguon: http://giaolyductin.org/newsview/vn/160/GIOI-THIEU-LO-TRINH–DAO-TAO-GIAO-LY-VIEN–CUA-GIAO-PHAN-ROMA.html

GIÁO LÝ VÀ NỖ LỰC TÌM LẠI CĂN TÍNH

A. HÀNH TRÌNH TÌM LẠI CĂN TÍNH

Trong suốt chiều dài lịch sử, việc dạy giáo lý có những phương thức khác nhau. Vì thế, người ta thường hỏi đâu là bản chất đích thực và đặc điểm của nó. Câu hỏi trở nên cấp thiết khi công đồng Vatican II thực hiện một bước ngoặt quyết định làm thay đổi truyền thống trong việc dạy giáo lý của Giáo Hội. Để tìm được câu trả lời, thiết tưởng chúng ta phải nhìn lại một cách hệ thống chiều dài lịch sử của việc dạy giáo lý.

1. Trong thời hiện đại: việc dạy giáo lý giản lược vào việc “dạy thủ bản giáo lý”

Toàn bộ thời hiện đại, từ thế kỷ XVI cho đến giữa thế kỷ XX, chú tâm vào việc dạy thủ bản hay toát yếu giáo lý Kitô giáo (compendium), thủ bản trở thành công cụ ưu việt của việc dạy giáo lý.

Suốt thời hiện đại, đã có những ghi nhận về việc sử dụng và tầm quan trọng của những sách giáo lý truyền thống từ thời công đồng Trentô đến sách giáo lý của ĐTC Piô X, trong số đó, có những sách rất phổ biến như Canisio, Bellarmino, Astete, Ripalda, Deharbe, vv. Đã từ lâu việc dạy giáo lý được hiểu như việc ghi nhớ, giải thích và áp dụng vào cuộc sống những bản tóm tắt hay toát yếu giáo lý Kitô giáo này; chúng được biên soạn cách rõ ràng, cô đọng, dưới hình thức hỏi thưa, bao gồm những chân lý đức tin cần thiết cho ơn cứu độ, những giới luật hoặc nguyên tắc thực hành và những phương tiện hay công cụ siêu việt như ân sủng và bí tích.

Suy tư về giáo lý nghiêng về phương tiện ưu việt này và về mô hình sư phạm nghịch lại mô hình mục vụ. Bên cạnh những ưu điểm và lợi ích không thể phủ nhận, có thể đưa ra không ít những giới hạn của nó: chú trọng đến thần học nhiều hơn sư phạm của sứ điệp, sử dụng ngôn ngữ trừu tượng, sự nghèo nàn về Kinh Thánh và phụng vụ, quy trình diễn giải, sư phạm kiểu “lên lớp” và “hộ giáo”, vv. Không chỉ như thế, việc dạy giáo lý bị đồng hóa với việc “dạy thủ bản” cũng xuất hiện trong dòng lịch sử gắn với thời mà phần lớn “Kitô giáo” vẫn còn duy nhất và thuần nhất. Có thể nói rằng, trên nhiều bình diện, giáo dục tôn giáo tìm được trong môi trường gia đình và xã hội nhiều kênh truyền thông và ảnh hưởng bổ khuyết phần nào cho những thiếu sót của phương pháp dạy giáo lý này.

Thời gian trôi qua, việc bỏ đạo gia tăng, sự bất mãn và bận tâm cũng tăng lên; người ta thấy cần phải suy nghĩ lại thành phần của những hoạt động giáo lý khác nhau. Phong trào giáo lý nảy sinh và phát triển từ đó.

2. Thời tiền công đồng: từ việc “dạy thủ bản giáo lý” đến việc “dạy giáo lý”

Vào khoảng cuối thế kỷ XIX, một sự xoay chuyển lớn về ý tưởng và những sáng kiến được phát triển dẫn đến việc canh tân và khuếch trương giáo lý trong Giáo Hội được gọi là “phong trào giáo lý”.

Một chuỗi gợi ý và chỉ dẫn mang tính chính thức của phong trào được ghi nhận bắt nguồn từ Rôma, sau đó ảnh hưởng tới những quốc gia và các Giáo Hội địa phương khác. Điều này làm chúng ta liên tưởng đến công trình tiên khởi của ĐTC Piô X, với thông điệp “Acerbo Nimis” (1905) và những sách giáo lý mang tên ngài (1905 và 1912), bản tuyên ngôn “Provido Sane” năm 1935 và Hội nghị Giáo lý Quốc tế ở Rôma năm 1950. Trong các quốc gia, chúng thấy có những hội nghị giáo lý khác nhau, nỗ lực soạn thảo sách giáo lý cấp quốc gia, những công trình không biết mỏi mệt của những nhà khai sáng khác nhau trong việc canh tân giáo lý.

Phong trào giáo lý cũng tìm được một số quốc gia làm nơi thuận tiện để xem xét lại hoạt động giáo lý dưới ảnh hưởng của nền thần học và sư phạm đương thời cũng như việc sử dụng những phương thế phân tích và giải thích mới. Trong ý hướng này, phải tuyên dương đặc biệt các nước Đức, Áo và Pháp. Nhìn chung về phong trào giáo lý ở châu Âu, người ta có thể phân biệt ba ảnh hưởng mang tính quyết định đó là sư phạm, phụng vụ và thần học-mục vụ.

Ảnh hưởng sư phạm
Ảnh hưởng đầu tiên (từ cuối thế kỷ XVIII đến thế chiến thứ hai) phát xuất từ mối bận tâm về phương phápdạy môn tôn giáo và từ ảnh hưởng của những ý tưởng lớn về sư phạm và tâm lý (O. Willmann, J.F. Herbart, J. Dewey, G. Kerschenstainer, A. Ferrière, vv.). Bận tâm chính là tìm ra cách dạy giáo lý tốt hơn, đặc biệt là điều kiện và cách học của trẻ em. Điều này nhắc ta nhớ đến ảnh hưởng của “phương pháp đan sĩ (Monaco)” và công trình không mỏi mệt của những người tiên phong trong việc canh tân giáo lý như H. Stieglitz, A. Weber, W. Pichler, M. Pfliegler, C. Quinet, M. Fargues, F. Derkenne, M. Montessori, J.M. Dingeon, vv…

Ảnh hưởng phụng vụ

Ảnh hưởng phụng vụ phát xuất từ việc canh tân phụng vụ, đặc biệt từ cách giải thích mục vụ (B. Beaudin, Hội nghị Malines 1908 và Monserrat 1915). Nỗ lực canh tân này đưa những yêu cầu và phương thức phụng vụ như bài hát, cử hành, biểu tượng, cử chỉ, vv…vào trong giáo lý.

Ảnh hưởng thần học-mục vụ

Ảnh hưởng thần học-mục vụ xảy ra giữa thế chiến thứ hai và CĐ Vatican II, phát xuất từ vấn đề nội dung hoặc sứ điệp của giáo lý là “kerygma”. Người ta phản đối cấu trúc trừu tượng và giáo điều của sách giáo lý truyền thống và tán thành việc trở lại với “kerygma” của các tông đồ cũng như với truyền thống giáo lý chân thực của Giáo Hội. Người ta khám phá lại tính quy Kitô của giáo lý, trọng tâm của lịch sử cứu độ, chiều kích Kinh Thánh và phụng vụ của sứ điệp Kitô giáo, khái niệm giáo lý như là việc giáo dục đức tin. Một vài khuôn mặt đáng nhớ về ảnh hưởng này: J.A. Jungmann, F.X. Arnold, G. Delcuve, J. Colomb, F. Schreibmayr, K. Tilmann, J. Hofinger.

3. Bước ngoặt công đồng Vatican II:duyệt xét lại toàn bộ việc dạy giáo lý

Công đồng Vatican II có ảnh hưởng sâu rộng và quyết liệt trên việc dạy giáo lý. Có thể nói Công Đồng đã khép lại “thời đại dạy thủ bản giáo lý” và mở ra công cuộc rà soát lại nền tảng của việc dạy giáo lý. Mặc dù Công Đồng không đề cập trực tiếp đến giáo lý, nhưng toàn bộ công trình của Công Đồng buộc ta phải thay đổi cách hiểu về nhiệm vụ của việc dạy giáo lý, qua việc xem xét lại một số điểm căn bản về việc dạy giáo lý như Lời Chúa, đức tin và Giáo Hội.

Hậu Công đồng là một thời kỳ đầy chấn động về giáo lý cũng như về các vấn đề khác trong đời sống Giáo Hội, một thời kỳ thật phong phú nhưng cũng rất phức tạp. Phong phú vì có nhiều công trình nghiên cứu những đường lối mới, đầy nhiệt thành và sáng tạo. Người ta soạn thảo nhiều sách giáo lý mới với những bản văn và tài liệu hỗ trợ, lập ra những Học viện và Trung tâm Huấn giáo lý. Nỗ lực suy tư về giáo lý dẫn đến nhiều bình diện hay chiều kích mới trên bình diện thực hành như đòi hỏi về nhân học, trọng tâm Kinh Thánh, chiều kích chính trị và xã hội, ưu tiên cho người lớn, ảnh hưởng của truyền thông và cách riêng của truyền thanh và truyền hình, tầm quan trọng của cộng đoàn, vv… Những thúc đẩy và tác động lớn lao này có khả năng phác họa một khuôn mặt thực sự mới mẻ về hoạt động giáo lý.

Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng có một thời kỳ thực sự bất ổn và phức tạp không thể kiểm soát được do những biến đổi và những sự mới mẻ gây ra. Thông thường một hoàn cảnh bất ổn và phức tạpnhư thế sẽ làm cho toàn bộ hoạt động giáo lý bị khủng hoảng về nội dung, phương pháp, môi trường, đối tượng, nhân sự, vv… đồng thời tạo ra xung đột và rối loạn, tranh cãi và căng thẳng, khủng hoảng về nhân sự và tổ chức, những cố gắng không chuyên môn và những kinh nghiệm chín muồi tỏa sang. Chúng ta không được quên rằng tận sâu thẳm của mọi biến đổi đều có những nguy cơ và những khó khăn; đây là cái giá phải trả cho mọi nỗ lực canh tân nghiêm túc.

