BÀI THAM LUẬN 3: DẠY GIÁO LÝ THEO HƯỚNG GIÁO DỤC ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN VÀ TINH THẦN TRUYỀN GIÁO

Thuyết trình viên
Thầy Antôn Phạm Đình Tú (Nha Trang)

Nằm trong viễn tượng loan báo Tin Mừng, Dạy Giáo lý là việc giáo dục đức tin cho người tín hữu để dẫn đưa họ đến cuộc sống Kitô hữu sung mãn (x. CT 18; CEC 5). Đức tin ở đây vừa là một hành vi cá nhân (tôi tin) vừa là một hành vi mang chiều kích cộng đoàn (chúng tôi tin): “…Người tin nhận được đức tin từ những kẻ khác và phải thông truyền đức tin đó cho những kẻ khác. Tình yêu của chúng ta đối với Chúa Giêsu và đối với tha nhân, thúc giục chúng ta nói về đức tin của chúng ta cho những người khác. Mỗi người tin là như một mắt xích trong một xâu chuỗi rộng lớn các kẻ tin. Tôi không thể tin nếu không được nâng đỡ bằng đức tin của những người khác, và bằng đức tin của tôi, tôi góp phần vào việc nâng đỡ đức tin của những người khác” (CEC 166).

Như vậy, ngoài việc giúp hiểu biết đức tin, giáo dục phụng vụ, huấn luyện luân lý, dạy cầu nguyện, thì việc Dạy Giáo lý còn có bổn phận mang lại cho người Kitô hữu khả năng sống cộng đoàn, cũng như thamgia cách tích cực vào đời sống và sứ mệnh của Hội Thánh (x. DGC 86). Nhiệm vụ này lại càng khẩn thiết đối với Hội Thánh Việt Nam trong giai đoạn hiện nay nếu muốn xây dựng một Hội Thánh Việt Nam hiệp thông và sứ vụ như đã được đề ra trong năm thánh 2010 của Hội Thánh Việt Nam và Đại hội Dân Chúa vừa qua.

I. GIÁO DỤC ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN: SỐNG HIỆP THÔNG

Hội Thánh là công trình của Thiên Chúa Ba Ngôi, Đấng là Thiên Chúa duy nhất nhưng luôn hiệp thông trong Ba Ngôi, để quy tụ toàn thể nhân loại về hiệp thông với Ngài và với nhau, thành một gia đình duy nhất.

Ngay từ đầu, đời sống cộng đoàn Hội Thánh tiên khởi đã được sách Công vụ Tông đồ nhấn mạnh trong hai chữ “hiệp thông”, hiệp thông với Thiên Chúa và hiệp thông với nhau: “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng. …Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ”. (Cv 2,42.44-47).

Tài liệu học hỏi Năm Thánh 2010 nhấn mạnh: “Hội Thánh Việt Nam trước hết phải là một cộng đoàn hiệp thông đâm rễ sâu trong đời sống Chúa Ba Ngôi, một cộng đoàn cầu nguyện và chiêm niệm, một cộng đoàn cử hành bí tích với Thánh Thể là trung tâm; kế đến, phải là cộng đoàn tham gia và đồng trách nhiệm, một cộng đoàn hiệp nhất với các chủ chăn cũng như với Hội Thánh duy nhất. Cuối cùng, phải là cộng đoàn làm chứng cho những ý nghĩa và giá trị mà mình tuyên xưng, để cho những giá trị đó nhập thể vào trong lối sống của mình, diễn tả chúng trong cách thế hiện diện, đối thoại và thực hành của mình trong mọi lãnh vực hoạt động của Hội Thánh ngay giữa lòng thế giới. (x. Tài liệu học hỏi trong Năm Thánh, Phần II, Đề tài 5: Giáo Hội muốn trở nên cộng đoàn hiệp thông).

Sứ điệp của Đại hội Dân Chúa Việt Nam 2010 nói thêm: “Hội Thánh tại Việt Nam còn phải canh tân chính mình qua nỗ lực xây dựng Hội Thánh như một gia đình, trong đó mọi người hiệp thông với nhau như anh chị em một nhà, bình đẳng với nhau trên nền tảng ơn gọi làm người và làm con Chúa, chia sẻ cùng một sứ mạng và trách nhiệm dù được thể hiện trong những bậc sống và nhiệm vụ khác nhau. Sự hiệp thông này vừa là đòi hỏi vừa là lời chứng cần thiết mà Hội Thánh phải bày tỏ trước mặt mọi người như Chúa Giêsu đã thiết tha cầu nguyện: “Xin cho họ nên một như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha để họ cũng ở trong Chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai Con” (Ga 17,21)” (Sứ điệp của Đại hội Dân Chúa Việt Nam 2010, số 5).

Để đạt mục tiêu trên, về mặt Dạy Giáo lý cần có phương hướng nào?
– Trước hết, cần giúp người tín hữu thay đổi cái nhìn về Hội Thánh. Giáo dân Việt Nam lâu nay vẫn quen với hình ảnh Hội Thánh phẩm trật: Hội Thánh là của hàng giáo sĩ, tu sĩ. Giờ đây cần giúp người tín hữu giáo dân hiểu rõ hơn ơn gọi và sứ mạng của mình trong Hội Thánh để cùng nhau tích cực xây dựng Hội Thánh hiệp thông, tham dự và đồng trách nhiệm. Điều này đã được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II trình bày trong tông huấn Christifideles laici (Người Kitô hữu giáo dân). Việc thay đổi này phải thực hiện vừa trên bình diện nhận thức, vừa trên bình diện thực hành: “Giáo Hội cần quan tâm hơn đến việc phát huy phẩm chất của giáo dân bằng cách tổ chức các khóa huấn luyện về thần học, giáo lý, Kinh Thánh, mục vụ.Đồng thời, cần canh tân những đường hướng và qui chế tổ chức giáo phận và giáo xứ, để giáo dân có cơ hội thực thi những quyền chính đáng và trách nhiệm của mình trong Giáo Hội” (TC, 2011số 27). “Sự hiệp thông đích thực và sâu xa trong Giáo Hội cần được thể hiện nơi từng giáo phận cũng như giữa các giáo phận. Qua sự hợp nhất yêu thương giữa mọi thành phần Dân Chúa như trong một gia đình, các cộng đoàn vừa là dấu chỉ vừa là trường dạy hiệp thông. Mối tương quan giữa giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân được đặt nền trên phẩm giá bình đẳng của mọi tín hữu, cũng như tinh thần đồng trách nhiệm của từng tín hữu nơi Thân Mình Đức Kitô trong đức tin, cậy, mến. Đại Hội Dân Chúa mong muốn Giáo Hội tại Việt Nam củng cố sự hiệp thông và tham gia trong đời sống Giáo Hội ở mọi cấp bậc, tạo điều kiện để mọi thành phần Dân Chúa tích cực tham gia vào đời sống và sứ vụ của Giáo Hội”. Trên thực tế, điều này chưa được thể hiện đồng đều và rõ nét ở cấp giáo phận cũng như giáo xứ. Vì thế, việc xây dựng một Giáo Hội hiệp thông và tham gia phải là mối quan tâm mục vụ hàng đầu của Giáo Hội tại Việt Nam trong những năm sắp tới.” (TC, 2011, số 23).

– Giúp người tín hữu, nhất là giới trẻ thêm ý thức Hội Thánh, biết đồng cảm với Hội Thánh, vui niềm vui của Hội Thánh và đau nỗi đau của Hội Thánh. Ý thức thuộc về Hội Thánh, cụ thể ở việc tích cực tham gia và góp phần vào những sinh hoạt Giáo phận và Giáo xứ nơi mình đang cư ngụ. Điều này cần nhấn mạnh vì hiện nay tại Việt Nam vấn đề di dân đang nổi cộm: người trẻ từ các làng quê kéo về các thành phố để làm việc cũng như học hành. Trong Tông huấn Christifideles laici, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói: “Việc hiệp thông của Hội Thánh mặc dầu có tầm vóc bao quát hoàn vũ, nhưng nó được diễn tả một cách rõ ràng và gần gũi nhất ở trong Giáo xứ. Giáo xứ là đơn vị địa phương của Hội Thánh. Nói một cách khác chính là Hội Thánh sống giữa con cái nam nữ của mình…. Giáo xứ không phải là một cơ cấu, một địa hạt, hay một ngôi nhà, nó là “một gia đình của Chúa, một cộng đoàn huynh đệ chỉ có một linh hồn” là “mái gia đình, đầy tình huynh đệ và mở rộng đón tiếp mọi người” là “cộng đồng các tín hữu.” … Giáo xứ là cộng đồng tiên khởi của Dân Chúa, chính giáo xứ phải khai trương đời sống phụng vụ và tập hợp Dân Chúa trong việc cử hành phụng vụ; giáo xứ có bổn phận phải bảo tồn và nung nấu đức tin của đoàn lũ dân chúng hôm nay; giáo xứ còn là trường dạy dỗ giáo lý cứu rỗi của Đức Kitô; nơi tích cực thực thi các công tác bác ái huynh đệ” (ChL, 26).

– Giúp người tín hữu biết quan tâm đến ích chung cũng như biết làm việc chung với nhau. Giáo dân cần tập cộng tác với các linh mục và tu sĩ trong những công việc chung, chẳng hạn như dạy giáo lý, bác ái xã hội, truyền thông, quản trị giáo xứ v.v… Bên cạnh đó, các linh mục cũng cần trân trọng sự cộng tác của người giáo dân và giúp họ sống ơn gọi của họ sâu xa hơn. “Theo gương Chúa Giêsu, Đấng luôn ưu ái những người trẻ, Giáo Hội hoàn vũ đang nỗ lực mời gọi người trẻ cộng tác và tham gia vào đời sống cộng đồng Dân Chúa. Tại Việt Nam, Giáo Hội nên nghiên cứu và mạnh dạn tổ chức những cử hành phụng tự thích hợp, khuyến khích giới trẻ tham gia vào các hội đoàn và những sinh hoạt cộng đồng, để ngày càng có thêm nhiều người trẻ quảng đại và can đảm, sống đức tin cách sinh động và trưởng thành. Công việc mục vụ đó cần được chuẩn bị chu đáo bằng việc giáo dục đức tin và nhân bản cho thiếu nhi. Nhờ đời sống thiêng liêng vững mạnh, giới trẻ Công giáo sẽ góp phần tích cực và bền vững vào việc lành mạnh hóa xã hội hay dấn thân truyền giáo tại những nơi xa xôi” (TC, 2011, số 29).