4. Sự đóng góp của Huấn quyền về việc dạy giáo lý

Trong thời hậu Công đồng, cũng có rất nhiều chỉ dẫn giúp canh tân giáo lý một cách đúng đắn và có trật tự. Chúng ta nhớ đến những văn kiện và tài liệu của Giáo Hội Phổ quát như Hướng Dẫn Giáo Lý Tổng Quát năm 1971, Nghi thức Khai tâm Kitô giáo cho người lớn” (OICA/RICA), Thượng Hội Đồng Gíam Mục năm 1974 và 1977 với các tông huấn kết thúc Loan báo Tin Mừng (Evangelii Nuntiandi) và Dạy giáo lý (Catechesi Tradendae), tông thư Sứ vụ Đấng cứu độ (Redemptoris Mission – 1990), Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo (1992) và văn kiện mới Hướng Dẫn Tổng Quát về việc Dạy Giáo Lý (1997).

Bên cạnh những chỉ dẫn đại thể này, còn có những tài liệu hướng dẫn không kém phần quan trọng và ý nghĩa của các Giáo Hội địa phương, chẳng hạn tài liệu của các Giáo Hội châu Mỹ la tinh: Medellín, Puebla và S.Domingo.

Cần có sự minh định

Dạy giáo lý là một trong những hình thức thực thi sứ vụ Rao giảng Lời Chúa hoặc thừa tác vụ Ngôn sứ của Giáo Hội, bên cạnh các hình thức khác như Loan báo Tin Mừng đầu tiên, giảng dạy trong phụng vụ, suy tư thần học, vv… Vì thế, việc dạy giáo lý chỉ có thể tìm lại căn tính của mình trong viễn tượng Rao giảng Tin Mừng (RGTM). Việc đề cao tính ưu việt của RGTM trong sứ mạng của Giáo Hội có vẻ làm mờ nhiều chức năng truyền thống của việc dạy giáo lý, chí ít buộc chúng phải được xem xét lại. Cặp từ “RGTM và Giáo lý” thường xuất hiện trong các văn kiện và chương trình mục vụ mà trước đây những tài liệu ấy chỉ nói đến giáo lý. Người ta cũng nói đến “giáo lý phúc âm hóa”, “giáo lý truyền giáo” vv… và ưu tiên chọn RGTM đến độ hoạt động giáo lý chừng như biến mất hay bị lu mờ.Do đó, thiết nghĩ cần phải làm sáng tỏ vấn đề này.

Một khó khăn khác nảy sinh từ việc giáo lý có rất nhiều hình thức khác nhaunhư lộ trình dự tòng, chuẩn bị lãnh nhận các bí tích, các nhóm suy tư, các khóa huấn luyện, đọc Kinh Thánh, vv…, và hoạt động giáo lý cũng có nhiều tên gọi khác nhaunhư dạy đạo, giáo dục đức tin, dạy giáo lý, dạy tôn giáo, huấn luyện đạo đức, vv… Khi nói đến giáo lý, người ta cũng nói đến những hoạt động rất đa dạng nhưcử hành phụng vụ, cầu nguyện và chiêm niệm, các nhóm linh thao, sống & chia sẻ, các hiệp hội và phong trào, vv… Như thế, “giáo lý” dường như có mặt ở mọi nơi mọi chỗ, do đó, đánh mất ý nghĩa và căn tính của nó trong sự hòa hợp các chức năng khác nhau của cộng đoàn Kitô hữu. Một lần nữa, cần phải làm sáng tỏ và đào sâu ý nghĩa của việc dạy giáo lý.

B. CĂN TÍNH CỦA VIỆC DẠY GIÁO LÝ

Bản chất và ý nghĩa của việc dạy giáo lý được xác định trong viễn tượng Rao giảng Tin Mừngcũng như trong khuôn khổ sứ vụ của Giáo Hội, tức thừa tác vụ Lời Chúa.

1. Rao giảng Tin Mừng
Từ “Rao giảng Tin Mừng” hay “Phúc Âm hóa” (evangelization), trong CĐ Vatican II, chưa được xác định rõ, nhưng sau Công Đồng không những được xác định rõ mà còn được biết đến cách rộng rãi, nhất là trong thập niên 70. Thuật ngữ này xuất hiện trong các văn kiện, tài liệu, hội nghị và chương trình mục vụ và ảnh hưởng một cách nào đó trên THĐGM năm 1974 và sau đó trên tông huấn Evangelii Nuntiandi của ĐTC Phaolô VI năm 1975. Từ thập niên 80 và 90, xuất hiện lối diễn tả “Tân Phúc Âm hóa”, đặc biệt cho bối cảnh Âu Mỹ.

Thuật ngữ “Rao giảng Tin Mừng” hay “Phúc Âm hóa” (evangelization) ngày xưa được dùng cho những vùng “truyền giáo” và được hiểu như là sứ mạng chính yếu của toàn thể Giáo Hội:

“Chúng tôi muốn tái khẳng định rằng việc sai đi RGTM cho muôn dân làm nên sứ mạng chính yếu của Giáo Hội. Nhiệm vụ và sứ mạng này không giảm thiểu tính khẩn thiết của nó trong một xã hội nhiều chuyển biến lớn lao và sâu xa. Thật vậy, việc RGTM là ân sủng, là ơn gọi thiết yếu và là bản chất sâu xa của Giáo Hội” (EN 14).

Trong Tân ước, động từ “loan báo” (euanghelìzesthai) khi thì được dùng theo nghĩa hẹp là công khai và long trọng tuyên bố ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban cho mọi người trong Đức Giêsu Kitô – Đấng đã chết và đã sống lại, khi thì được dùng theo nghĩa rộng để chỉ toàn bộ hoạt động của Giáo Hội, bằng lời nói và cuộc sống, làm cho ơn cứu độ thành hiện thực.

Trọng tâm của việc RGTM luôn luôn là “Tin Mừng/Phúc Âm”. RGTM nghĩa là loan báo Tin Mừng Cứu độ, công bố Nước Trời, mạc khải “mầu nhiệm” được ẩn giấu nơi Thiên Chúa, loan báo cuộc Vượt qua của Đức Kitô – mạc khải siêu việt và kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa trong lịch sử.

Trong các văn kiện CĐ Vatican II, từ “RGTM” chuyển từ nghĩa hẹp là RGTM cho người chưa tin để họ hoán cải và gia nhập đạo, đến nghĩa rộng hơn là RGTM trong toàn bộ hoạt động ngôn sứ hoặc truyền giáo của Giáo Hội. Khảo sát thuật ngữ“RGTM” trong các văn kiện Công Đồng, Grasso kết luận như sau:

“Chúng ta có thể phân biệt ba ý nghĩa sau: hoặc chỉ việc dạy dỗ muôn dân (Ad gentes 6,26), hoặc chỉ toàn bộ thừa tác vụ lời (Lumen gentium 3,18; Christus Dominus 6,10; Gaudium et Spes 44,13; Apostolicam Actuositatem 2,20, vv.), hoặc chỉ toàn bộ hoạt động truyền giáo của Giáo Hội (Ad Gentes 23,6; 27,15, vv.)”

Trongcác văn kiện hậu Công Đồng, ý nghĩa của từ RGTM được xác định rõ và được hiểu theo nghĩa rộng, tức toàn bộ hoạt động truyền giáo của Giáo Hội được thực hiện dưới mọi hình thức. Tông huấn Evangelii Nuntiandi đã xác định nghĩa rộng của từ này, áp dụng nghĩa này trong cái nhìn phức hợp (17) và sự phong phú của mọi chiều kích (18-24).

“Chúng tôi đã tuyên bố, RGTM là một tiến trình phức hợp gồm nhiều yếu tố khác nhau: canh tân nhân loại, làm chứng, loan báo minh bạch, gắn kết tâm hồn, hội nhập cộng đoàn, chấp nhận những dấu chỉ, những sáng kiến tông đồ” (EN 24).

Nghĩa rộng của từ này cũng được Hướng dẫn Tổng quát việc Dạy Giáo lý chấp nhận:
“Loan báo, làm chứng, giáo huấn, các bí tích, yêu tha nhân, thâu nạp môn đệ: tất cả những sắc thái ấy đều là những con đường và phương tiện cho việc truyền đạt Phúc Âm và làm thành những yếu tố của việc RGTM […]. Những thừa tác viên của việc RGTM phải biết hành động với một “cái nhìn tổng thể” về chính việc RGTM và đồng hóa nó với toàn bộ sứ mạng của GIÁO HỘI” (46).

“Việc RGTM phải được quan niệm như tiến trình mà qua đó Hội Thánh loan báo và phổ biến TM cho toàn thế giới dưới sự thúc đẩy của Thánh Thần” (48).

Trong ý thức hiện tại của Giáo Hội, RGTM là loan báo và làm chứng cho Tin Mừng từ phía Giáo Hội, qua tất cả những gì Giáo Hội nói, Giáo Hội làm và Giáo Hội là. Nó bao gồm toàn bộ hoạt động của Giáo Hội nhắm đến việc loan báo và làm chứng Tin Mừng Nước Trời. Có thể nói định nghĩa này đánh dấu một bước ngoặt trong công cuộc Rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội. Giáo Hội sẽ “không có nghĩa gì nếu như nó không trở thành chứng tá, khơi lên lòng cảm phục và hoán cải, khi giảng dạy và loan báo Tin Mừng” (EN 15). Ý nghĩa của thuật ngữ RGTM giúp chúng ta xác định căn tính của việc dạy giáo lý, ngay bên trong tác vụ Lời Chúa.

2. Việc dạy giáo lý trong tác vụ Lời Chúa

Ngay từ thời các tông đồ, việc phục vụ Lời Thiên Chúa (Cv 6,2-4) đã được xem là yếu tố nền tảng của việc RGTM (x. HDTQ 50). Cùng với việc “làm chứng” (martyria), giáo lý là một phần của tác vụ Lời Chúa.

Các hình thức phục vụ Lời Chúa: Theo truyền thống của Giáo Hội, có ba hình thức chính yếu phục vụ Lời Thiên Chúa: loan báo Tin Mừng đầu tiên (kerygma), dạy giáo lý (catechesis) và giảng dạy trong phụng vụ (homily). Cách phân chia này vừa ám chỉ những đối tượng khác nhau (người chưa tin, người dự tòng, người tín hữu), vừa nói đến tiến trình tháp nhập vào nhiệm cục bí tích (hoán cải, rửa tội, thánh thể), cũng như những giai đoạn chính trong tiến trình năng động của đức tin (tiếp nhận đức tin, đào sâu đức tin, sống đức tin). Hướng dẫn Tổng quát việc Dạy giáo lý (s. 51) phân biệt 5 hình thức của tác vụ Lời Chúa: qui tụ và mời gọi đón nhận đức tin, khai tâm, giáo dục đức tin thường xuyên, chức năng phụng vụ và chức năng thần học. Cách phân chia này không cho thấy hết toàn bộ lý thuyết cũng như thực hành mục vụ. Trên thực tế, không có sự phân biệt rạch ròi như thế; những hình thức đó thông thường, vì lý do mục vụ, phải đảm nhận cùng một lúc nhiều chức năng khác nhau (HDTQ 52). Cách phân chia truyền thống có thể làm sáng tỏ hơn.

Chứng từ Thánh Kinh và lịch sử: Các Giáo Hội tông truyền chứng minh một thực tế rất khác mà không ấn định các hình thức phục vụ Lời Chúa. Chính từ việc đáp trả trong đức tin lời loan báo Tin Mừng, rồi phát triển và đào sâu Lời Chúa dưới những hình thức khác nhau mà cộng đoàn hiện diện và làm chứng trước mặt mọi người. Sau đây là một vài hình thức đặc trưng được liệt kê một cách tổng quát:

“Việc loan báo Tin Mừng, nghĩa là việc loan báo Tin Mừng đầu tiên, với mục đích khơi dậy nơi người chưa có đức tin ước muốn gia nhập đạo; việc dạy giáo lý hay huấn giáo, là việc đào sâu, có mục đích giúp hiểu cặn kẽ và rút ra những hệ quả cho cuộc sống từ trọng tâm sứ điệp Tin Mừng; việc ngôn sứ, là việc thúc đẩy cộng đoàn phân định thánh ý Thiên Chúa trong lịch sử; làm chứng, là việc minh họa, bảo đảm và thuyết phục; khuyến thiện, là việc sửa dạy và làm cho thêm hăng hái”.

Những hình thức phục vụ Lời kể trên làm nên đời sống của các cộng đoàn, đời sống này trở thành điểm chuẩn để nối kết trung thành với sứ điệp cứu độ duy nhất. Dựa vào sự chuyển biến của từ ngữ tìm thấy trong Tân Ước, người ta có thể phân biệt giữa thời điểm đầu tiên của việc loan báosứ điệp, qua những động từ như “la lên” (krazein), “công bố” (keryssein), “truyền đạt” (euangelizein), “làm chứng” (martyrein), và thời điểm thứ hai của việc diễn giải và đào sâu,qua những động từ như “dạy dỗ” (didaskein), “dạy giáo lý” (katechein), “thuyết giảng” (homilein), “loan truyền” (paradidonai) và những từ tương tự. Vào thời điểm thứ hai của việc diễn giải và đào sâu, chúng ta tìm thấy từ “dạy giáo lý” (katechein):

“Keryssein có tương quan ngữ học với katechein. Keryssein (công bố) chỉ thể thức căn bản của một lời, một sứ điệp, so với katechein (dạy giáo lý) chỉ tiếng vang kéo dài dẫn đến việc thông hiểu sứ điệp”.

Từ “katechein” cho thấy tính mới mẻ của Tân ước, nhấn mạnh đến tính độc đáo của giáo lý, bao hàm việc “làm vang vọng” một Lời vượt trên hết mọi sự và không gì có thể thay thế được. Theo nghĩa đen, “katechein” có nghĩa là “vang vọng, làm vang vọng”, tương ứng với ý nghĩa của các từ như giảng dạy, lên tiếng dạy dỗ, tường thuật, kể lại (xem Lc 1,4; Cv 18,25; 21,21; Rm 2,18; 1 Cr 14,19; Gal 6,6).

Trong thời hậu các tông đồ và các giáo phụ, việc dạy giáo lý có một ý nghĩa chính xác nhất; đó là việc giảng dạy căn bản đức tin Kitô giáo trong bối cảnh dự tòng. Vào thời trung cổ, từ “dạy giáo lý” (catechesis) biến mất và được thay thế bằng những từ như “sách giáo lý” (catechism), “huấn thị” (instruction), thường ở dạng hỏi-thưa như thấy trong phần mở đầu nghi thức rửa tội. Trong thời hiện đại (thế kỷ XVI-XIX) hoạt động giáo lý trở nên hưng thịnh với những phương tiện (các sách báo về giáo lý được in ấn và phổ biến) và tên gọi khác nhau như dạy bổn, dạy đạo, dạy tôn giáo, vv. Chỉ với sự phát triển của phong trào giáo lý ở thế kỷ XX, người ta mới lấy lại định nghĩa truyền thống về “dạy giáo lý”, với ý định vừa khám phá lại ý nghĩa đích thực vừa giải thích lại ý nghĩa của nó dưới ánh sáng của những điều kiện lịch sử và văn hóa biến đổi.

3. Bản chất của việc dạy giáo lý
Truyền thống Giáo Hội cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa các hoạt động được diễn tả bằng từ “dạy giáo lý” hoặc các từ tương đương. Trong những thời đại nhất định, các từ này biểu thị những hình thức hoạt động thường làm nên các tổ chức như dự tòng thời cổ đại, khai tâm bí tích, dạy đạo cho người lớn và trẻ em, dạy tôn giáo trong nhà trường, vv. Từ “dạy giáo lý” ngày nay, theo giáo huấn của Giáo Hội, được hiểu theo nghĩa rộng và xác thực hơn.
Hiện có rất nhiều định nghĩa về giáo lý; một vài định nghĩa được sử dụng và trích dẫn trong các văn kiện chính thức của Giáo Hội, chẳng hạn Công Đồng nói đến “việc dạy giáo lý” để “khơi dậy đức tin nơi mọi người và làm cho đức tin ấy, nhờ đạo lý soi dẫn, trở nên sống động, dứt khoát và tích cực» (CD 14); hoặc định nghĩa của THĐGM năm 1977:

«Công việc này … bao gồm việc giáo dục đức tin có tồ chức, phát triển và thống nhất với một tiến trình trưởng thành đức tin vững chắc».

Một định nghĩa khác trong Hướng dẫn Giáo lý Tổng quát năm 1971:
«Trong lãnh vực hoạt động mục vụ, giáo lý là hoạt động Giáo Hội dẫn dắt các Kitô hữu và các cộng đoàn đạt tới một đức tin trưởng thành» (HDGL 21).

Trong Hướng dẫn Tổng quátviệc Dạy Giáo lý năm 1997, “dạy giáo lý là một trong những thời điểm chính yếu của tiến trình rao giảng Tin Mừng … Thời điểm của việc dạy giáo lý là thời gian để hình thành cuộc trở lại với Chúa Giêsu” (s.63) và “đặt nền tảng cho tòa nhà đức tin” (s.64), “là sự khai tâm có tổ chức và hệ thống hướng về Mạc khải” (s.66). Đặc biệt việc dạy giáo lý khai tâm được diễn tả như là “một sự đào tạo có tổ chức và có hệ thống về đức tin” (s.67), hơn hẳn việc giảng dạy truyền thống:

«Việc đào tạo có tổ chức và có truyền thống này còn hơn là một sự giảng dạy: đó là một cuộc tập luyện toàn bộ đời sống Kitô giáo, “một sự khai tâm Kitô giáo trọn vẹn” dẫn đến cuộc sống đích thực theo chân Đức Kitô, tập trung vào Ngôi vị của Người. Thực vậy, đó là việc giáo dục để nhận biết và sống đức tin sao cho qua những kinh nghiệm sâu sắc của mình, con người toàn diện tự cảm thấy mình phong phú nhờ Lời Chúa»(HDTQ 67).

Dẫu có những diễn tả khác nhau, nhưng Giáo Hội hiện thời vẫn thống nhất ý kiến trong việc nhận ra căn tính của giáo lý xoay quanh 3 trục chính: Lời Chúa, Đức tin và Giáo Hội:

• Dạy giáo lý là tác vụ Lời Chúa; vì vậy, dạy giáo lý là phục vụ Tin Mừng, là thông truyền sứ điệp Kitô giáo và loan báo Đức Kitô;
• Dạy giáo lý là giáo dục đức tin; trongcông cuộc giáo dục này, Giáo Hội giữ vai trò trung gian để giúp cho đức tin nảy sinh và tăng trưởng nơi từng người cũng như nơi cộng đoàn;
• Dạy giáo lý là hoạt động của Giáo Hội; hoạt động nàydiễn tả thực tại và sứ mạng chính yếu của Giáo Hội.
Tóm lại, dạy giáo lý là hình thức phục vụ Lời Chúa của Giáo Hội nhằm mục đích làm cho từng người và từng cộng đoàn trưởng thành trong đức tin.

4. Một vài xác định và chọn lựa ưu tiên

Giáo lý là một thời điểm có ý nghĩa trong toàn bộ tiến trình Rao giảng Tin Mừng.Nếu như trong thực tế, Giáo Hội phối hợp loan báo và làm chứng cho Tin Mừng lại với nhau, thì giáo lý luôn là một hình thức Rao giảng Tin Mừng:

«Việc dạy giáo lý nằm trong sứ mạng rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội và được coi là ‘thời điểm’ chính yếu, nó kín múc trong công cuộc RGTM động lực truyền giáo đã đem lại cho nó sự phong phú nội tại và căn tính đặc thù»(HDTQ 59; x. DGL 18).

Về bản chất, giáo lý là một thời điểm khác biệt và tiếp nối thời điểm loan báo Tin Mừng đầu tiên(HDGL 61). Nó giả định bước loan báo đầu tiên này thúc đẩy sự hoán cải ban đầu. Điều này không luôn xảy ra nhưng xác lập biên giới giữa 2 thời điểm, thực tế, việc dạy giáo lý bao hàm việc hoán cải và kêu gọi hoán cải (HDGL 62). Hoàn cảnh mục vụ ngày nay khiến việc dạy giáo lý phải thực thi luôn chức năng truyền giáo, đặc biệt trong các Giáo Hội có truyền thống Kitô giáo lâu đời, nơi mà xã hội mang đậm tính Kitô giáo nhưng không hành xử theo đức tin.