– Giáo dục đời sống cộng đoàn. Sách Hướng dẫn Tổng quát việc Dạy Giáo lý số 86 nói rõ: Đời sống Kitô hữu trong cộng đoàn không phải là ngẫu hứng nhưng phải được giáo dục cẩn thận. Trong việc rèn luyện này, giáo huấn của Chúa Giêsu về đời sống cộng đoàn đã được tường thuật lại trong Tin Mừng theo thánh Matthêu, đòi hỏi một số thái độ mà việc dạy giáo lý buộc phải ghi khắc:
• Ÿtinh thần đơn sơ và khiêm nhường: (“nếu anh em không quay trở lại mà nên như trẻ em …”- Mt 18,3);
• Ÿquan tâm đến những người bé mọn nhất (“ai làm cớ cho một trong kẻ bé mọn đang tin Thầy đây phải sa ngã…”- Mt 18,6);
• Ÿlưu tâm cách riêng đến những người lầm lạc (“đi tìm con chiên lạc”- Mt 18,12);
• sửa lỗi anh em (“anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi” – Mt 18,15);
• Ÿcầu nguyện chung (“nếu hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì”- Mt 18,19);
• Ÿ tha thứ cho nhau (“đến bảy mươi lần bảy…”- Mt 18,22);
• đức bác ái huynh đệ gồm tóm tất cả những thái độ này (“anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em”- Ga 13,34).

Ngoài ra, trong các sinh hoạt giáo lý, cũng cần cổ võ sự cộng tác của mọi thành phần trong giáo xứ, đặc biệt là của các phụ huynh học sinh giáo lý và các cha mẹ đỡ đầu. Sự hiện diện các thành phần này trong sinh hoạt giáo lý chính là một bài học sống động về sự hiệp thông và về đời sống cộng đoàn.

– Quan tâm đến chiều kích đại kết. Sự chia rẽ giữa các Kitô hữu là điều nghịch lại ý muốn hiệp nhất của Đức Kitô (x. Ga 17,20), là gương xấu cho thế giới và làm hại đến việc loan báo Tin Mừng. Sự chia rẽ, ngay từ ban đầu đôi khi là lỗi của những người ở cả hai bên, những người ngày nay sinh trưởng trong các cộng đoàn ấy không thể bị kết tội chia rẽ (UR, 1 và 3). Tại Việt Nam hiện nay, các hệ phái Kitô giáo chưa hiện diện nhiều như bên châu Âu hoặc châu Mỹ. Tuy nhiên hiện nay, các giáo phái đang có chiều hướng gia tăng vào Việt Nam. Trong việc dạy giáo lý, cần giúp người tín hữu đào sâu hơn về đức tin của mình cũng như giúp họ hiểu biết đúng đắn về các giáo hội Kitô anh em. Tránh gây tranh cãi và đụng chạm mà cần sống chung hoà hợp và kính trọng nhau, cùng nhau dấn thân để trở thành những người “xây dựng hoà bình”.. Đặc biệt cần giúp người tín hữu siêng năng đọc, học hỏi Kinh Thánh một cách đúng đắn, cầu nguyện với Kinh Thánh cũng như nỗ lực làm cho đời sống mình thấm nhuần tinh thần Tin Mừng. “Việc dạy giáo lý sẽ có một chiều kích đại kết trong mức độ nó biết khơi dậy và nuôi dưỡng “ước muốn hiệp nhất đích thực”, không phải nhằm một thái độ hòa giải dễ dãi, nhưng nhằm hiệp nhất hoàn toàn, khi Chúa muốn và bằng con đường Chúa muốn” (DGC 86).

II. TÍCH CỰC THAM GIA VÀO SỨ MỆNH CỦA HỘI THÁNH

Hiệp thông với Hội Thánh không chỉ dừng lại ở việc nỗ lực xây dựng sự hiệp nhất trong Hội Thánh mà còn phải tham gia tích cực sứ mệnh của Hội Thánh là loan báo Tin Mừng. Trước khi về cùng Chúa Cha, Chúa Giêsu đã sai các môn đệ đi loan báo Tin Mừng: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28, 19). Loan báo Tin Mừng không chỉ là sứ vụ chung của Hội Thánh mà còn là sứ vụ của mỗi Kitô hữu khi lãnh nhận bí tích Rửa tội. Tuy nhiên, nếu nhìn lại Hội Thánh Việt Nam thời gian vừa qua, chúng ta thấy người giáo dân chưa ý thức nhiều về bổn phận này. So sánh với anh chị em Tin Lành thì có lẽ anh chị em Công giáo còn thua kém về lòng nhiệt thành và sự quảng đại dấn thân cho việc truyền giáo. Đa số giáo dân nghĩ rằng người Kitô hữu tốt là người siêng năng đi lễ, đọc kinh, sống tốt với mọi người, tham gia một số công tác xã hội cứu trợ người nghèo, người bệnh, tích cực đóng góp vật chất cho việc xây dựng nhà thờ ở các nơi, còn việc truyền giáo là lãnh vực của các linh mục tu sĩ. Nhiều anh chị em giáo dân quên rằng tỉ lệ người Công giáo Việt Nam mới chỉ khoảng 7% dân số, nghĩa là chung quanh mình còn khoảng 93% anh chị em khác là Phật giáo, là Cao Đài, Hoà Hảo, hoặc không tôn giáo… Ngay cả các Giáo lý viên cũng không mấy thao thức đến sứ vụ truyền giáo.

Chính vì thế, Đại hội Dân Chúa vừa qua đã nhấn mạnh đến sứ vụ truyền giáo. Trong việc truyền giáo, cần quan tâm đến việc đối thoại với các tôn giáo và cả với những anh chị em không tôn giáo:
– Trong bối cảnh của xã hội Việt Nam, khi thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng, Giáo Hội cần đối thoại với các tôn giáo, với người nghèo, và với những anh chị em không tôn giáo. Đây là cuộc đối thoại từ trái tim đến trái tim nhằm xây dựng sự hiểu biết lẫn nhau và phục vụ hạnh phúc đích thực của con người. Đó cũng là cuộc đối thoại phục vụ ơn cứu độ (Đức Phaolô VI, Evangelii Nuntiandi 75-79; Vatican II, GS 92; Đức Gioan Phaolô II, Ecclesia in Asia 29). (TC 2011, số 39)

– Cuộc đối thoại với các tôn giáo sẽ giúp Giáo Hội tại Việt Nam xác tín hơn nữa vào tác động của Chúa Thánh Thần, Đấng đang dẫn dắt mọi người tới Chân Lý toàn vẹn (x. Ga 16, 13). Tại Việt Nam, chúng ta nhận thấy đức bác ái của đạo Công giáo đã gặp gỡ lòng từ bi của Phật giáo, cảm thức tâm linh của Đạo giáo, triết lý xã hội của Khổng giáo và lòng mộ đạo bẩm sinh của người dân Việt: luôn tôn kính Trời, thực hành Đạo Hiếu, bày tỏ lòng biết ơn đối với các đấng sinh thành cũng như đối với các bậc anh hùng dân tộc… Đồng thời, đối thoại cũng giúp Giáo Hội rộng mở hợp tác với các tôn giáo trong công cuộc lành mạnh hóa xã hội và thăng tiến con người. Hơn thế nữa, đây còn là cơ hội để Giáo Hội canh tân lòng tin của mình vào Đức Kitô là Khởi Nguyên và Cùng Đích của toàn thể lịch sử nhân loại (x. Vatican II, GS 45, 93). Ý thức tầm quan trọng của cuộc đối thoại với các tôn giáo, trong những năm sắp tới, Giáo Hội phải lưu tâm hơn nữa đến chiều kích này trong việc đào tạo nhân sự cũng như trong các hoạt động mục vụ. (TC 2011, số 40)

– Trong cuộc đối thoại với anh chị em không tôn giáo, Giáo Hội nhìn nhận những nỗ lực và thiện chí của họ trong việc phục vụ công ích. Các tín hữu cũng nên ý thức phần trách nhiệm của mình trước hiện tượng dửng dưng, tục hóa, duy vật…, vì nhiều khi chúng ta “đã che giấu hơn là bày tỏ khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa và tôn giáo” (Vatican II, GS 19). Đồng thời, với sự hiền hòa và lòng kính trọng, người Công giáo “sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của mình” (1 Pr 3,15), thẳng thắn trình bày quan điểm của Giáo Hội trước các vấn đề nhân sinh; nếu cần, sẵn sàng chấp nhận đau khổ để làm chứng cho chân lý Tin Mừng. Ngoài ra, qua cuộc đối thoại chân thành và thẳng thắn, Giáo Hội cũng có thể nhận ra hoạt động mầu nhiệm của Chúa Thánh Thần trong tâm hồn con người, và học được cách thế trình bày niềm tin của mình cho con người ngày nay. (TC 2011, số 42)

Từ những yêu cầu trên, cần nhìn lại và canh tân đường hướng dạy giáo lý tại Việt Nam:
– Nhấn mạnh mục tiêu việc Dạy Giáo lý là đào tạo người Kitô hữu, chứ không dừng lại ở việc chuẩn bị lãnh nhận các bí tích (Xưng tội, Rước lễ, Thêm sức, Hôn phối). Bởi thế, cần có một chương trình Giáo lý xuyên suốt theo tuổi từ thiếu nhi cho đến người lớn. Lâu nay, đa số các giáo xứ chỉ dừng lại ở các lớp giáo lý cho thiếu nhi chứ chưa quan tâm đến các lớp giáo lý cho người lớn (ngoại trừ các lớp dự tòng và dự bị hôn nhân). Tuy nhiên hiện nay ở nhiều nơi, sau khi Thêm sức, các em nghỉ học giáo lý. Lý do là phải đi học thêm. Thực ra nguyên nhân chính không phải do các em mà là do chính phụ huynh của các em. Riêng các lớp dự tòng, nhiều trường hợp trở lại là để lấy vợ lấy chồng có đạo. Bởi vậy, có nhiều người học giáo lý theo kiểu đối phó. Cưới xong, họ không còn quan tâm gì đến đạo. Đây là một thực tế mà những người có trách nhiệm cần phải suy nghĩ để tìm ra phương hướng giải quyết.