Như vậy, điểm nổi bật trong toàn bộ hoạt động giáo lý là việc dạy giáo lý khai tâm dưới các dạng thức khác nhau, chẳng hạn việc đào tạo có tổ chức và có hệ thống về đức tin (HDGL 67), và việc dạy giáo lý có một chức năng không thể thay thế được trong tiến trình RGTM:

«Việc dạy giáo lý khai tâm, vì thế, là mắt xích nối kết hoạt động truyền giáo là mời gọi tin, với hoạt động mục vụ là làm sống lại cộng đoàn Kitô giáo. Vậy đây không phải là một hoạt động tùy tiện, nhưng là nền tảng phát huy chính nhân cách của người môn đệ cũng như cộng đoàn»(HDTQ 64).

Trong bối cảnh này, người ta dành ưu tiên cho giáo lý người lớn; một chọn lựa chín chắn trong thời hậu công đồng và được khắp nơi tán thành:

«Các mục tử cũng nên nhớ rằng việc dạy giáo lý cho người lớn là việc dạy giáo lý trực tiếp cho những người có khả năng gia nhập và dấn thân thực sự có trách nhiệm, hình thức dạy giáo lý này cùng với những hình thức khác, được xem là hình thức chính của việc dạy giáo lý, cho nên không được xem nhẹ nhưng phải xem là mệnh lệnh” (HDGL 20).

Chức năng dạy giáo lý của Giáo Hội rất rộng lớn và được thực hiện dưới những hình thức khác nhau: cá nhân và cộng đoàn, tự phát và có tổ chức, cơ hội và có hệ thống. Đan cử những hình thức khác nhau: giảng dạy, khuyên răn, thảo luận, làm chứng, suy tư, vv. Những hình thức này được thực hiện trong những sinh hoạt đa dạng và cụ thể: những lộ trình dự tòng, chuẩn bị lãnh các bí tích, các khóa huấn luyện tôn giáo, suy tư cộng đoàn, giảng dạy phụng vụ, truyền thông đại chúng, vv. (x. HDGL 71).

Chức năng và những hình thức dạy giáo lý khác nhau không được làm mất đi căn tính của việc dạy giáo lý là phục vụ Lời Chúa hướng đến sự trưởng thành đức tin của người Kitô hữu. Cùng với những hoạt động khác của Giáo Hội, việc dạy giáo lý xác định rõ đặc điểm của mình là đào sâu (đối với đức tin ban đầu) và khai mở hoặc dẫn vào (những thực hành đạo đức khác nhau trong đời sống Kitô hữu như cầu nguyện, phụng vụ, cam kết, làm chứng, vv.). Cho nên, không phải mọi hình thức hoạt động trong đời sống Giáo Hội đều là “giáo lý”, cho dù có thể nói toàn bộ hoạt động của Giáo Hội luôn có mộtkhía cạnh hoặcchiều kích giáo lý.

Theo Emilio ALBERICH, La catechesi oggi. Manuale di catechetica fondamentale (Giáo lý ngày nay. Thủ bản nghiên cứu giáo lý căn bản), Elledici, TO, 2001, 61 – 77.

Md Phạm Thúy
Nguon : http://giaolyductin.org/newsview/vn/222/GIAO-LY–VA-NO-LUC-TIM-LAI-CAN-TINH-.html

SỰ ĐÓNG GÓP CỦA GIÁO LÝ TRONG HÀNH TRÌNH GIÁO DỤC CON NGƯỜI

Lm Valter Perini

1. Ý nghĩa của thuật ngữ “giáo dục”

• Giáo dục là dẫn vào thực tại, dẫn đến thực tại toàn vẹn” (L. Giussani che cita J. A. Jungmannn) “tiếp tục sinh ra” (S. De Giacinto);

• Trao tặng một sự trợ giúp, nâng đỡ và hướng dẫn đến những cái mới mẻ của xã hội, trong suốt tiến trình đó, người được hướng dẫn không ngừng ý thức tiến đến chỗ tự lập (nghiên cứu của Liên hiệp Giáo chức Công giáo Ý/UCIIM);

• “là những sửa đổi có kế hoạch của con người đều là sự quyết định tự do, đặc biệt trong những năm tuổi trẻ, nhờ vào việc can thiệp từ bên ngoài” (J. Dikov).

• “đó là việc mà tôi trao tặng cho con người tôi lòng dũng cảm, sự tự tin, là việc mà tôi chỉ cho tôi biết bổn phận của tôi là gì, là việc mà tôi can thiệp vào hành trình sống của tôi, giúp tôi có được sự tự do đối với chính mình. Vì thế tôi phải khởi đầu một câu chuyện về nhân loại và một câu chuyện mang tính cá nhân… Cuộc sống chỉ được thức tỉnh và thắp sáng từ cuộc sống. Sức mạnh giáo dục hệ tại ở việc chính tôi hướng mình về phía trước và tôi phải nỗ lực để lớn lên. Sau hết, như các tín hữu thường nói: giáo dục là việc dạy cho người khác tìm ra con đường đến với Thiên Chúa: không chỉ là chấp nhận những quy tắc trong cuộc sống, nhưng là “đứa trẻ này của Thiên Chúa” lớn lên cho tới khi đạt tới sự trưởng thành của Đức Kitô. Con người là con đường dẫn đến Thiên Chúa” (R. Guardini, Persona e libertà, Brescia 1987).

2. Việc giáo dục:
• Là trách nhiệm của nhiều người, nhiều giới: gia đình, giới lao động, trường học, cộng đoàn Kitô hữu, nhóm thể thao, bạn bè, những phương tiện truyền thông, vv.

• Ngày nay việc giáo dục được thực hiện trong một xã hội mang tính đa dạng do nhiều khía cạnh; khái niệm về con người thường đối nghịch với những hệ quả của “sư phạm khác biệt”;

• Quyền-phục vụ, về cơ bản trong một hành trình giáo dục, lẫn lộn với “uy quyền/quyền hành”

• Việc giáo dục liên quan đến tự do của người được giáo dục vì thế đó là một nguy cơ giữa hai sự tự do: tự do của nhà giáo dục và tự do của người thọ giáo. Không có chỉ thị nào ra lệnh sử dụng tự do. Theo nghĩa này, giáo dục là nghệ thuật: đặc sủng và năng lực/khả năng.

• Để tin tưởng vào sự hữu hiệu của giáo dục cần khắc phục ý tưởng cho rằng phải có những điều kiện “xuất sắc” để giáo dục. Không một kỹ thuật nào có thể thay thế được con người. Trong bất kỳ tình huống nào người ta đều có thể và phải “làm” giáo dục.

3. Một vài “lưu ý” dành cho việc giáo dục trong một xã hội đa dạng
• Ý thức rằng xã hội đồng nhất của ngày xưa không còn tồn tại nữa. Những biến đổi sâu xa của xã hội ngày nay đã làm đổ vỡ khế ước giáo dục giữa gia đình với xã hội và Giáo Hội. Chúng làm suy giảm cách thế phối hợp và cộng tác chung trong việc dẫn vào thực tại cũng như việc chuyển giao nghệ thuật sống.

• Cân nhắc nguy cơ phân rẽ của bản thể. Đứa trẻ bị choáng ngợp bởi những thông điệp mâu thuẫn nhau mà nó nhận được từ những nguồn giáo dục khác nhau. Chúng ta đang đứng trước một thách đố giáo dục mà gần đây và trước đây không có.

• Tránh những hạn chế (đặt người thọ giáo vào “một cái chuông thủy tinh” (una campana di vetro)”, không dám cho nó đối diện với những nhận thức và kiểu sống khác với nó, hoặc để nó đơn độc trong những môi trường sống khác biệt.

• Sống kinh nghiệm cộng đoàn như điều kiện để giáo dục.

4. Những điều kiện để việc dạy giáolý góp phần vào việc giáo dục con người. Cộng đoàn như điều kiện của việc giáo dục đức tin

• Trong tài liệu “Giáo dục đời sống tốt lành theo Tin Mừng” các Giám mục đã khẳng định: “Giáo xứ, là một cộng đoàn gần gũi cách đặc biệt với kinh nghiệm của con người và môi trường sống, giáo xứ được coi là cộng đoàn giáo dục đức tin hoàn hảo nhất. Bằng cách loan báo Tin Mừng, dạy giáo lý, cử hành phụng vụ và cầu nguyện, đời sống hiệp thông trong đức ái, cộng đoàn cống hiến những yếu tố cơ bản cho hành trình của người tín hữu tiến về sự trọn hảo của đời sống trong Đức Kitô (39)”.

• Xác quyết này thật là đúng, tôi nghĩ rằng trong mỗi cộng đoàn giáo xứ vừa có thể cùng với anh chị em mình gặp gỡ Đức Kitô và bước đi theo Ngài, vừa có thể chia sẻ lý tưởng này với nhau. Đây là điều mà có thể có rất nhiều Giám mục cũng muốn trình bày một mô hình cộng đoàn giáo xứ như vậy để chúng ta hướng đến mà xây dựng.

• “Chúng ta phải công nhận rằng các giáo lý viên rất khó khăn và có cảm giác cô đơn trong việc cảm nhận hoạt động giáo dục của họ nảy sinh từ việc nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cộng đoàn (địa phương và giáo xứ) như là chủ thể thích hợp cho việc rao giảng, cho ý thức truyền giáo để tìm ra những hình thức thực hành có tính thuyết phục” (Brambilla C. G.).

• Nếu chúng ta muốn canh tân kiểu giáo dục truyền thống cần phải khởi đi từ việc canh tân cộng đoàn Kitô hữu trước tiên là từ người lớn. Việc tái sinh của cộng đoàn Kitô hữu trước hết là nhờ vào ân sủng, do lời khẩn cầu, thứ đến là do trách nhiệm của chúng ta. Đây là một bổn phận mà chúng ta phải đảm nhận bởi vì mô hình của giáo xứ được cấu tạo như trước đây đã bị khủng hoảng trong một xã hội biến đổi. Chúng ta được mời gọi để tái lập một cộng đoàn mang khuôn mặt truyền giáo trong một xã hội đa dạng, đa tôn giáo và trần tục.

Việc tái sinh một cộng đoàn Kitô hữu sống động bắt đầu bằng việc hoán cải cá nhân theo Đức Kitô. ĐTC Bênêđictô XVI trong Tông huấn Thiên Chúa là Tình yêu đã viết: “Khởi đầu cho cuộc sống Kitô hữu không phải là một quyết định đạo đức hay một tư tưởng vĩ đại, nhưng là sự gặp gỡ với một biến cố, với một Con Người, Đấng đem lại cho đời sống chúng ta một chân trời mới và từ đó một định hướng dứt khoát. Vì thế cuộc gặp gỡ Đức Kitô là một kinh nghiệm bởi vì nó chi phối các phạm vi tình cảm, trí khôn và thân xác. “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gal 2,20).“Tôi, nhưng không còn là tôi nữa”. Có một sự liên tục trong sự gián đoạn nơi con người, nơi mà nhân loại được biến đổi từ cuộc gặp gỡ Đức Kitô. Cái tôi của tôi được hòa nhập vào cái lớn hơn đó là Giáo Hội. Sự thuộc về Đức Kitô gắn kết tôi với anh chị em, và anh chị em cũng trở nên anh chị em của tôi. Kitô giáo luôn luôn là một sự kiện cá nhân mang tính cộng đoàn.

Trong Tin Mừng Gioan 1,13-39 hai môn đệ hỏi Chúa Giêsu: «Thưa Thầy, Thầy ở đâu?». Chúng ta đã biết câu trả lời của CGS: «Hãy đến mà xem». Ở lại với Ngài cùng với bạn bè, khát khao hiểu biết Ngài sâu sắc hơn, đây là một cách hiểu biết duy nhất nơi sâu thẳm cõi lòng.

Bằng cách này cộng đoàn cảm nghiệm “cung điện” của Đức Kitô: nơi mà Chúa làm cho chúng ta có thể gặp Ngài “trong dấu chỉ của một sự gần gũi nhân loại” (Scola). Có điều chắc chắn rằng “Mầu nhiệm thì đi xa hơn dấu chỉ, Mầu nhiệm luôn là một Đấng. Tôi không thích dấu chỉ như nó là dấu chỉ cho nên tôi không thích sự gần gũi mang tính Giáo Hội (hiệp thông) chỉ như là sự gần gũi, mà tôi thích Giáo Hội như là người dẫn tôi đến Mầu nhiệm, trong Giáo Hội và chỉ nơi Giáo Hội cơn khát của của tâm hồn tôi mới có thể được xoa dịu bởi vì Chúa Cha đã hình thành nên tôi như thế qua bàn tay của Ngài (Scola)”. Đôi khi bạn bận tâm về “những người còn ở xa” (mà ai ở xa Thiên Chúa?) chúng ta không nhận ra rằng có những người đang ở gần với chúng ta cũng khát khao theo Chúa Giêsu trong cộng đoàn, nhờ việc cầu nguyện, sống tình huynh đệ, chia sẻ niềm khao khát loan Tin Mừng cho những người khác và khát khao thi hành đức yêu thương.

Việc tái sinh cộng đoàn bắt đầu với những người ở gần với chúng ta. Là «bàn tay» ngày hôm nay đã được phục hồi, nếu chúng ta muốn, qua bàn tay đó, phục hồi cả “khuỷu tay” và “cánh tay” nữa.

Cha Germano Pattaro, nhà thần học đã viết “Về vấn đề này, thật là đúng lúc để ấn định rằng “con người đầu tiên”, ngay từ khởi đầu của việc rao giảng, là cộng đoàn Kitô hữu trong sự toàn vẹn của nó. Cộng đoàn này biểu trưng như một cộng đoàn chứng tá, ngay trong cốt lõi, và chỉ trong sự tùy thuộc tương quan lẫn nhau, chứng từ cá nhân mới được kể đến và mới được biểu lộ. Đây là điểm đặc biệt của Lời rao giảng (Kerygma) củng cố điều kiện của biến cố mang tính lịch sử. Điều này có nghĩa là, chứng từ không có ý đưa ra những ý kiến song phương và tự lập hoặc có sự cạnh tranh biện chứng giữa chúng; trong trường hợp này, nó độc lập với việc làm chứng về Đức Kitô, Đấng cứu độ, mà mỗi nhân chứng biểu lộ một nét đặc thù ưu việt của nó đã hoàn thành trong lịch sử. Chỉ có một Đức Kitô của các Tông đồ, và các tông đồ làm thành “tông đồ đoàn” của Đức Kitô. Sự hiệp thông (koinonia) là điều kiện mà mỗi biến cố Kitô (evento cristiano) không thể bỏ qua: trong sự vận hành của việc làm chứng thì sự hoàn tất và khởi đi tùy thuộc bởi chính cộng đoàn chứng nhân, chứng từ đó vừa mang tính truyền giáo nhắm đến thế giới, vừa mang tính văn hóa nhắm đến chính cộng đoàn”. (G. PATTARO, IN E.CASTELLI, La testimonianza, CEDAM, Padova 1972, pp.435-436).

Bối cảnh cộng đoàn (bí tích, phụng vụ, Thánh Thể) là điều kiện cần thiết để thông truyền sự kiện Đức Kitô (Loan báo đầu tiên). Chỉ có cộng đoàn nào sống “Sự kiện” đó mới có thể sinh ra một sự kiện mới. Một sự kiện được sinh ra từ một sự kiện. “Sự sống chỉ được gợi lên từ sự sống” (R. Guardini). “Cuộc sống nào mà gặp gỡ với người đã gặp gỡ Đức Kitô, thì cuộc sống đó được biến đổi bởi sự hiện diện của người ấy là điều rất cần thiết, và vì thế sự tự do của chúng ta được tái lập cũng như tính nhân loại của chúng ta có giá trị vì nó được nâng lên một cách toàn diện” (Scola A.). Sự sống không nảy sinh từ cơ cấu (mà từ sự gặp gỡ – người dịch).

Đặc tính cộng đoàn phải trở thành quen thuộc với mọi hoạt động huấn giáo, theo những cách thế khác nhau, tùy theo những chủ thể quan tâm đến nó. Trong trường hợp của thiếu nhi và người trẻ, chúng ta nói đến cộng đoàn giáo dục, đó là cộng đoàn hướng dẫn và đồng hành với những thế hệ trẻ để gặp gỡ Đức Kitô bên trong một kinh nghiệm mang tính Giáo hội.

5. Một giáo lý mang tính nhập thể

Giáo lý, hiểu theo đúng nghĩa của nó, là bước thứ hai trong tiến trình loan báo Tin Mừng và được thực hiện như thời điểm giải thích và đào sâu Lời Chúa dẫn đến sự trưởng thành đức tin của từng cá nhân và cộng đoàn (giáo dục tâm thức đức tin).

Bởi vậy để giáo lý có một giá trị giáo dục, cần thiết phải là một hành vi giáo lý, hơn thế nữa, là một hành vi mang tính cộng đoàn, mang bản chất của chính sự kiện Kitô. Gặp gỡ giáo lý không phải là một phiên họp trù bị cho cuộc sống, nhưng là một hành vi của cuộc sống, hành vi này phải lay động/thúc đẩy (move) được tự do của tôi và phải biến đổi con người tôi sống cuộc gặp gỡ này cùng với anh chị em. So với việc tham dự thánh lễ, thì “gặp gỡ giáo lý” là một sự khác biệt về phẩm chất, nhưng nó phải là một mầu nhiệm Đức Kitô mang tính đương thời. Ngài chỉ có thể cứu độ tôi nếu như tôi là người đương thời. Một người của ngày hôm nay, Đức Kitô cùng với tôi hiện diện trong ngày hôm nay. Ngài không thể cứu độ cái tôi của quá khứ.

Đồng thời việc dạy giáo lý phải là một thời mạnh của đời sống. Những mầu nhiệm Kitô giáo cần làm sáng tỏ ý nghĩa nhân học, các vấn đề xã hội và vũ trụ.

Tại Đại hội Vêrôna – Italia (2006) đã đề cập đến vần đề: Đức Kitô và Lời của Ngài có liên quan gì đến đời sống tình cảm, đến công việc và lễ nghỉ, đến kinh nghiệm mỏng dòn, đến truyền thống (giáo dục) và đến bổn phận công dân, đến tất cả các chiều kích của nhân loại. Cha De Lubac nói: Nếu như Đức Kitô không can dự gì đến những điều đó thì dần dần Ngài bị gạt ra bên lề xã hội, đây là điều đã xảy ra với các em thiếu nhi sau khi lãnh bí tích Thêm sức. Việc Đức Kitô bị gạt ra bên lề xã hội trở thành một lựa chọn, gắn liền với cái “tôi muốn”. Nếu khẳng định Đức Kitô tương đương với một lựa chọn, một cách nào đó, sẽ có khả năng mất đi sự quan tâm đến Ngài và Ngài trở thành điều vô ích, và khi đó, điều vô ích sẽ bị vứt bỏ. “Đồng ý là Thánh lễ, sách giáo lý, học giáo lý …nhưng cuộc sống là một cái gì khác cơ”. Người lớn chúng ta thường nói thế, rồi chúng ta truyền đạt cho các em giống y như vậy. Nhà thần học Romano Guardini viết “trong chân trời của một tình yêu lớn lao, trong đó tất cả mọi sự trở thành một sự kiện”. Cộng đoàn giáo lý của người lớn, của người trẻ và của thiếu nhi là một cộng đoàn khởi đi từ niềm tin vào Đức Kitô, với/bằng Kinh Thánh và sách Giáo lý, đối chiếu với toàn bộ thực tại: hoàn cảnh, tương quan, tình cảm, công việc và nghỉ lễ, tính mỏng dòn nhân loại, truyền thống (giáo dục), bổn phận công dân, thẩm định mọi sự và giữ lại điều tốt lành (x. 1 Tx 5,21).

Thánh Phaolô ngỏ lời với cộng đoàn Côrintô, Ngài nói rằng: đối với người Kitô hữu, không ai là người xa lạ và Ngài đề nghị một phương pháp suy xét bằng đức tin “…tất cả đều thuộc về anh em;dù là Phao-lô, hay A-pô-lô, hay Kê-pha, dù cả thế gian này, sự sống, sự chết, hiện tại hay tương lai, tất cả đều thuộc về anh em, mà anh em thuộc về Đức Kitô, và Đức Kitô lại thuộc về Thiên Chúa” (1 Cr 3,21b-23).

Giáo dục một tâm thức đức tin bao gồm việc nhận thức và xem xét thực tại như Đức Kitô đã cảm nhận.

Nói cách chính xác, có tâm thức đức tin không có nghĩa là chỉ có một tư tưởng duy nhất, nhưng theo cách đa thức trong đơn thức. Trong lăng kính này, những khác biệt hệ tại trong tính duy nhất của tư tưởng Đức Kitô trở thành những sự phong phú. Theo tiêu chuẩn cổ điển sau đây có thể giúp chúng ta “in necessariis unitas, in dubiis libertas, in omnibus caritas – thống nhất trong những điều cần thiết, tự do trong những điểm còn nghi ngờ, bác ái trong mọi sự”.