– Nội dung giáo lý cần nhắm đào tạo về nhiều mặt: đức tin, nhân bản, cầu nguyện, đời sống tâm linh, Kinh Thánh, lòng nhiệt thành truyền giáo, lòng yêu mến Hội Thánh v.v… Cần đưa vào chương trình giáo lý một nền tu đức (linh đạo) phù hợp với người giáo dân Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi người tín hữu Việt Nam đang phải đối mặt với các trào lưu tục hoá: chủ nghĩa hưởng thụ, tôn thờ tiền bạc, vật chất, tôn thờ sự thành công, chủ nghĩa vô thần thực tiễn, dửng dưng tôn giáo, chủ nghĩa tương đối v.v… Dường như lâu nay các Giáo lý viên mới nhắm tới việc truyền thụ kiến thức giáo lý là chính còn những mặt khác chưa quan tâm đủ, kể cả các lớp giáo lý dự tòng. Có lẽ chúng ta mới đào tạo một tầng lớp Kitô hữu “giữ đạo” chứ chưa “sống đạo”. Giáo sư Nguyễn Khắc Dương có một nhận xét như sau: “Hình như người Công giáo VN chỉ mới có lòng sùng đạo, có thể là quảng đại, sẵn sàng hy sinh tài sản, thì giờ, sức lực, nhưng mới chỉ là giữ đạo chứ chưa thể hiện đạo, nghĩa là chỉ đạt nặng về phụng tự và luân lý, giữ luật chứ ít thấy có một đời sống nội tâm thiêng liêng sâu sắc. (“Quia respexit humilitatem meam”, Thế Tâm, 1997, tr.176).

– Ngoài phần học hỏi lịch sử Hội Thánh Công giáo toàn cầu và tại Việt Nam, cần có thêm phần giúp hiểu biết niềm tin những anh chị em chung quanh mình như Phật giáo, Cao Đài, Hoà Hảo, Hồi giáo, đạo Hiếu v.v… để có thể nhận ra những yếu tố mạc khải tiềm ẩn trong các niềm tin này, nhờ đó có thể đi vào việc đối thoại tôn giáo trong sự hiểu biết lẫn nhau và cộng tác với nhau trong việc phục vụ hạnh phúc đích thực của con người. “Khi giáo dục theo chiều hướng truyền giáo này, việc dạy giáo lý sẽ hình thành cuộc đối thoại liên tôn, có thể mang lại cho người tín hữu khả năng hiệp thông một cách có hiệu quả với những người thuộc các tôn giáo khác (x. EN 53 và RM 55-57). Việc dạy giáo lý phải cho thấy rằng mối liên hệ của Hội Thánh với những tôn giáo ngoài Kitô giáo, trước hết là mối liên hệ về nguồn gốc và định mệnh chung của loài người, cũng như mối liên hệ của rất nhiều “hạt giống Lời Chúa” đã được Ngài đặt để vào các tôn giáo này. Việc dạy giáo lý cũng sẽ giúp để biết dung hòa và đồng thời biết phân biệt: “sự loan báo Đức Kitô” và “sự đối thoại liên tôn”. Hai yếu tố này, mặc dầu liên kết mật thiết, nhưng không được lẫn lộn cũng như không được coi là tương đương. Thực vậy, “việc đối thoại không miễn trừ cho việc rao giảng Tin Mừng” (DGC 86b).

– Cũng cần giúp người giáo dân xem lại những việc đạo đức bình dân để có thể diễn tả đức tin Kitô giáo cách chân thực, sống động và phù hợp với văn hoá Việt Nam. (x. DGC 195).

KẾT LUẬN
Trên đây chỉ là một vài suy nghĩ thô thiển xin được đóng góp với đại hội để giúp suy nghĩ thêm về phương hướng Dạy Giáo lý cho Hội Thánh Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên điều quan trọng không chỉ là soạn thảo một bộ giáo lý đáp ứng những yêu cầu canh tân Hội Thánh Việt Nam như Đại hội Dân Chúa vừa qua mong ước, mà còn phải quan tâm đặc biệt đến việc đào tạo Giáo lý viên. Nếu muốn có những người tín hữu trưởng thành,biết nỗ lực thamgia cách tích cực vào đời sống và sứ mệnh của Hội Thánh thì những người đào tạo tức là các Giáo lý viên và các linh mục phải là những người tiên phong đi trước. Không thể có những người giáo dân tích cực trong việc truyền giáo nếu không có những Giáo lý viên và các vị mục tử biết thao thức và hy sinh dấn thân cho công việc rao giảng Tin Mừng.

¬¬¬¬¬____________________________________
Chữ viết tắt:
– CEC: Catechismus Catholicae Ecclesiae (Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo), 1992. Bản dịch của Uỷ Ban Giáo lý Đức tin, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, 2010.
– ChL: ĐGH Gioan Phaolô II, Tông huấn Christifideles Laici (Tông huấn Người Kitô hữu Giáo dân), 1988
– CT: ĐGH Gioan Phaolô II, Tông huấn Catechesi Tradendae (Tông huấn Dạy Giáo lý), 1979
– DGC: Thánh bộ Giáo sĩ, Directorium Catechisticum Generale (Hướng dẫn Tổng quát việc Dạy Giáo lý), 1997
– EN: ĐGH Phaolô VI, Thông điệp Evangelii Nuntiandi (Thông điệp Loan báo Tin Mừng), 1975
– GCM: Bộ Truyền giảng Phúc Âm cho các Dân tộc, Hướng dẫn các giáo lý viên, 1993
– RM: ĐGH Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris missio (Thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu Độ)
– TC 2011: Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Thư chung hậu Đại hội Dân Chúa 2010
– UR: Cđ Vaticanô II, sắc lệnh Unitatis Redintegratio (Sắc lệnh về Hiệp Nhất), 1965
Nguon: http://giaolyductin.org/newsview/vn/238/BAI-THAM-LUAN-3–DAY-GIAO-LY-THEO-HUONG–GIAO-DUC-DOI-SONG-CONG-DOAN-VA-TINH-THAN-TRUYEN-GIAO-.html

Advertisements

GIÁO LÝ VÀ NỖ LỰC TÌM LẠI CĂN TÍNH

A. HÀNH TRÌNH TÌM LẠI CĂN TÍNH

Trong suốt chiều dài lịch sử, việc dạy giáo lý có những phương thức khác nhau. Vì thế, người ta thường hỏi đâu là bản chất đích thực và đặc điểm của nó. Câu hỏi trở nên cấp thiết khi công đồng Vatican II thực hiện một bước ngoặt quyết định làm thay đổi truyền thống trong việc dạy giáo lý của Giáo Hội. Để tìm được câu trả lời, thiết tưởng chúng ta phải nhìn lại một cách hệ thống chiều dài lịch sử của việc dạy giáo lý.

1. Trong thời hiện đại: việc dạy giáo lý giản lược vào việc “dạy thủ bản giáo lý”

Toàn bộ thời hiện đại, từ thế kỷ XVI cho đến giữa thế kỷ XX, chú tâm vào việc dạy thủ bản hay toát yếu giáo lý Kitô giáo (compendium), thủ bản trở thành công cụ ưu việt của việc dạy giáo lý.

Suốt thời hiện đại, đã có những ghi nhận về việc sử dụng và tầm quan trọng của những sách giáo lý truyền thống từ thời công đồng Trentô đến sách giáo lý của ĐTC Piô X, trong số đó, có những sách rất phổ biến như Canisio, Bellarmino, Astete, Ripalda, Deharbe, vv. Đã từ lâu việc dạy giáo lý được hiểu như việc ghi nhớ, giải thích và áp dụng vào cuộc sống những bản tóm tắt hay toát yếu giáo lý Kitô giáo này; chúng được biên soạn cách rõ ràng, cô đọng, dưới hình thức hỏi thưa, bao gồm những chân lý đức tin cần thiết cho ơn cứu độ, những giới luật hoặc nguyên tắc thực hành và những phương tiện hay công cụ siêu việt như ân sủng và bí tích.

Suy tư về giáo lý nghiêng về phương tiện ưu việt này và về mô hình sư phạm nghịch lại mô hình mục vụ. Bên cạnh những ưu điểm và lợi ích không thể phủ nhận, có thể đưa ra không ít những giới hạn của nó: chú trọng đến thần học nhiều hơn sư phạm của sứ điệp, sử dụng ngôn ngữ trừu tượng, sự nghèo nàn về Kinh Thánh và phụng vụ, quy trình diễn giải, sư phạm kiểu “lên lớp” và “hộ giáo”, vv. Không chỉ như thế, việc dạy giáo lý bị đồng hóa với việc “dạy thủ bản” cũng xuất hiện trong dòng lịch sử gắn với thời mà phần lớn “Kitô giáo” vẫn còn duy nhất và thuần nhất. Có thể nói rằng, trên nhiều bình diện, giáo dục tôn giáo tìm được trong môi trường gia đình và xã hội nhiều kênh truyền thông và ảnh hưởng bổ khuyết phần nào cho những thiếu sót của phương pháp dạy giáo lý này.

Thời gian trôi qua, việc bỏ đạo gia tăng, sự bất mãn và bận tâm cũng tăng lên; người ta thấy cần phải suy nghĩ lại thành phần của những hoạt động giáo lý khác nhau. Phong trào giáo lý nảy sinh và phát triển từ đó.