«Đường lối để trở thành Kitô hữu đó là khởi đi từ cuộc sống mỗi ngày và thấy Chúa Giêsu can dự đến đời sống của tôi/đời sống của chúng ta”. Là cuộc sống được lên kế hoạch. Kitô giáo chỉ “hành động” trong thực tế. Nếu người nào không hiểu được Đức Kitô và Lời Ngài có can dự gì đến “nghề nghiệp của cuộc sống” (C. Pavese) thì người đó như thể hạt giống mà Chúa Giêsu nói trong dụ ngôn (Mc 4,1-9) rơi bên vệ đường hoặc trên đá sỏi hoặc giữa bụi gai chứ không phải rơi trên đất tốt. Đất tốt là những tâm tư tình cảm, công việc, thời gian rảnh rỗi, những biến cố… tóm lại, là cuộc sống.

Kinh nghiệm giáo lý trở thành nơi mà con người, cùng với bạn bè mình, cảm nghiệm một cách đúng đắn những đòi hỏi của Đức Kitô được tỏ lộ và hoàn tất nơi kinh nghiệm nhân loại. Vì thế giáo lý thường xuyên, nhất là giáo lý cho người lớn, thật sự trở thành điều cần thiết cho chính họ “bởi vì họ là những nhà giáo dục và nhân chứng cho những thế hệ mới/tương lai” (Giáo dục đến đời sống tốt theo Tin Mừng (39).

Chuyển dịch từ tiếng Ý
Md Phạm Thúy
Nguon: http://giaolyductin.org/newsview/vn/248/SU-DONG-GOP-CUA-GIAO-LY–TRONG-HANH-TRINH-GIAO-DUC-CON-NGUOI-.html

Hứa hẹn và thách đố đối với Giáo hội qua cuộc thăm dò giới trẻ

VietCatholic News (12 Feb 2010 12:43)
WASHINGTON (CNS) – Giới trẻ Công giáo Mỹ – những người dưới 30 tuổi – đã dấn thân hoạt động trong các lãnh vực bác ái và tình nguyện như những thế hệ lớn tuổi hơn, nhưng lại có khuynh hướng coi các vấn đề luân lý đạo đức chỉ có tinh cách “tương đối”. Đó là kết quả cuộc thăm dò mới đây của Hội Hiệp sĩ Columbus (Knights of Columbus) tiến hành cùng với Viện Đại học Marist về Công luận tại Poughkeepsie, N.Y. Cuộc thăm dò được thực hiện từ ngày 23 tháng 12 đến ngày 4 tháng giêng trên tổng cộng 2243 người Mỹ, trong số này có 1006 người được mệnh danh là “Millennials”, tức là những người trẻ, tuổi từ 18 đến 29.

Cuộc thăm dò đưa ra một loạt những câu hỏi trong nhiều lãnh vực, về ý thức hệ, thực hành tôn giáo, đức tin, mục tiêu trong cuộc sống, và cảm nghĩ về tương lai của đất nước, ngoài ra còn so sánh các câu trả lời giữa những người khác thế hệ, giữa người Công giáo nói chung, những người Công giáo hành đạo, tức là những người có tham dự các lễ nghi tôn giáo mỗi tháng ít nhất một lần, và cả người Mỹ nói chung nữa.

Sau đây là những điểm tích cực trong kết quả cuộc thăm dò:
• Khi được hỏi hãy chọn lựa trong 5 mục tiêu dài hạn của cuộc sống, có 31% người trẻ (millennials) chọn “sống tâm linh hay mật thiết với Chúa” là mục tiêu cao nhất. Đây là tỷ lệ cao nhất nếu so sánh với các thế hệ khác.
• 67% (tức 2 phần 3) người trẻ và 71% người trẻ Công giáo cho biết trong 12 tháng vừa qua họ đã tình nguyện bỏ thì giờ để phục vụ. Tỷ lệ này gần bằng với các thế hệ khác.
• Đa số người trẻ (56%) và người trẻ Công giáo (52%) trong năm qua đã tặng tiền bạc cho một tổ chức bác ái. Tỷ lệ này là thấp hơn so với cả người Mỹ nói chung lẫn người Mỹ Công giáo nói riêng (67%), nhưng sự khác biệt có thể là vì người trẻ thường có lợi tức thấp hơn.
• Quá nửa số người trẻ (61%) và người trẻ Công giáo (65%) đã rất quan tâm hoặc ít ra cũng có quan tâm đến việc học hỏi thêm về đức tin của họ. Tỷ lệ này nơi số người Công giáo hành đạo là 84%.

Nhưng kết quả cuộc thăm dò cũng cho thấy những mặt tiêu cực:
• Gần 2 phần 3 (64%) người trẻ nói chung và 82% người trẻ Công giáo đồng ý với mệnh đề này, là “các vấn đề đạo đức, luân lý đều tương đối, tức là không triệt để đúng hay sai cho tất cả mọi người.” Đa số những loại người khác – ngoại trừ người Công giáo hành đạo với 46% — đều đồng ý với mệnh đề đó.
• Chỉ có 33% người trẻ và 25% người trẻ Công giáo cho biết họ đã tham dự các nghi lễ tôn giáo mỗi tháng ít nhất một lần.
• Gần 2 phần 3 người trẻ Công giáo (64%) tự mô tả họ ít ra là người có “tâm linh (spiritual)” hơn là “sùng đạo (religious)”. Tỷ lệ này là 66% nơi người trẻ nói chung, và là 63% nơi người Mỹ nói chung.
• 61% người trẻ Công giáo tin rằng một người có đạo có thể cùng lúc thực hành nhiều tôn giáo khác. Tỷ lệ này là 54% nơi người Mỹ nói chung và 43% nơi người Công giáo hành đạo.

Cuộc thăm dò còn hỏi người tham dự xác định xem một số chọn lựa nào là chấp nhận được về phương diện luân lý đạo đức, chọn lựa nào là sai lạc hoặc không phải là một vấn đề liên quan đến luân lý. Dưới đây là một số vấn đề:
• Phá thai: Đa số người Mỹ nói chung (57%), người trẻ nói chung (58%), người Công giáo Mỹ (61%) và người trẻ Công giáo (66%) nói phá thai là điều sai lạc về luân lý.
• Cờ bạc: Quá nửa hay gần phân nửa số người trong mỗi nhóm nói rằng cờ bạc không phải là một vấn đề luân lý.
• Ăn cắp công trình của người khác: 90% số người trong mỗi nhóm đều cho đó là sai phạm về luân lý. Đây là tỷ lệ đồng thuận cao nhất.
• Không chung thủy trong hôn nhân: Được coi là sai phạm về luân lý với tỷ lệ từ 87% (người trẻ Công giáo) đến 90% (người Mỹ nói chung).
• Hôn nhân đồng giới: 54% người Mỹ nói chung, 48% người Mỹ Công giáo cho đó là sai phạm về luân lý, nhưng chỉ có 37% người trẻ Công giáo đồng ý với quan điểm đó.

Sai số của cuộc thăm dò là + hoặc – 2% đối với người Mỹ nói chung, và là + hoặc -3% đối người trẻ.

Theo lời Hiệp sĩ tối cao Carl Anderson, các nhà lãnh đạo Giáo hội cần tìm hiểu viễn cảnh của thế hệ những người Công giáo trưởng thành sắp tới đây.

Ông nhận định: “Người trẻ Công giáo ủng hộ những lời giảng huấn của Giáo hội trong nhiều lãnh vực rộng lớn, như đồng thuận trong các vấn đề phá thai và an tử. Trong các lãnh vực khác, chủ nghĩa tương đối về văn hóa mà Đức giáo hoàng Benedict XVI đã nhiều lần đề cập, cho thấy là một điều rất hiển nhiên, và khẳng định sự khôn ngoan của ngài trong việc chú tâm đến vấn nạn này như là trọng tâm của công tác Tân Phúc âm hóa.”

Ông kết luận: “Có nhiều tin mừng cho Giáo hội trong cuộc thăm dò này, nhất là khi chúng ta thấy có tới 2 phần 3 số người trẻ Công giáo muốn học hỏi thêm về đức tin của họ. Giáo hội có cơ may lớn lao để rao truyền Tin mừng, và có nhiều điều để xây dựng đối với thế hệ những người Công giáo sắp tới, nhưng phải hành động và giảng huấn thế nào để làm sáng tỏ những lý do cho biết lời giáo huấn của Giáo hội là một trong những điều được Đức giáo hoàng gọi là lời đáp trả “Xin vâng” của chúng ta với tiếng gọi của Chúa Giêsu Kitô.

Toàn văn bản kết quả cuộc thăm dò có thể đọc tại:

http://www.kofc.org/un/cmf/resources/Communications/documents/poll_mil_religion.pdf
Phụng Nghi

Nền văn hóa tiêu thụ đang đe doạ giới trẻ

VietCatholic News (07 Jul 2010 07:36)
NỀN VĂN HÓA TIÊU THỤ ĐANG ĐE DỌA GIỚI TRẺ

Đức Thánh Cha cảnh báo trong cuộc gặp gỡ các bạn trẻ tại Nhà Thờ Chính Tòa Sulmona

Sulmona, Chúa Nhật, 4.7.2010 – Giữa những bóng tối đang “che mờ chân trời” của các bạn trẻ, không chỉ có những khó khăn về mặt kinh tế mà thôi. Còn có mối hiểm họa của “nền văn hóa tiêu thụ” đang tạo ra các “giá trị giả” nữa.

Đó là lời cảnh báo của Đức Bênêđictô XVI chiều Chúa Nhật vừa qua, khi ngài gặp gỡ một nhóm bạn trẻ tại Nhà Thờ Chính Tòa Sulmona, vào cuối cuộc viếng thăm mục vụ của ngài tại đó.

Trong bài nói chuyện, dựa vào những kinh nghiệm mà các bạn trẻ chia sẻ với ngài, Đức Thánh Cha ghi nhận: “Có những bóng tối đang che mờ chân trời của các con. Đó là bóng tối của các vấn đề cụ thể, làm cho các con khó nhìn về tương lai với sự bình tâm và niềm lạc quan tin tưởng.”