2. Thời tiền công đồng: từ việc “dạy thủ bản giáo lý” đến việc “dạy giáo lý”

Vào khoảng cuối thế kỷ XIX, một sự xoay chuyển lớn về ý tưởng và những sáng kiến được phát triển dẫn đến việc canh tân và khuếch trương giáo lý trong Giáo Hội được gọi là “phong trào giáo lý”.

Một chuỗi gợi ý và chỉ dẫn mang tính chính thức của phong trào được ghi nhận bắt nguồn từ Rôma, sau đó ảnh hưởng tới những quốc gia và các Giáo Hội địa phương khác. Điều này làm chúng ta liên tưởng đến công trình tiên khởi của ĐTC Piô X, với thông điệp “Acerbo Nimis” (1905) và những sách giáo lý mang tên ngài (1905 và 1912), bản tuyên ngôn “Provido Sane” năm 1935 và Hội nghị Giáo lý Quốc tế ở Rôma năm 1950. Trong các quốc gia, chúng thấy có những hội nghị giáo lý khác nhau, nỗ lực soạn thảo sách giáo lý cấp quốc gia, những công trình không biết mỏi mệt của những nhà khai sáng khác nhau trong việc canh tân giáo lý.

Phong trào giáo lý cũng tìm được một số quốc gia làm nơi thuận tiện để xem xét lại hoạt động giáo lý dưới ảnh hưởng của nền thần học và sư phạm đương thời cũng như việc sử dụng những phương thế phân tích và giải thích mới. Trong ý hướng này, phải tuyên dương đặc biệt các nước Đức, Áo và Pháp. Nhìn chung về phong trào giáo lý ở châu Âu, người ta có thể phân biệt ba ảnh hưởng mang tính quyết định đó là sư phạm, phụng vụ và thần học-mục vụ.

Ảnh hưởng sư phạm
Ảnh hưởng đầu tiên (từ cuối thế kỷ XVIII đến thế chiến thứ hai) phát xuất từ mối bận tâm về phương phápdạy môn tôn giáo và từ ảnh hưởng của những ý tưởng lớn về sư phạm và tâm lý (O. Willmann, J.F. Herbart, J. Dewey, G. Kerschenstainer, A. Ferrière, vv.). Bận tâm chính là tìm ra cách dạy giáo lý tốt hơn, đặc biệt là điều kiện và cách học của trẻ em. Điều này nhắc ta nhớ đến ảnh hưởng của “phương pháp đan sĩ (Monaco)” và công trình không mỏi mệt của những người tiên phong trong việc canh tân giáo lý như H. Stieglitz, A. Weber, W. Pichler, M. Pfliegler, C. Quinet, M. Fargues, F. Derkenne, M. Montessori, J.M. Dingeon, vv…

Ảnh hưởng phụng vụ

Ảnh hưởng phụng vụ phát xuất từ việc canh tân phụng vụ, đặc biệt từ cách giải thích mục vụ (B. Beaudin, Hội nghị Malines 1908 và Monserrat 1915). Nỗ lực canh tân này đưa những yêu cầu và phương thức phụng vụ như bài hát, cử hành, biểu tượng, cử chỉ, vv…vào trong giáo lý.

Ảnh hưởng thần học-mục vụ

Ảnh hưởng thần học-mục vụ xảy ra giữa thế chiến thứ hai và CĐ Vatican II, phát xuất từ vấn đề nội dung hoặc sứ điệp của giáo lý là “kerygma”. Người ta phản đối cấu trúc trừu tượng và giáo điều của sách giáo lý truyền thống và tán thành việc trở lại với “kerygma” của các tông đồ cũng như với truyền thống giáo lý chân thực của Giáo Hội. Người ta khám phá lại tính quy Kitô của giáo lý, trọng tâm của lịch sử cứu độ, chiều kích Kinh Thánh và phụng vụ của sứ điệp Kitô giáo, khái niệm giáo lý như là việc giáo dục đức tin. Một vài khuôn mặt đáng nhớ về ảnh hưởng này: J.A. Jungmann, F.X. Arnold, G. Delcuve, J. Colomb, F. Schreibmayr, K. Tilmann, J. Hofinger.

3. Bước ngoặt công đồng Vatican II:duyệt xét lại toàn bộ việc dạy giáo lý

Công đồng Vatican II có ảnh hưởng sâu rộng và quyết liệt trên việc dạy giáo lý. Có thể nói Công Đồng đã khép lại “thời đại dạy thủ bản giáo lý” và mở ra công cuộc rà soát lại nền tảng của việc dạy giáo lý. Mặc dù Công Đồng không đề cập trực tiếp đến giáo lý, nhưng toàn bộ công trình của Công Đồng buộc ta phải thay đổi cách hiểu về nhiệm vụ của việc dạy giáo lý, qua việc xem xét lại một số điểm căn bản về việc dạy giáo lý như Lời Chúa, đức tin và Giáo Hội.

Hậu Công đồng là một thời kỳ đầy chấn động về giáo lý cũng như về các vấn đề khác trong đời sống Giáo Hội, một thời kỳ thật phong phú nhưng cũng rất phức tạp. Phong phú vì có nhiều công trình nghiên cứu những đường lối mới, đầy nhiệt thành và sáng tạo. Người ta soạn thảo nhiều sách giáo lý mới với những bản văn và tài liệu hỗ trợ, lập ra những Học viện và Trung tâm Huấn giáo lý. Nỗ lực suy tư về giáo lý dẫn đến nhiều bình diện hay chiều kích mới trên bình diện thực hành như đòi hỏi về nhân học, trọng tâm Kinh Thánh, chiều kích chính trị và xã hội, ưu tiên cho người lớn, ảnh hưởng của truyền thông và cách riêng của truyền thanh và truyền hình, tầm quan trọng của cộng đoàn, vv… Những thúc đẩy và tác động lớn lao này có khả năng phác họa một khuôn mặt thực sự mới mẻ về hoạt động giáo lý.

Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng có một thời kỳ thực sự bất ổn và phức tạp không thể kiểm soát được do những biến đổi và những sự mới mẻ gây ra. Thông thường một hoàn cảnh bất ổn và phức tạpnhư thế sẽ làm cho toàn bộ hoạt động giáo lý bị khủng hoảng về nội dung, phương pháp, môi trường, đối tượng, nhân sự, vv… đồng thời tạo ra xung đột và rối loạn, tranh cãi và căng thẳng, khủng hoảng về nhân sự và tổ chức, những cố gắng không chuyên môn và những kinh nghiệm chín muồi tỏa sang. Chúng ta không được quên rằng tận sâu thẳm của mọi biến đổi đều có những nguy cơ và những khó khăn; đây là cái giá phải trả cho mọi nỗ lực canh tân nghiêm túc.

4. Sự đóng góp của Huấn quyền về việc dạy giáo lý

Trong thời hậu Công đồng, cũng có rất nhiều chỉ dẫn giúp canh tân giáo lý một cách đúng đắn và có trật tự. Chúng ta nhớ đến những văn kiện và tài liệu của Giáo Hội Phổ quát như Hướng Dẫn Giáo Lý Tổng Quát năm 1971, Nghi thức Khai tâm Kitô giáo cho người lớn” (OICA/RICA), Thượng Hội Đồng Gíam Mục năm 1974 và 1977 với các tông huấn kết thúc Loan báo Tin Mừng (Evangelii Nuntiandi) và Dạy giáo lý (Catechesi Tradendae), tông thư Sứ vụ Đấng cứu độ (Redemptoris Mission – 1990), Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo (1992) và văn kiện mới Hướng Dẫn Tổng Quát về việc Dạy Giáo Lý (1997).

Bên cạnh những chỉ dẫn đại thể này, còn có những tài liệu hướng dẫn không kém phần quan trọng và ý nghĩa của các Giáo Hội địa phương, chẳng hạn tài liệu của các Giáo Hội châu Mỹ la tinh: Medellín, Puebla và S.Domingo.

Cần có sự minh định

Dạy giáo lý là một trong những hình thức thực thi sứ vụ Rao giảng Lời Chúa hoặc thừa tác vụ Ngôn sứ của Giáo Hội, bên cạnh các hình thức khác như Loan báo Tin Mừng đầu tiên, giảng dạy trong phụng vụ, suy tư thần học, vv… Vì thế, việc dạy giáo lý chỉ có thể tìm lại căn tính của mình trong viễn tượng Rao giảng Tin Mừng (RGTM). Việc đề cao tính ưu việt của RGTM trong sứ mạng của Giáo Hội có vẻ làm mờ nhiều chức năng truyền thống của việc dạy giáo lý, chí ít buộc chúng phải được xem xét lại. Cặp từ “RGTM và Giáo lý” thường xuất hiện trong các văn kiện và chương trình mục vụ mà trước đây những tài liệu ấy chỉ nói đến giáo lý. Người ta cũng nói đến “giáo lý phúc âm hóa”, “giáo lý truyền giáo” vv… và ưu tiên chọn RGTM đến độ hoạt động giáo lý chừng như biến mất hay bị lu mờ.Do đó, thiết nghĩ cần phải làm sáng tỏ vấn đề này.

Một khó khăn khác nảy sinh từ việc giáo lý có rất nhiều hình thức khác nhaunhư lộ trình dự tòng, chuẩn bị lãnh nhận các bí tích, các nhóm suy tư, các khóa huấn luyện, đọc Kinh Thánh, vv…, và hoạt động giáo lý cũng có nhiều tên gọi khác nhaunhư dạy đạo, giáo dục đức tin, dạy giáo lý, dạy tôn giáo, huấn luyện đạo đức, vv… Khi nói đến giáo lý, người ta cũng nói đến những hoạt động rất đa dạng nhưcử hành phụng vụ, cầu nguyện và chiêm niệm, các nhóm linh thao, sống & chia sẻ, các hiệp hội và phong trào, vv… Như thế, “giáo lý” dường như có mặt ở mọi nơi mọi chỗ, do đó, đánh mất ý nghĩa và căn tính của nó trong sự hòa hợp các chức năng khác nhau của cộng đoàn Kitô hữu. Một lần nữa, cần phải làm sáng tỏ và đào sâu ý nghĩa của việc dạy giáo lý.