Và Ngài nói thêm: “Nhưng đó cũng là những bóng tối của các giá trị giả và những kiểu thời thượng hão huyền. Chúng được đề ra cho các con và chúng đang cố lấp đầy đời sống các con, làm cho đời sống các con thành trống rỗng.”

Đức Thánh Cha giải thích: “Nền văn hóa tiêu thụ hiện nay có sức dán chặt người ta vào hiện tại, làm cho họ mất cảm thức về quá khứ, về lịch sử. Và trong quá trình đó, nó tước mất của người ta cái khả năng nhận hiểu và nắm các vấn đề, tước mất nơi người ta cái khả năng xây dựng tương lai.”

“Các bạn trẻ thân mến! Cha muốn nói với các con rằng Kitô hữu là một con người có hồi ức tốt, một con người biết yêu lịch sử và cố gắng nhận hiểu lịch sử.”

Sulmona là nơi từng bị tàn phá nặng nề bởi trận động đất ngày 6 tháng 4 năm 2009, làm cho hơn 300 người thiệt mạng. Đức Bênêđictô XVI đã đến đây nhân dịp kỷ niệm 800 năm ngày sinh của Đức Giáo Hoàng Celestino V (1209-1296). Trước khi trở về Vatican, ngài đã tĩnh lặng cầu nguyện trước di cốt vị tiền nhiệm của mình trong hầm mộ tại Nhà Thờ Chính Tòa.

dịch từ “LA CULTURA CONSUMISTICA MINACCIA I GIOVANI, AVVERTE IL PAPA” trong Zenit.org ngày 4.7.2010
Thiên phong
http://vietcatholic.net/News/Html/81894.htm