B. CĂN TÍNH CỦA VIỆC DẠY GIÁO LÝ

Bản chất và ý nghĩa của việc dạy giáo lý được xác định trong viễn tượng Rao giảng Tin Mừngcũng như trong khuôn khổ sứ vụ của Giáo Hội, tức thừa tác vụ Lời Chúa.

1. Rao giảng Tin Mừng
Từ “Rao giảng Tin Mừng” hay “Phúc Âm hóa” (evangelization), trong CĐ Vatican II, chưa được xác định rõ, nhưng sau Công Đồng không những được xác định rõ mà còn được biết đến cách rộng rãi, nhất là trong thập niên 70. Thuật ngữ này xuất hiện trong các văn kiện, tài liệu, hội nghị và chương trình mục vụ và ảnh hưởng một cách nào đó trên THĐGM năm 1974 và sau đó trên tông huấn Evangelii Nuntiandi của ĐTC Phaolô VI năm 1975. Từ thập niên 80 và 90, xuất hiện lối diễn tả “Tân Phúc Âm hóa”, đặc biệt cho bối cảnh Âu Mỹ.

Thuật ngữ “Rao giảng Tin Mừng” hay “Phúc Âm hóa” (evangelization) ngày xưa được dùng cho những vùng “truyền giáo” và được hiểu như là sứ mạng chính yếu của toàn thể Giáo Hội:

“Chúng tôi muốn tái khẳng định rằng việc sai đi RGTM cho muôn dân làm nên sứ mạng chính yếu của Giáo Hội. Nhiệm vụ và sứ mạng này không giảm thiểu tính khẩn thiết của nó trong một xã hội nhiều chuyển biến lớn lao và sâu xa. Thật vậy, việc RGTM là ân sủng, là ơn gọi thiết yếu và là bản chất sâu xa của Giáo Hội” (EN 14).

Trong Tân ước, động từ “loan báo” (euanghelìzesthai) khi thì được dùng theo nghĩa hẹp là công khai và long trọng tuyên bố ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban cho mọi người trong Đức Giêsu Kitô – Đấng đã chết và đã sống lại, khi thì được dùng theo nghĩa rộng để chỉ toàn bộ hoạt động của Giáo Hội, bằng lời nói và cuộc sống, làm cho ơn cứu độ thành hiện thực.

Trọng tâm của việc RGTM luôn luôn là “Tin Mừng/Phúc Âm”. RGTM nghĩa là loan báo Tin Mừng Cứu độ, công bố Nước Trời, mạc khải “mầu nhiệm” được ẩn giấu nơi Thiên Chúa, loan báo cuộc Vượt qua của Đức Kitô – mạc khải siêu việt và kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa trong lịch sử.

Trong các văn kiện CĐ Vatican II, từ “RGTM” chuyển từ nghĩa hẹp là RGTM cho người chưa tin để họ hoán cải và gia nhập đạo, đến nghĩa rộng hơn là RGTM trong toàn bộ hoạt động ngôn sứ hoặc truyền giáo của Giáo Hội. Khảo sát thuật ngữ“RGTM” trong các văn kiện Công Đồng, Grasso kết luận như sau:

“Chúng ta có thể phân biệt ba ý nghĩa sau: hoặc chỉ việc dạy dỗ muôn dân (Ad gentes 6,26), hoặc chỉ toàn bộ thừa tác vụ lời (Lumen gentium 3,18; Christus Dominus 6,10; Gaudium et Spes 44,13; Apostolicam Actuositatem 2,20, vv.), hoặc chỉ toàn bộ hoạt động truyền giáo của Giáo Hội (Ad Gentes 23,6; 27,15, vv.)”

Trongcác văn kiện hậu Công Đồng, ý nghĩa của từ RGTM được xác định rõ và được hiểu theo nghĩa rộng, tức toàn bộ hoạt động truyền giáo của Giáo Hội được thực hiện dưới mọi hình thức. Tông huấn Evangelii Nuntiandi đã xác định nghĩa rộng của từ này, áp dụng nghĩa này trong cái nhìn phức hợp (17) và sự phong phú của mọi chiều kích (18-24).

“Chúng tôi đã tuyên bố, RGTM là một tiến trình phức hợp gồm nhiều yếu tố khác nhau: canh tân nhân loại, làm chứng, loan báo minh bạch, gắn kết tâm hồn, hội nhập cộng đoàn, chấp nhận những dấu chỉ, những sáng kiến tông đồ” (EN 24).

Nghĩa rộng của từ này cũng được Hướng dẫn Tổng quát việc Dạy Giáo lý chấp nhận:
“Loan báo, làm chứng, giáo huấn, các bí tích, yêu tha nhân, thâu nạp môn đệ: tất cả những sắc thái ấy đều là những con đường và phương tiện cho việc truyền đạt Phúc Âm và làm thành những yếu tố của việc RGTM […]. Những thừa tác viên của việc RGTM phải biết hành động với một “cái nhìn tổng thể” về chính việc RGTM và đồng hóa nó với toàn bộ sứ mạng của GIÁO HỘI” (46).

“Việc RGTM phải được quan niệm như tiến trình mà qua đó Hội Thánh loan báo và phổ biến TM cho toàn thế giới dưới sự thúc đẩy của Thánh Thần” (48).

Trong ý thức hiện tại của Giáo Hội, RGTM là loan báo và làm chứng cho Tin Mừng từ phía Giáo Hội, qua tất cả những gì Giáo Hội nói, Giáo Hội làm và Giáo Hội là. Nó bao gồm toàn bộ hoạt động của Giáo Hội nhắm đến việc loan báo và làm chứng Tin Mừng Nước Trời. Có thể nói định nghĩa này đánh dấu một bước ngoặt trong công cuộc Rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội. Giáo Hội sẽ “không có nghĩa gì nếu như nó không trở thành chứng tá, khơi lên lòng cảm phục và hoán cải, khi giảng dạy và loan báo Tin Mừng” (EN 15). Ý nghĩa của thuật ngữ RGTM giúp chúng ta xác định căn tính của việc dạy giáo lý, ngay bên trong tác vụ Lời Chúa.

2. Việc dạy giáo lý trong tác vụ Lời Chúa

Ngay từ thời các tông đồ, việc phục vụ Lời Thiên Chúa (Cv 6,2-4) đã được xem là yếu tố nền tảng của việc RGTM (x. HDTQ 50). Cùng với việc “làm chứng” (martyria), giáo lý là một phần của tác vụ Lời Chúa.

Các hình thức phục vụ Lời Chúa: Theo truyền thống của Giáo Hội, có ba hình thức chính yếu phục vụ Lời Thiên Chúa: loan báo Tin Mừng đầu tiên (kerygma), dạy giáo lý (catechesis) và giảng dạy trong phụng vụ (homily). Cách phân chia này vừa ám chỉ những đối tượng khác nhau (người chưa tin, người dự tòng, người tín hữu), vừa nói đến tiến trình tháp nhập vào nhiệm cục bí tích (hoán cải, rửa tội, thánh thể), cũng như những giai đoạn chính trong tiến trình năng động của đức tin (tiếp nhận đức tin, đào sâu đức tin, sống đức tin). Hướng dẫn Tổng quát việc Dạy giáo lý (s. 51) phân biệt 5 hình thức của tác vụ Lời Chúa: qui tụ và mời gọi đón nhận đức tin, khai tâm, giáo dục đức tin thường xuyên, chức năng phụng vụ và chức năng thần học. Cách phân chia này không cho thấy hết toàn bộ lý thuyết cũng như thực hành mục vụ. Trên thực tế, không có sự phân biệt rạch ròi như thế; những hình thức đó thông thường, vì lý do mục vụ, phải đảm nhận cùng một lúc nhiều chức năng khác nhau (HDTQ 52). Cách phân chia truyền thống có thể làm sáng tỏ hơn.

Chứng từ Thánh Kinh và lịch sử: Các Giáo Hội tông truyền chứng minh một thực tế rất khác mà không ấn định các hình thức phục vụ Lời Chúa. Chính từ việc đáp trả trong đức tin lời loan báo Tin Mừng, rồi phát triển và đào sâu Lời Chúa dưới những hình thức khác nhau mà cộng đoàn hiện diện và làm chứng trước mặt mọi người. Sau đây là một vài hình thức đặc trưng được liệt kê một cách tổng quát:

“Việc loan báo Tin Mừng, nghĩa là việc loan báo Tin Mừng đầu tiên, với mục đích khơi dậy nơi người chưa có đức tin ước muốn gia nhập đạo; việc dạy giáo lý hay huấn giáo, là việc đào sâu, có mục đích giúp hiểu cặn kẽ và rút ra những hệ quả cho cuộc sống từ trọng tâm sứ điệp Tin Mừng; việc ngôn sứ, là việc thúc đẩy cộng đoàn phân định thánh ý Thiên Chúa trong lịch sử; làm chứng, là việc minh họa, bảo đảm và thuyết phục; khuyến thiện, là việc sửa dạy và làm cho thêm hăng hái”.

Những hình thức phục vụ Lời kể trên làm nên đời sống của các cộng đoàn, đời sống này trở thành điểm chuẩn để nối kết trung thành với sứ điệp cứu độ duy nhất. Dựa vào sự chuyển biến của từ ngữ tìm thấy trong Tân Ước, người ta có thể phân biệt giữa thời điểm đầu tiên của việc loan báosứ điệp, qua những động từ như “la lên” (krazein), “công bố” (keryssein), “truyền đạt” (euangelizein), “làm chứng” (martyrein), và thời điểm thứ hai của việc diễn giải và đào sâu,qua những động từ như “dạy dỗ” (didaskein), “dạy giáo lý” (katechein), “thuyết giảng” (homilein), “loan truyền” (paradidonai) và những từ tương tự. Vào thời điểm thứ hai của việc diễn giải và đào sâu, chúng ta tìm thấy từ “dạy giáo lý” (katechein):

“Keryssein có tương quan ngữ học với katechein. Keryssein (công bố) chỉ thể thức căn bản của một lời, một sứ điệp, so với katechein (dạy giáo lý) chỉ tiếng vang kéo dài dẫn đến việc thông hiểu sứ điệp”.

Từ “katechein” cho thấy tính mới mẻ của Tân ước, nhấn mạnh đến tính độc đáo của giáo lý, bao hàm việc “làm vang vọng” một Lời vượt trên hết mọi sự và không gì có thể thay thế được. Theo nghĩa đen, “katechein” có nghĩa là “vang vọng, làm vang vọng”, tương ứng với ý nghĩa của các từ như giảng dạy, lên tiếng dạy dỗ, tường thuật, kể lại (xem Lc 1,4; Cv 18,25; 21,21; Rm 2,18; 1 Cr 14,19; Gal 6,6).

Trong thời hậu các tông đồ và các giáo phụ, việc dạy giáo lý có một ý nghĩa chính xác nhất; đó là việc giảng dạy căn bản đức tin Kitô giáo trong bối cảnh dự tòng. Vào thời trung cổ, từ “dạy giáo lý” (catechesis) biến mất và được thay thế bằng những từ như “sách giáo lý” (catechism), “huấn thị” (instruction), thường ở dạng hỏi-thưa như thấy trong phần mở đầu nghi thức rửa tội. Trong thời hiện đại (thế kỷ XVI-XIX) hoạt động giáo lý trở nên hưng thịnh với những phương tiện (các sách báo về giáo lý được in ấn và phổ biến) và tên gọi khác nhau như dạy bổn, dạy đạo, dạy tôn giáo, vv. Chỉ với sự phát triển của phong trào giáo lý ở thế kỷ XX, người ta mới lấy lại định nghĩa truyền thống về “dạy giáo lý”, với ý định vừa khám phá lại ý nghĩa đích thực vừa giải thích lại ý nghĩa của nó dưới ánh sáng của những điều kiện lịch sử và văn hóa biến đổi.

3. Bản chất của việc dạy giáo lý
Truyền thống Giáo Hội cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa các hoạt động được diễn tả bằng từ “dạy giáo lý” hoặc các từ tương đương. Trong những thời đại nhất định, các từ này biểu thị những hình thức hoạt động thường làm nên các tổ chức như dự tòng thời cổ đại, khai tâm bí tích, dạy đạo cho người lớn và trẻ em, dạy tôn giáo trong nhà trường, vv. Từ “dạy giáo lý” ngày nay, theo giáo huấn của Giáo Hội, được hiểu theo nghĩa rộng và xác thực hơn.
Hiện có rất nhiều định nghĩa về giáo lý; một vài định nghĩa được sử dụng và trích dẫn trong các văn kiện chính thức của Giáo Hội, chẳng hạn Công Đồng nói đến “việc dạy giáo lý” để “khơi dậy đức tin nơi mọi người và làm cho đức tin ấy, nhờ đạo lý soi dẫn, trở nên sống động, dứt khoát và tích cực» (CD 14); hoặc định nghĩa của THĐGM năm 1977:

«Công việc này … bao gồm việc giáo dục đức tin có tồ chức, phát triển và thống nhất với một tiến trình trưởng thành đức tin vững chắc».

Một định nghĩa khác trong Hướng dẫn Giáo lý Tổng quát năm 1971:
«Trong lãnh vực hoạt động mục vụ, giáo lý là hoạt động Giáo Hội dẫn dắt các Kitô hữu và các cộng đoàn đạt tới một đức tin trưởng thành» (HDGL 21).

Trong Hướng dẫn Tổng quátviệc Dạy Giáo lý năm 1997, “dạy giáo lý là một trong những thời điểm chính yếu của tiến trình rao giảng Tin Mừng … Thời điểm của việc dạy giáo lý là thời gian để hình thành cuộc trở lại với Chúa Giêsu” (s.63) và “đặt nền tảng cho tòa nhà đức tin” (s.64), “là sự khai tâm có tổ chức và hệ thống hướng về Mạc khải” (s.66). Đặc biệt việc dạy giáo lý khai tâm được diễn tả như là “một sự đào tạo có tổ chức và có hệ thống về đức tin” (s.67), hơn hẳn việc giảng dạy truyền thống:

«Việc đào tạo có tổ chức và có truyền thống này còn hơn là một sự giảng dạy: đó là một cuộc tập luyện toàn bộ đời sống Kitô giáo, “một sự khai tâm Kitô giáo trọn vẹn” dẫn đến cuộc sống đích thực theo chân Đức Kitô, tập trung vào Ngôi vị của Người. Thực vậy, đó là việc giáo dục để nhận biết và sống đức tin sao cho qua những kinh nghiệm sâu sắc của mình, con người toàn diện tự cảm thấy mình phong phú nhờ Lời Chúa»(HDTQ 67).

Dẫu có những diễn tả khác nhau, nhưng Giáo Hội hiện thời vẫn thống nhất ý kiến trong việc nhận ra căn tính của giáo lý xoay quanh 3 trục chính: Lời Chúa, Đức tin và Giáo Hội:

• Dạy giáo lý là tác vụ Lời Chúa; vì vậy, dạy giáo lý là phục vụ Tin Mừng, là thông truyền sứ điệp Kitô giáo và loan báo Đức Kitô;
• Dạy giáo lý là giáo dục đức tin; trongcông cuộc giáo dục này, Giáo Hội giữ vai trò trung gian để giúp cho đức tin nảy sinh và tăng trưởng nơi từng người cũng như nơi cộng đoàn;
• Dạy giáo lý là hoạt động của Giáo Hội; hoạt động nàydiễn tả thực tại và sứ mạng chính yếu của Giáo Hội.
Tóm lại, dạy giáo lý là hình thức phục vụ Lời Chúa của Giáo Hội nhằm mục đích làm cho từng người và từng cộng đoàn trưởng thành trong đức tin.

4. Một vài xác định và chọn lựa ưu tiên

Giáo lý là một thời điểm có ý nghĩa trong toàn bộ tiến trình Rao giảng Tin Mừng.Nếu như trong thực tế, Giáo Hội phối hợp loan báo và làm chứng cho Tin Mừng lại với nhau, thì giáo lý luôn là một hình thức Rao giảng Tin Mừng:

«Việc dạy giáo lý nằm trong sứ mạng rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội và được coi là ‘thời điểm’ chính yếu, nó kín múc trong công cuộc RGTM động lực truyền giáo đã đem lại cho nó sự phong phú nội tại và căn tính đặc thù»(HDTQ 59; x. DGL 18).

Về bản chất, giáo lý là một thời điểm khác biệt và tiếp nối thời điểm loan báo Tin Mừng đầu tiên(HDGL 61). Nó giả định bước loan báo đầu tiên này thúc đẩy sự hoán cải ban đầu. Điều này không luôn xảy ra nhưng xác lập biên giới giữa 2 thời điểm, thực tế, việc dạy giáo lý bao hàm việc hoán cải và kêu gọi hoán cải (HDGL 62). Hoàn cảnh mục vụ ngày nay khiến việc dạy giáo lý phải thực thi luôn chức năng truyền giáo, đặc biệt trong các Giáo Hội có truyền thống Kitô giáo lâu đời, nơi mà xã hội mang đậm tính Kitô giáo nhưng không hành xử theo đức tin.

Như vậy, điểm nổi bật trong toàn bộ hoạt động giáo lý là việc dạy giáo lý khai tâm dưới các dạng thức khác nhau, chẳng hạn việc đào tạo có tổ chức và có hệ thống về đức tin (HDGL 67), và việc dạy giáo lý có một chức năng không thể thay thế được trong tiến trình RGTM:

«Việc dạy giáo lý khai tâm, vì thế, là mắt xích nối kết hoạt động truyền giáo là mời gọi tin, với hoạt động mục vụ là làm sống lại cộng đoàn Kitô giáo. Vậy đây không phải là một hoạt động tùy tiện, nhưng là nền tảng phát huy chính nhân cách của người môn đệ cũng như cộng đoàn»(HDTQ 64).

Trong bối cảnh này, người ta dành ưu tiên cho giáo lý người lớn; một chọn lựa chín chắn trong thời hậu công đồng và được khắp nơi tán thành:

«Các mục tử cũng nên nhớ rằng việc dạy giáo lý cho người lớn là việc dạy giáo lý trực tiếp cho những người có khả năng gia nhập và dấn thân thực sự có trách nhiệm, hình thức dạy giáo lý này cùng với những hình thức khác, được xem là hình thức chính của việc dạy giáo lý, cho nên không được xem nhẹ nhưng phải xem là mệnh lệnh” (HDGL 20).

Chức năng dạy giáo lý của Giáo Hội rất rộng lớn và được thực hiện dưới những hình thức khác nhau: cá nhân và cộng đoàn, tự phát và có tổ chức, cơ hội và có hệ thống. Đan cử những hình thức khác nhau: giảng dạy, khuyên răn, thảo luận, làm chứng, suy tư, vv. Những hình thức này được thực hiện trong những sinh hoạt đa dạng và cụ thể: những lộ trình dự tòng, chuẩn bị lãnh các bí tích, các khóa huấn luyện tôn giáo, suy tư cộng đoàn, giảng dạy phụng vụ, truyền thông đại chúng, vv. (x. HDGL 71).

Chức năng và những hình thức dạy giáo lý khác nhau không được làm mất đi căn tính của việc dạy giáo lý là phục vụ Lời Chúa hướng đến sự trưởng thành đức tin của người Kitô hữu. Cùng với những hoạt động khác của Giáo Hội, việc dạy giáo lý xác định rõ đặc điểm của mình là đào sâu (đối với đức tin ban đầu) và khai mở hoặc dẫn vào (những thực hành đạo đức khác nhau trong đời sống Kitô hữu như cầu nguyện, phụng vụ, cam kết, làm chứng, vv.). Cho nên, không phải mọi hình thức hoạt động trong đời sống Giáo Hội đều là “giáo lý”, cho dù có thể nói toàn bộ hoạt động của Giáo Hội luôn có mộtkhía cạnh hoặcchiều kích giáo lý.