Ảnh hưởng của vật chất đối với Thanh thiếu niên thời nay

Có thể nói thế hệ thanh thiếu niên hôm nay là một thế hệ chú trọng về vật chất nhiều nhất trong lịch sử nhân loại. Trong ba thập niên qua, những sự tiến bộ phi thường về kỹ thuật trong nhiều lĩnh vực, và việc áp dụng kỹ thuật vào các công nghệ đã làm cho đời sống của thanh thiếu niên càng bị lệ thuộc vào vật chất nhiều hơn. Chẳng những thế, sự phát triển về công nghệ thật sự đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến cách suy nghĩ về cuộc sống của con em chúng ta; từ đó dẫn đến cách hành xử trong các mối quan hệ với những người thân cận, bạn bè và những cộng đồng nơi các em sinh sống.
Bài viết này được trình bày với mục đích giúp chúng ta nhận định những ảnh hưởng của vật chất trong cuộc sống của giới trẻ hôm nay, và đề nghị một ít phương pháp nhằm giúp giới trẻ đối phó với những thách đố do áp lực của vật chất thúc đẩy, hầu mang lại một sự quân bình trong đời sống.
I. Áp lực của xã hội tiêu thụ
Dựa theo nhận xét ngắn gọn trên, chúng ta hãy cùng nhau khảo sát những áp lực của xã hội với khuynh hướng tiêu thụ rất cao, đặc biệt là ở Hoa Kỳ. Một cách nhìn chung, chúng ta nhìn nhận những giá trị vật chất của kỹ thuật hiện đại được tiêu biểu từ các máy vi tính đến những phương tiện truyền thông thực dụng cho đại chúng.
Máy vi tính
Máy vi tính thật là một phương tiện để làm việc, buôn bán, thông tin một cách hữu hiệu, và cũng là nơi mà giới trẻ dùng làm phương tiện giải trí. Ngày nay ở bất cứ nơi nào trên thế giới, chỉ cần một chiếc máy vi tính, giới trẻ có thể tìm được những sản phẩm thịnh hành nhất trên thế giới, như iPod, iPhone, Wii, Nintendo DS,… Ngoài ra, người trẻ còn có thể tìm những xu hướng thời trang từ y phục, giày dép cho đến những sản phẩm thẩm mỹ. Theo một cuộc khảo sát ở cấp quốc gia mới nhất, thì 95% các bậc phụ huynh cho biết thanh thiếu niên thời nay tin rằng những loại games họ có trong tay, quần áo với các thương hiệu họ ăn mặc sẽ xác định địa vị xã hội của giới trẻ. Ngày nay, giới trẻ đã quá tập trung vào việc mua sắm các sản phẩm tiêu thụ. Những giá trị vật chất đã gây kích động đến đời sống của thanh thiếu niên trong nhiều cách. Thêm vào đó, những hệ thống truyền thông trên mạng như Facebook, Tweeter là phương tiện gặp gỡ của thanh thiếu niên để nhập cuộc với tiến trình hiện đại hoá.
Truyền thanh và truyền hình
Có thể nói truyền hình là sản phẩm thông dụng nhất. Hàng triệu người đã có ít nhất một truyền hình trong nhà, và còn mua bao hệ thống cable hay satellite. Từ tin tức, kiến thức, thể thao, văn hoá, cho đến các phương tiện giải trí, tất cả đều được phát ra từ chiếc máy tivi. Ngoài ra còn có những máy tivi di dộng như iphone đã mang lại cho một cá nhân những sinh hoạt trên tivi ở bất cứ nơi nào. Mặc dầu truyền hình đã được xem như là một vật dụng cần thiết của mỗi nhà, hệ thống truyền hình và truyền thanh đã có những ảnh hưởng rất tiêu cực một cách gián tiếp, đặc biệt là đối với thanh thiếu niên. Những hình ảnh bạo lực, những hành động về phái tính cũng như đồng tính, những ngôn ngữ thô tục, cách ăn mặc lố lăng mỗi ngày một gia tăng trong các chương trình của truyền hình. Lối suy nghĩ và cách sống của các nhân vật trong phim ảnh đã vô tình làm giao động và đảo lộn hệ thống giá trị của một thiếu niên vừa mới lớn.
Rất nhiều nghiên cứu và khảo sát đã chứng minh giới trẻ ngày nay đã bắt chước những hành động không lành mạnh từ những chương trình truyền hình bạo lực, và đã lạm dụng bạo lực nơi gia đình, học đường, cũng như những nơi công cộng. Nhiều em đã có những ảnh hưởng nghiêm trọng về tâm lý. Hiện nay, bạo lực là một phần chính của các chương trình truyền hình và phim ảnh với mục tiêu nhắm vào giới trẻ. Theo nhà văn John Leo của Manhattan Institute, thanh thiếu niên xem truyền hình nhiều thường có tâm tính muốn tấn công kẻ khác. Cảm nghiệm cá nhân của người viết cho thấy có những em trước đây có một cuôc sống đạo đức, hiền hoà, nhưng đột nhiên thay đổi và cho rằng em có thể tự mình lèo lái cuộc sống của mình mà không cần phải học hỏi, hay trau dồi thêm kiến thức nào nữa.
Điện thoại di động
Điện thoại di động ngày nay đã trở thành một phương tiện không thể thiếu trong đời sống hằng ngày. Chúng ta không phủ nhận lợi ích thiết thực của điện thoại di động, nhưng những tiện nghi này đã làm cho con người bị ràng buộc vào kỹ thuật công nghệ. Có người khi không có điện thoại di động cảm thấy bứt rứt, đứng ngồi không yên và tất nhiên mọi suy nghĩ và việc làm đều bị chi phối. Một nhà nghiên cứu Thuỵ Điển đã xác nhận rằng “những thanh thiếu niên nào xử dụng điện thoại di động thường xuyên thì luôn ở trong tình trạng bất ổn, không yên. Chúng cũng có lối sống phóng túng hơn, hay bị mất ngủ hoặc ngủ không ngon giấc và dễ bị trầm cảm, mệt mỏi, suy giảm trí nhớ và mất khả năng tập trung”.
II. Ảnh hưởng áp lực vật chất đối với giá trị tinh thần
Khi con em của chúng ta đã đi vào khuynh hướng “phải có” những vật dụng này, hay những phương tiện kia, thì cũng là lúc vật chất đã gây ảnh hưởng đến tinh thần, cùng những hệ thống giá trị của các em.
Xã hội tiêu thụ thúc đẩy giới trẻ cần phải giống như chúng bạn chưa bao giờ áp lực của xã hội tiêu thụ có sức mạnh đáng sợ như hiện nay. Tôi còn nhớ, khoảng đầu thập niên 1990, con của một người bạn của chúng tôi đã vòi vĩnh bố mẹ phải mua cho cậu một đôi giày giá $120.00 để được bạn bè chấp nhận hội nhập vào cùng nhóm thân hữu. Tuy không vui nhưng vợ chồng chị bạn của tôi cũng chiều theo ý của con mình. Xã hội tiêu thụ đã thúc đẩy giới trẻ cần phải giống như chúng bạn, phải nghe cùng một loại nhạc, phải có cùng lối thời trang, phải đi đứng và ăn nói sao cho phù hợp với nhóm bạn của mình.
Những phương tiện giúp trẻ mãi không già
Xã hội càng phát triển, đời sống vật chất càng cao thì mãnh lực của đồng tiền và áp lực của mức tiêu thụ càng có vị thế. Tại các quốc gia tiên tiến, hầu như mọi thứ trong đời sống vật chất đều có thể đánh đổi bằng tiền, từ trang phục, thực phẩm, những phương tiện giải trí, thông tin truyền thông và mọi tiện nghi của đời sống, cho đến những dịch vụ sửa sắc đẹp, những phương thuốc thần giúp trẻ mãi không già… Đồng tiền đã tạo nên áp lực rất lớn đối với con người và đã khiến cho thế hệ trẻ tin rằng tiền bạc là trung tâm điểm buộc con người phải xoay quanh nó. Trong khi tiền bạc là phương tiện cần thiết cho sự sinh tồn, thì nó cũng là nguyên nhân dẫn đến trộm cướp, chiếm đoạt, những hành vi bất chính, phi đạo đức, phi nhân bản; các tệ nạn từ gia đình cho đến xã hội. Việc làm ra tiền và sử dụng tiền một cách hợp lý, tích cực luôn là một thách đố rất lớn đối với thanh thiếu niên. Nếu không được chỉ dẫn, giới trẻ sẽ luôn nghĩ trong đầu óc ý niệm chật hẹp là làm sao để có thật nhiều tiền và sử dụng theo ý muốn. Đây chính là sự sai lầm trong cách suy nghĩ về tiền bạc và đã dẫn đưa bao nhiêu trẻ đi vào ngõ cụt của cuộc đời.
Có thể tự mình kiểm soát mọi sự
Ngày nay, những phát minh và khám phá của khoa học, đặc biệt trong ngành y khoa, đã đem lại biết bao giải pháp cho nhiều chứng bệnh nan y. Nhưng khoa học lại vô tình tạo một ảo tưởng là con người có thể nắm giữ mọi thứ. Ví dụ như y khoa ngày nay có khả năng tạo nên một con người qua phương pháp nhân tạo bằng sự thụ tinh trong ống nghiệm. Y học còn đem lại những kỹ thuật tinh xảo để có thể thay tim, thay lá gan, thêm một cái thận, thay thế các cơ phận khác trong thân thể, và giúp kéo dài tuổi thọ… Trong khi khoa học mang lại cho nhân loại những giải đáp kịp thời, thì kết quả của những khả năng này đưa con người đến việc tự mãn và tự nắm lấy vận mạng của chính mình. Xu hướng này biến con người thành trung tâm của mọi việc và không còn biết quan tâm đến ai kể cả ông bà, cha mẹ, xóm giềng, chính phủ, tôn giáo hay xã hội.
Có được mọi sản phẩm tối tân nhất cho cuộc sống
Đối với giới tiêu thụ, có tiền là có tất cả. Người Việt Nam chúng ta có thành ngữ: “Có tiền mua tiên cũng được”. Nhiều thanh thiếu niên thời nay, thay vì tiếp tục con đường thăng tiến công danh sự nghiệp qua các đại học, thì lại muốn đi làm để kiếm cho thật nhiều tiền, để tiêu xài nhiều hơn. Thống kê năm 2009 cho thấy 80% các thanh thiếu niên đã sở hữu những sản phẩm thịnh hành nhất trên thế giới như chiếc iPod mới nhất, các máy Wii, Nintendo DS, hay Blackberry. Kế đến là các xu hướng thời trang mới nhất, từ quần áo, giày dép, cho đến những vật dụng giúp làm nổi bật cuộc sống thoải mái về mọi sự.
Lối sống tiêu thụ quá đáng này đã vô tình gieo một thông điệp sai lầm cho giới trẻ rằng có tiền là trên hết, rằng tiền bạc là cứu cánh, là cùng đích của cuộc sống. Một ví dụ điển hình về sự đảo lộn các giá trị đạo đức là đã có rất nhiều những cuộc án mạng và những vụ bắn giết nhau xảy ra tại các trường học, công sở, và nhiều tư gia chỉ vì áp lực của xã hội tiêu thụ.
Có những thần tượng để noi theo
Sư hiện diện của các minh tinh màn ảnh, tài tử danh tiếng, các ca sĩ, những vua hề, và những ban nhạc trứ danh đã đem lại một ảo tưởng mới cho giới trẻ. Nhiều cô cậu mới lớn đã chạy theo các mốt lố lăng trên màn ảnh. Thậm chí nhiều trẻ còn có xu hướng sống như những người nổi tiếng và các ngôi sao trên truyền hình qua cách ăn mặc và cách tiêu xài. Một số thanh niên khác đã bị lôi cuốn vào vòng xoáy của những ảo tưởng. Họ bắt chước các thần tượng nghệ sĩ của họ, và đã phản ứng theo cách thức giống như trong phim ảnh. Họ không biết rằng những gì trên màn ảnh chỉ là kịch bản và hoàn toàn khác biệt với cuộc sống thực tế. Và khi mọi thứ không diễn tiến như họ mong muốn, họ trở nên thất vọng hay giận dữ với chính mình. Đã có những trường hợp đáng tiếc xảy ra khi một số thanh thiếu niên tìm cách hãm hại những người chung quanh và rồi tự sát.
Âm nhạc cuồng loạn
Âm nhạc đã thay đổi rất nhiều theo thời gian từ tiếng nhạc cho đến âm điệu. Âm nhạc ngày nay mang nặng chiều hướng thả lỏng, hỗn loạn về xác thịt, tình dục và còn dung chứa bạo lực. Một ví dụ điển hình đó là các thể nhạc rap đã gây ảnh hưởng đồi trụy đến giới trẻ. Đề tài của những bản nhạc thường là những gì đang thực sự xảy ra trong thế giới hiện đại. Ngoài ra nội dung của nhiều lời nhạc mang tính chất tiêu cực, phản đối, tranh cãi và thiếu phần thanh tao. Những bài hát đầy tính chất bạo lực dễ dàng khuyến khích giới trẻ áp dụng sự thô bạo, từ lời nói cho đến hành động. Chúng ta đã từng nghe về những án mạng xảy ra tại các trường trung học vì những lý do gây hấn giữa các thanh thiếu niên. Giới trẻ đã quá quen thuộc với loại nhạc buông thả này nên không có sự nhạy bén để phân biệt phải trái.
III. Kết quả của cuộc sống bị ảnh hưởng bởi vật chất
Khi đón nhận những giá trị đến từ một xã hội chỉ biết tiêu thụ và hưởng dùng, dĩ nhiên các em thanh thiếu niên sẽ mang những hậu quả do xã hội tiêu thụ và các bậc thang giá trị của xã hội này mang lại.
Thái độ “Mọi sự đều quy về tôi” là một trong những kết quả hiển nhiên nhất. Từ đó mối tương quan với gia đình trở nên lỏng lẻo. Những gì giới trẻ cần chỉ là sự tài trợ của cha me. Ngoài ra, việc đua đòi cũng làm cho học lực của các em sa sút. Thêm vào đó, đời sống tinh thần và đạo đức bị thiên lệch vì bị ảnh hưởng bởi chúng bạn và các thần tượng phim ảnh.
IV. Những kỹ năng giúp con em tránh áp lực của xã hội
Sau đây là những kỹ năng đã được Hệ thống Giáo dục Hoa Kỳ đề nghị trong việc giúp giới trẻ tránh những áp lực vật chất của xã hội.
Hạn chế tiếp xúc với phương tiện truyền thông
Cha mẹ của thanh thiếu niên ngày nay cần kiểm duyệt những chương trình truyền hình của con em, và nên thận trọng về những tác động xấu của phương tiện truyền thông đối với giới trẻ. Hãy hạn chế giới trẻ tiếp xúc với những phương tiện truyền thông. Hãy giải thích cho thanh thiếu niên nhận biết những điều phải, điều quấy. Phụ huynh phải phản đối và cấm giới trẻ xem những đài truyền hình hoặc phim ảnh vô luân, thiếu đạo đức; những chương trình dâm ô trên mạng Internet và những tờ báo khiêu dâm. Ngoài ra, cha mẹ nên đề ra những kỷ luật như chỉ cho phép con cái xem truyền hình hoặc xem phim ảnh trong máy vi tính vào những ngày cuối tuần. Nếu thanh thiếu niên vi phạm, cha mẹ nên thi hành kỷ luật đã đề ra như không cho con em sử dụng máy trong một tuần lễ.
Làm gương cho thanh thiếu niên
Để giúp giới trẻ tránh bị những ảnh hưởng tiêu cực của các phương tiện truyền thông, cha mẹ nên tham gia vào các khía cạnh cuộc sống của thanh thiếu niên. Giáo dục con cái không chỉ bằng lời nói nhưng bằng hành động và lối sống mẫu mực. Cách tốt nhất, cha mẹ nên giao tiếp thường xuyên với các con và thảo luận các vấn đề chung một cách trung thực trong gia đình. Phụ huynh cũng nên khuyến khích thanh thiếu niên trình bày ý kiến của mình và đôi bên tôn trọng ý kiến của nhau. Bổn phận của cha mẹ là hướng dẫn và sống mẫu mực về đạo đức để làm gương cho con cái.
Khuyến khích những giải trí lành mạnh
Trên thực tế, có hàng trăm cách để cha mẹ truy cập những ảnh hưởng tiêu cực của các phương tiện truyền thông đối với giới trẻ. Phụ huynh có thể khuyến khích, thúc đẩy thanh thiếu niên tham gia vào các hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh khác nhau, như tham gia vào môn thể thao, các sinh hoạt động của Hướng Đạo và cộng đồng. Cha mẹ cũng có thể khắc sâu trong tâm trí của con cái giá trị của việc đọc sách và tính đam mê đọc những cuốn sách tốt, hữu ích. Bằng cách này, thanh thiếu niên sẽ phát triển một số vốn từ vựng tốt.
Dành thời giờ với con cái
Ngày nay rất nhiều thanh thiếu niên đang gặp khó khăn vì cha mẹ quá bận kiếm sống, thường xuyên vắng nhà, hoặc chỉ đơn giản là không biết gì về những hiểm nguy mà giới trẻ đang bị áp lực và đang cần sự giúp đỡ của cha me. Hơn bao giờ hết, đây là thời điểm cha mẹ cần thẩm định lại những giá trị của cuộc sống. Hãy dành thời giờ với con cái, yêu thương chăm sóc, thông cảm và dạy cho thanh thiếu niên hiểu tầm quan trọng của các giá trị đạo đức. Điều thiết yếu là dạy cho giới trẻ biết chống lại những áp lực của xã hội và những suy nghĩ tiêu cực. Giáo dục cho trẻ biết chọn lọc những điều chúng nghe và nhìn thấy qua các phương tiện truyền thông.
Một gia đình gắn bó trong yêu thương là nền tảng trong việc hướng dẫn các thanh thiếu niên nên người.
Tóm lại, ngày nay trước sự phát triển chung của xã hội, thanh thiếu niên dễ bị áp lực của vật chất vào đời sống truỵ lạc phóng khoáng. Áp lực của bạn bè luôn là một thách thức mà thanh thiếu niên ngày nay phải đối phó. Vì vậy Trung tâm An toàn AMW (American Most Wanted) đã thường xuyên nhắc nhở các bậc phụ huynh hãy luôn gần gũi, chăm sóc, yêu thương và tạo điều kiện để thanh thiếu niên phát triển trong những môi trường lành mạnh. Khi giới trẻ cảm thấy những điều tốt về bản thân họ, họ sẽ cảm thấy hạnh phúc và ít lệ thuộc vào của cải vật chất hơn.
Người xưa có câu “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Khi thanh thiếu niên sống trong một môi trường lành mạnh và được rèn luyện để có được những giá trị của đời sống tinh thần làm căn bản thì kết quả là những chuỗi ngày hạnh phúc và hài hoà giữa cha mẹ và con cái.
Thương Nguyên
Theo daminhvn.net
Cập nhật: 18/05/2011 15:56 (GMT +7)