Theo Emilio ALBERICH, La catechesi oggi. Manuale di catechetica fondamentale (Giáo lý ngày nay. Thủ bản nghiên cứu giáo lý căn bản), Elledici, TO, 2001, 61 – 77.

Md Phạm Thúy
Nguon : http://giaolyductin.org/newsview/vn/222/GIAO-LY–VA-NO-LUC-TIM-LAI-CAN-TINH-.html

SỰ ĐÓNG GÓP CỦA GIÁO LÝ TRONG HÀNH TRÌNH GIÁO DỤC CON NGƯỜI

Lm Valter Perini

1. Ý nghĩa của thuật ngữ “giáo dục”

• Giáo dục là dẫn vào thực tại, dẫn đến thực tại toàn vẹn” (L. Giussani che cita J. A. Jungmannn) “tiếp tục sinh ra” (S. De Giacinto);

• Trao tặng một sự trợ giúp, nâng đỡ và hướng dẫn đến những cái mới mẻ của xã hội, trong suốt tiến trình đó, người được hướng dẫn không ngừng ý thức tiến đến chỗ tự lập (nghiên cứu của Liên hiệp Giáo chức Công giáo Ý/UCIIM);

• “là những sửa đổi có kế hoạch của con người đều là sự quyết định tự do, đặc biệt trong những năm tuổi trẻ, nhờ vào việc can thiệp từ bên ngoài” (J. Dikov).

• “đó là việc mà tôi trao tặng cho con người tôi lòng dũng cảm, sự tự tin, là việc mà tôi chỉ cho tôi biết bổn phận của tôi là gì, là việc mà tôi can thiệp vào hành trình sống của tôi, giúp tôi có được sự tự do đối với chính mình. Vì thế tôi phải khởi đầu một câu chuyện về nhân loại và một câu chuyện mang tính cá nhân… Cuộc sống chỉ được thức tỉnh và thắp sáng từ cuộc sống. Sức mạnh giáo dục hệ tại ở việc chính tôi hướng mình về phía trước và tôi phải nỗ lực để lớn lên. Sau hết, như các tín hữu thường nói: giáo dục là việc dạy cho người khác tìm ra con đường đến với Thiên Chúa: không chỉ là chấp nhận những quy tắc trong cuộc sống, nhưng là “đứa trẻ này của Thiên Chúa” lớn lên cho tới khi đạt tới sự trưởng thành của Đức Kitô. Con người là con đường dẫn đến Thiên Chúa” (R. Guardini, Persona e libertà, Brescia 1987).

2. Việc giáo dục:
• Là trách nhiệm của nhiều người, nhiều giới: gia đình, giới lao động, trường học, cộng đoàn Kitô hữu, nhóm thể thao, bạn bè, những phương tiện truyền thông, vv.

• Ngày nay việc giáo dục được thực hiện trong một xã hội mang tính đa dạng do nhiều khía cạnh; khái niệm về con người thường đối nghịch với những hệ quả của “sư phạm khác biệt”;

• Quyền-phục vụ, về cơ bản trong một hành trình giáo dục, lẫn lộn với “uy quyền/quyền hành”

• Việc giáo dục liên quan đến tự do của người được giáo dục vì thế đó là một nguy cơ giữa hai sự tự do: tự do của nhà giáo dục và tự do của người thọ giáo. Không có chỉ thị nào ra lệnh sử dụng tự do. Theo nghĩa này, giáo dục là nghệ thuật: đặc sủng và năng lực/khả năng.

• Để tin tưởng vào sự hữu hiệu của giáo dục cần khắc phục ý tưởng cho rằng phải có những điều kiện “xuất sắc” để giáo dục. Không một kỹ thuật nào có thể thay thế được con người. Trong bất kỳ tình huống nào người ta đều có thể và phải “làm” giáo dục.

3. Một vài “lưu ý” dành cho việc giáo dục trong một xã hội đa dạng
• Ý thức rằng xã hội đồng nhất của ngày xưa không còn tồn tại nữa. Những biến đổi sâu xa của xã hội ngày nay đã làm đổ vỡ khế ước giáo dục giữa gia đình với xã hội và Giáo Hội. Chúng làm suy giảm cách thế phối hợp và cộng tác chung trong việc dẫn vào thực tại cũng như việc chuyển giao nghệ thuật sống.

• Cân nhắc nguy cơ phân rẽ của bản thể. Đứa trẻ bị choáng ngợp bởi những thông điệp mâu thuẫn nhau mà nó nhận được từ những nguồn giáo dục khác nhau. Chúng ta đang đứng trước một thách đố giáo dục mà gần đây và trước đây không có.

• Tránh những hạn chế (đặt người thọ giáo vào “một cái chuông thủy tinh” (una campana di vetro)”, không dám cho nó đối diện với những nhận thức và kiểu sống khác với nó, hoặc để nó đơn độc trong những môi trường sống khác biệt.

• Sống kinh nghiệm cộng đoàn như điều kiện để giáo dục.

4. Những điều kiện để việc dạy giáolý góp phần vào việc giáo dục con người. Cộng đoàn như điều kiện của việc giáo dục đức tin

• Trong tài liệu “Giáo dục đời sống tốt lành theo Tin Mừng” các Giám mục đã khẳng định: “Giáo xứ, là một cộng đoàn gần gũi cách đặc biệt với kinh nghiệm của con người và môi trường sống, giáo xứ được coi là cộng đoàn giáo dục đức tin hoàn hảo nhất. Bằng cách loan báo Tin Mừng, dạy giáo lý, cử hành phụng vụ và cầu nguyện, đời sống hiệp thông trong đức ái, cộng đoàn cống hiến những yếu tố cơ bản cho hành trình của người tín hữu tiến về sự trọn hảo của đời sống trong Đức Kitô (39)”.

• Xác quyết này thật là đúng, tôi nghĩ rằng trong mỗi cộng đoàn giáo xứ vừa có thể cùng với anh chị em mình gặp gỡ Đức Kitô và bước đi theo Ngài, vừa có thể chia sẻ lý tưởng này với nhau. Đây là điều mà có thể có rất nhiều Giám mục cũng muốn trình bày một mô hình cộng đoàn giáo xứ như vậy để chúng ta hướng đến mà xây dựng.

• “Chúng ta phải công nhận rằng các giáo lý viên rất khó khăn và có cảm giác cô đơn trong việc cảm nhận hoạt động giáo dục của họ nảy sinh từ việc nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cộng đoàn (địa phương và giáo xứ) như là chủ thể thích hợp cho việc rao giảng, cho ý thức truyền giáo để tìm ra những hình thức thực hành có tính thuyết phục” (Brambilla C. G.).

• Nếu chúng ta muốn canh tân kiểu giáo dục truyền thống cần phải khởi đi từ việc canh tân cộng đoàn Kitô hữu trước tiên là từ người lớn. Việc tái sinh của cộng đoàn Kitô hữu trước hết là nhờ vào ân sủng, do lời khẩn cầu, thứ đến là do trách nhiệm của chúng ta. Đây là một bổn phận mà chúng ta phải đảm nhận bởi vì mô hình của giáo xứ được cấu tạo như trước đây đã bị khủng hoảng trong một xã hội biến đổi. Chúng ta được mời gọi để tái lập một cộng đoàn mang khuôn mặt truyền giáo trong một xã hội đa dạng, đa tôn giáo và trần tục.

Việc tái sinh một cộng đoàn Kitô hữu sống động bắt đầu bằng việc hoán cải cá nhân theo Đức Kitô. ĐTC Bênêđictô XVI trong Tông huấn Thiên Chúa là Tình yêu đã viết: “Khởi đầu cho cuộc sống Kitô hữu không phải là một quyết định đạo đức hay một tư tưởng vĩ đại, nhưng là sự gặp gỡ với một biến cố, với một Con Người, Đấng đem lại cho đời sống chúng ta một chân trời mới và từ đó một định hướng dứt khoát. Vì thế cuộc gặp gỡ Đức Kitô là một kinh nghiệm bởi vì nó chi phối các phạm vi tình cảm, trí khôn và thân xác. “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gal 2,20).“Tôi, nhưng không còn là tôi nữa”. Có một sự liên tục trong sự gián đoạn nơi con người, nơi mà nhân loại được biến đổi từ cuộc gặp gỡ Đức Kitô. Cái tôi của tôi được hòa nhập vào cái lớn hơn đó là Giáo Hội. Sự thuộc về Đức Kitô gắn kết tôi với anh chị em, và anh chị em cũng trở nên anh chị em của tôi. Kitô giáo luôn luôn là một sự kiện cá nhân mang tính cộng đoàn.

Trong Tin Mừng Gioan 1,13-39 hai môn đệ hỏi Chúa Giêsu: «Thưa Thầy, Thầy ở đâu?». Chúng ta đã biết câu trả lời của CGS: «Hãy đến mà xem». Ở lại với Ngài cùng với bạn bè, khát khao hiểu biết Ngài sâu sắc hơn, đây là một cách hiểu biết duy nhất nơi sâu thẳm cõi lòng.

Bằng cách này cộng đoàn cảm nghiệm “cung điện” của Đức Kitô: nơi mà Chúa làm cho chúng ta có thể gặp Ngài “trong dấu chỉ của một sự gần gũi nhân loại” (Scola). Có điều chắc chắn rằng “Mầu nhiệm thì đi xa hơn dấu chỉ, Mầu nhiệm luôn là một Đấng. Tôi không thích dấu chỉ như nó là dấu chỉ cho nên tôi không thích sự gần gũi mang tính Giáo Hội (hiệp thông) chỉ như là sự gần gũi, mà tôi thích Giáo Hội như là người dẫn tôi đến Mầu nhiệm, trong Giáo Hội và chỉ nơi Giáo Hội cơn khát của của tâm hồn tôi mới có thể được xoa dịu bởi vì Chúa Cha đã hình thành nên tôi như thế qua bàn tay của Ngài (Scola)”. Đôi khi bạn bận tâm về “những người còn ở xa” (mà ai ở xa Thiên Chúa?) chúng ta không nhận ra rằng có những người đang ở gần với chúng ta cũng khát khao theo Chúa Giêsu trong cộng đoàn, nhờ việc cầu nguyện, sống tình huynh đệ, chia sẻ niềm khao khát loan Tin Mừng cho những người khác và khát khao thi hành đức yêu thương.

Việc tái sinh cộng đoàn bắt đầu với những người ở gần với chúng ta. Là «bàn tay» ngày hôm nay đã được phục hồi, nếu chúng ta muốn, qua bàn tay đó, phục hồi cả “khuỷu tay” và “cánh tay” nữa.

Cha Germano Pattaro, nhà thần học đã viết “Về vấn đề này, thật là đúng lúc để ấn định rằng “con người đầu tiên”, ngay từ khởi đầu của việc rao giảng, là cộng đoàn Kitô hữu trong sự toàn vẹn của nó. Cộng đoàn này biểu trưng như một cộng đoàn chứng tá, ngay trong cốt lõi, và chỉ trong sự tùy thuộc tương quan lẫn nhau, chứng từ cá nhân mới được kể đến và mới được biểu lộ. Đây là điểm đặc biệt của Lời rao giảng (Kerygma) củng cố điều kiện của biến cố mang tính lịch sử. Điều này có nghĩa là, chứng từ không có ý đưa ra những ý kiến song phương và tự lập hoặc có sự cạnh tranh biện chứng giữa chúng; trong trường hợp này, nó độc lập với việc làm chứng về Đức Kitô, Đấng cứu độ, mà mỗi nhân chứng biểu lộ một nét đặc thù ưu việt của nó đã hoàn thành trong lịch sử. Chỉ có một Đức Kitô của các Tông đồ, và các tông đồ làm thành “tông đồ đoàn” của Đức Kitô. Sự hiệp thông (koinonia) là điều kiện mà mỗi biến cố Kitô (evento cristiano) không thể bỏ qua: trong sự vận hành của việc làm chứng thì sự hoàn tất và khởi đi tùy thuộc bởi chính cộng đoàn chứng nhân, chứng từ đó vừa mang tính truyền giáo nhắm đến thế giới, vừa mang tính văn hóa nhắm đến chính cộng đoàn”. (G. PATTARO, IN E.CASTELLI, La testimonianza, CEDAM, Padova 1972, pp.435-436).

Bối cảnh cộng đoàn (bí tích, phụng vụ, Thánh Thể) là điều kiện cần thiết để thông truyền sự kiện Đức Kitô (Loan báo đầu tiên). Chỉ có cộng đoàn nào sống “Sự kiện” đó mới có thể sinh ra một sự kiện mới. Một sự kiện được sinh ra từ một sự kiện. “Sự sống chỉ được gợi lên từ sự sống” (R. Guardini). “Cuộc sống nào mà gặp gỡ với người đã gặp gỡ Đức Kitô, thì cuộc sống đó được biến đổi bởi sự hiện diện của người ấy là điều rất cần thiết, và vì thế sự tự do của chúng ta được tái lập cũng như tính nhân loại của chúng ta có giá trị vì nó được nâng lên một cách toàn diện” (Scola A.). Sự sống không nảy sinh từ cơ cấu (mà từ sự gặp gỡ – người dịch).

Đặc tính cộng đoàn phải trở thành quen thuộc với mọi hoạt động huấn giáo, theo những cách thế khác nhau, tùy theo những chủ thể quan tâm đến nó. Trong trường hợp của thiếu nhi và người trẻ, chúng ta nói đến cộng đoàn giáo dục, đó là cộng đoàn hướng dẫn và đồng hành với những thế hệ trẻ để gặp gỡ Đức Kitô bên trong một kinh nghiệm mang tính Giáo hội.

5. Một giáo lý mang tính nhập thể

Giáo lý, hiểu theo đúng nghĩa của nó, là bước thứ hai trong tiến trình loan báo Tin Mừng và được thực hiện như thời điểm giải thích và đào sâu Lời Chúa dẫn đến sự trưởng thành đức tin của từng cá nhân và cộng đoàn (giáo dục tâm thức đức tin).

Bởi vậy để giáo lý có một giá trị giáo dục, cần thiết phải là một hành vi giáo lý, hơn thế nữa, là một hành vi mang tính cộng đoàn, mang bản chất của chính sự kiện Kitô. Gặp gỡ giáo lý không phải là một phiên họp trù bị cho cuộc sống, nhưng là một hành vi của cuộc sống, hành vi này phải lay động/thúc đẩy (move) được tự do của tôi và phải biến đổi con người tôi sống cuộc gặp gỡ này cùng với anh chị em. So với việc tham dự thánh lễ, thì “gặp gỡ giáo lý” là một sự khác biệt về phẩm chất, nhưng nó phải là một mầu nhiệm Đức Kitô mang tính đương thời. Ngài chỉ có thể cứu độ tôi nếu như tôi là người đương thời. Một người của ngày hôm nay, Đức Kitô cùng với tôi hiện diện trong ngày hôm nay. Ngài không thể cứu độ cái tôi của quá khứ.

Đồng thời việc dạy giáo lý phải là một thời mạnh của đời sống. Những mầu nhiệm Kitô giáo cần làm sáng tỏ ý nghĩa nhân học, các vấn đề xã hội và vũ trụ.

Tại Đại hội Vêrôna – Italia (2006) đã đề cập đến vần đề: Đức Kitô và Lời của Ngài có liên quan gì đến đời sống tình cảm, đến công việc và lễ nghỉ, đến kinh nghiệm mỏng dòn, đến truyền thống (giáo dục) và đến bổn phận công dân, đến tất cả các chiều kích của nhân loại. Cha De Lubac nói: Nếu như Đức Kitô không can dự gì đến những điều đó thì dần dần Ngài bị gạt ra bên lề xã hội, đây là điều đã xảy ra với các em thiếu nhi sau khi lãnh bí tích Thêm sức. Việc Đức Kitô bị gạt ra bên lề xã hội trở thành một lựa chọn, gắn liền với cái “tôi muốn”. Nếu khẳng định Đức Kitô tương đương với một lựa chọn, một cách nào đó, sẽ có khả năng mất đi sự quan tâm đến Ngài và Ngài trở thành điều vô ích, và khi đó, điều vô ích sẽ bị vứt bỏ. “Đồng ý là Thánh lễ, sách giáo lý, học giáo lý …nhưng cuộc sống là một cái gì khác cơ”. Người lớn chúng ta thường nói thế, rồi chúng ta truyền đạt cho các em giống y như vậy. Nhà thần học Romano Guardini viết “trong chân trời của một tình yêu lớn lao, trong đó tất cả mọi sự trở thành một sự kiện”. Cộng đoàn giáo lý của người lớn, của người trẻ và của thiếu nhi là một cộng đoàn khởi đi từ niềm tin vào Đức Kitô, với/bằng Kinh Thánh và sách Giáo lý, đối chiếu với toàn bộ thực tại: hoàn cảnh, tương quan, tình cảm, công việc và nghỉ lễ, tính mỏng dòn nhân loại, truyền thống (giáo dục), bổn phận công dân, thẩm định mọi sự và giữ lại điều tốt lành (x. 1 Tx 5,21).

Thánh Phaolô ngỏ lời với cộng đoàn Côrintô, Ngài nói rằng: đối với người Kitô hữu, không ai là người xa lạ và Ngài đề nghị một phương pháp suy xét bằng đức tin “…tất cả đều thuộc về anh em;dù là Phao-lô, hay A-pô-lô, hay Kê-pha, dù cả thế gian này, sự sống, sự chết, hiện tại hay tương lai, tất cả đều thuộc về anh em, mà anh em thuộc về Đức Kitô, và Đức Kitô lại thuộc về Thiên Chúa” (1 Cr 3,21b-23).

Giáo dục một tâm thức đức tin bao gồm việc nhận thức và xem xét thực tại như Đức Kitô đã cảm nhận.

Nói cách chính xác, có tâm thức đức tin không có nghĩa là chỉ có một tư tưởng duy nhất, nhưng theo cách đa thức trong đơn thức. Trong lăng kính này, những khác biệt hệ tại trong tính duy nhất của tư tưởng Đức Kitô trở thành những sự phong phú. Theo tiêu chuẩn cổ điển sau đây có thể giúp chúng ta “in necessariis unitas, in dubiis libertas, in omnibus caritas – thống nhất trong những điều cần thiết, tự do trong những điểm còn nghi ngờ, bác ái trong mọi sự”.

«Đường lối để trở thành Kitô hữu đó là khởi đi từ cuộc sống mỗi ngày và thấy Chúa Giêsu can dự đến đời sống của tôi/đời sống của chúng ta”. Là cuộc sống được lên kế hoạch. Kitô giáo chỉ “hành động” trong thực tế. Nếu người nào không hiểu được Đức Kitô và Lời Ngài có can dự gì đến “nghề nghiệp của cuộc sống” (C. Pavese) thì người đó như thể hạt giống mà Chúa Giêsu nói trong dụ ngôn (Mc 4,1-9) rơi bên vệ đường hoặc trên đá sỏi hoặc giữa bụi gai chứ không phải rơi trên đất tốt. Đất tốt là những tâm tư tình cảm, công việc, thời gian rảnh rỗi, những biến cố… tóm lại, là cuộc sống.

Kinh nghiệm giáo lý trở thành nơi mà con người, cùng với bạn bè mình, cảm nghiệm một cách đúng đắn những đòi hỏi của Đức Kitô được tỏ lộ và hoàn tất nơi kinh nghiệm nhân loại. Vì thế giáo lý thường xuyên, nhất là giáo lý cho người lớn, thật sự trở thành điều cần thiết cho chính họ “bởi vì họ là những nhà giáo dục và nhân chứng cho những thế hệ mới/tương lai” (Giáo dục đến đời sống tốt theo Tin Mừng (39).

Chuyển dịch từ tiếng Ý
Md Phạm Thúy
Nguon: http://giaolyductin.org/newsview/vn/248/SU-DONG-GOP-CUA-GIAO-LY–TRONG-HANH-TRINH-GIAO-DUC-CON-NGUOI-.html