BÀI THAM LUẬN 2: DẠY GIÁO LÝ, PHƯƠNG THẾ GIÁO DỤC VÀ CỦNG CỐ ÐỨC TIN

Thuyết trình viên
Nt Maria Nguyễn Thị Bạch Tuyết, MTG Thủ Thiêm

Ðức tin là ân huệ Thiên Chúa ban cho tất cả mọi người, nhưng con người có tự do để đón nhận hay từ chối. Tư tưởng này được Ðức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI giải thích rõ hơn: “Niềm tin tôn giáo luôn có sẵn trong tâm hồn mỗi người, nhưng bộ phận cảm ứng nội tâm dành cho Chúa trong ta không đương nhiên hoạt động như một cái máy kỹ thuật mà nó như một thứ sống động, hoặc là cùng lớn lên với con người, hay là chai cứng đến độ có thể gần như chết khô. Nếu nội tâm ta luôn làm việc với bộ cảm ứng đó, nó càng ngày càng trở nên sắc bén, bằng không nó sẽ teo lại và như bị chôn vùi dưới ảnh hưởng của thuốc tê.”[1] Như vậy, đức tin chính là sự chấp nhận của trí tuệ đối với chân lý mà Thiên Chúa đã mạc khải cho loài người trong Ðức Kitô, nhờ Chúa Thánh Thần và qua Giáo hội. Đức tin là một tiến trình thăng trầm trong phận người. Quả thật, có những lúc con người đầy xác tín nhưng không thiếu những khi khắc khoải đi tìm lời giải đáp cho vấn nạn đức tin. Chúng ta thấy rõ điều này khi đọc lại Lịch Sử Cứu Ðộ: dân Itraen đã phải trải qua biết bao thử thách để đi đến xác tín vào Thiên Chúa độc nhất; các Tông đồ đã theo Thầy Giêsu một thời gian khá lâu, cứ ngỡ rằng mình đã hoàn toàn tin tưởng vào Thầy, nhưng rồi các ông đã phải xin với Thầy “Xin ban thêm đức tin cho chúng con”, hạnh các Thánh cũng chứng minh rất rõ điều này.

Ðức tin là một tiến trình. Nói cách khác, “đức tin là một con đường và bao lâu còn sống thì con người còn đi trên đường, và vì vậy, đức tin vẫn luôn bị đe dọa và chèn ép […]. Ðức tin chỉ có thể trưởng thành, khi trong mọi giai đoạn cuộc sống, nó đủ sức chấp nhận và chịu đựng sức mạnh cũng như sự o ép của không tin, cuối cùng thắng vượt chúng để lại bước đi tiếp trên một đoạn đường mới.”[2]Chính vì thế đức tin cần được giáo dục và được tôi luyện để trở nên trưởng thành. Dạy giáo lý chính là phương thế hữu hiệu để giáo dục đức tin.

Kể từ sau Công Ðồng Vaticanô II, Hội Thánh Công giáo đã tái khám phá ra rằng truyền bá đức tin hay giáo dục đức tin là một cuộc gặp gỡ cá vị với Ðức Kitô, được thực hiện nhờ Thánh Kinh và Thánh truyền sinh động của Hội Thánh, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.[3] Ðiều này đã được Thánh Bộ Giáo Sĩ nhấn mạnh: “Mục đích tối hậu của việc dạy giáo lý là làm cho con người không những được tiếp xúc, mà còn được thông hiệp mật thiết với Chúa Giêsu Kitô.”[4]Ðây chính là nét độc đáo của giáo dục đức tin.

Nội dung bài chia sẻ trình bày bốn điểm sau đây:
– Nét độc đáo của sư phạm đức tin;
– Những bước cơ bản trong tiến trình khai tâm Kitô giáo;
– Nhìn lại tình hình chung việc thực hiện giáo dục đức tin;
– Hướng giải quyết.

1. Nét độc đáo của sư phạm đức tin: gặp gỡ Thiên Chúa

Như chúng ta đã biết, việc học giáo lý không giống như việc học các bộ môn văn hóa khác. Chính Ðức Giáo Hoàng Bênêdictiô XVI đã khẳng định trong tác phẩm “Thiên Chúa và Trần Thế”: “Niềm tin vào Thiên Chúa không phải là một kiến thức mà tôi có thể học được, như tôi học toán hay hóa học […]. Bởi đức tin đòi hỏi toàn lực đời sống, ý chí, tình yêu và bước ra khỏi mình”. Quả thật, việc giáo dục đức tin có một nét độc đáo riêng. Người thụ huấn được mời gọi đi vào cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa một cách tự do bằng đối thoại với Ngài và nhận ra những giáo huấn của Ngài để hoán cải nội tâm. Nhờ đó, họ cảm nhận niềm hạnh phúc của người có kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa vàbày tỏ những cảm nhận sâu sắc này raqua lời nói cũng như hành động. Chúng tacó thể tóm tắt tiến trình gặp gỡ Thiên Chúa qua 3 chữ: mở trí (đối thoại, tìm hiểu), mở tâm (mở lòng để đón nhận, đi đến hoán cải nội tâm) và mở tay (đáp trả bằng cuộc sống và lời rao giảng).

a. Mở trí: đối thoại

Qua những cuộc gặp gỡ giữa Ðức Giêsu và các nhân vật trong Tin Mừng, chúng ta nhận ra Ðức Giêsu luôn mời gọi con người đi vào cuộc đối thoại để đón nhận mạc khải của Thiên Chúa. Ví dụ: trong cuộc gặp gỡ với người phụ nữ Samari, hoặc với ông Giakêu, người thu thuế, Ðức Giêsu đã có cuộc đối thoại, trò chuyện và mạc khải về Thiên Chúa, Ðấng Cứu độ đầy yêu thương và tha thứ.

Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở gặp gỡ và đối thoại thì chưa đủ. Có rất nhiều người đã nghe và đối thoại với Ðức Giêsu, nhưng tâm hồn họ vẫn còn đóng kín. Như vậy, mở trí làbước khởi đầu củatiến trình gặp gỡ với Thiên Chúa. Mở trí chuẩn bị cho bước chính yếu kế tiếp, mở tâm (hoán cải).

b. Mở tâm: hoán cải

Từ sự gặp gỡ và đối thoại với Ðức Giêsu, con người cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa. Tình yêu mời gọi họ nhận ra tình trạng hiện tại của bản thân và hoán cải. Khi gặp gỡ Giakêu, Ðức Giêsu đã không đòi hỏi ông bất cứ điều gì, ngoài lời đề nghị: “Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!”Lời đề nghị này đã làm ông rung chuyển cõi lòng. Thật vậy, Giakêu đã cảm nhận được tình yêu thương của Thiên Chúa một cách sâu sắc. Thiên Chúa đã không chê ghét ông như những người đồng hương sống chung quanh ông. Ðối với họ, ông chỉ là kẻ tội lỗi. Cuộc đối thoại với Ðức Giêsu đã giúp ông Giakêu bắt gặp chân dung một Thiên Chúa từ nhân. Cảm nhận được Thiên Chúa yêu thương, Giakêu đã hoán cải và thay đổi cuộc sống. Khi gặp gỡ người phụ nữ Samari, Ðức Giêsu đã đưa chị đi vào cuộc đối thoại về một đề tài rất đời thường, đề tài “nước”. Qua hình ảnh quen thuộc này, Ngài hướng dẫn chị hiểu biết về một loại nước khác, “Nước Hằng Sống”. Ðức Giêsu còn mạc khải cho chị rằng chính Ngài là Ðấng ban nước hằng sống, là Ðấng Messia là Ðấng Kitô. Từ cảm nghiệm về cuộc gặp gỡ này, người phụ nữ Samari đã bày tỏ lòng sám hối cách tự nguyện như ông Giakêu đã làm. Sự chân thành đối thoại và ước muốn thay đổi đời sống đã đưa dẫn đưa họ đến với đức tin. Họ chọn lựa thay đổi và sẵn sàng chấp nhận trả giá cho những chọn lựa của chính họ.

Qua những ví dụ nêu trên, chúng ta thấy giai đoạn nội tâm hóa rất quan trọng trong tiến trình giáo dục đức tin. Đây chính là giai đoạn mà bản thân người thụ huấn phải quyết định cho việc hoán cải chính họ. Theo tài liệu chuẩn bị cho Thượng Hội Ðồng Giám Mục thế giới, cuộc hoán cải trong việc giáo dục đức tin rất quan trọng và cần được duy trì[5] để giúp con người ngày càng đạt đến sự hoàn thiện như lời mời gọi của Ðức Giêsu: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Ðấng hoàn thiện”(Mt 5, 48). Và Ðức Giáo Hoàng Bênêdictô XVI cũng nhấn mạnh: “Sẽ không có được thật nhiều tín hữu, nếu nội dung rao giảng không nhập được tâm của họ, để họ có thể thốt lên rằng: Ðúng, những gì tôn giáo nói quả là những điều tôi cần”[6]. Đức Thánh Cha đưa ra ví dụ cụ thể tại chính quê hương của ngài, nơi chương trình và việc dạy giáo lý trong trường học đều do các giáo phận đảm trách: “Ở nước Ðức, các em từ 9 tới 13 tuổi được học giáo lý trong trường học. Nhưng rồi tại sao chẳng còn gì đọng lại nơi các em, thật không hiểu nổi!”[7]Như vậy, Ðức Thánh Cha muốn nhấn mạnh, nội tâm hóa những điều đã học trong giáo lý là yếu tố thiết yếu trong giáo dục đức tin. Như vậy chúng ta có thể hiểu được nguyên nhân sâu xa tại sao cùng một bài giảng, cùng một thầy dạy là Ðức Giêsu nhưng người này tin, kẻ khác lại chống đối. Thực tế cho chúng ta thấyrằng cùng được giáo dục như nhau, có người có đức tin, nhưng vẫn có người thờ ơ và vô tâm.

c. Mở tay: đáp trả

Ðức tin được biểu hiện ra bằng hành động cụ thể. Thánh Giacôbê đã khẳng định: “Ðức tin không có việc làm là đức tin chết.”Thật vậy, những người đã tin phải có cuộc sống đi đôi với điều họ tin. Khi cảm nhận tình yêu của Thiên Chúa và tin vào lòng nhân hậu và tha thứ của Ngài, Giakêu đã tự thay đổi để sống đúng phẩm giá, đúng lẽ công bình và bác ái. Khi nhận ra được chân dung của Thiên Chúa và yêu mến Người, người phụ nữ Samari đã trở thành môn đệ đích thực của Chúa: “Có nhiều người Samari trong thành đó đã tin vào Ðức Giêsu, vì lời người phụ nữ làm chứng”(Ga 4,39). Quả thật, khi cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa trong cuộc đời, con người không thể im lặng để chỉ giữ riêng cho bản thân nhưng họ có nhu cầu chia sẻ niềm vui này cho mọi người bằng nhiều cách, bởi vì “Niềm vui được chia sẻ là niềm vui được nhân đôi”. Tuy nhiên, chia sẻ niềm vui được ơn đức tin không phải là một việc tùy ý nhưng là một trách nhiệm của mọi người, vì đã là Kitô hữu có nghĩa là phải truyền giáo. Nếu là người yêu mến đức tin, người Kitô hữu có trách nhiệm phải làm chứng cho đức tin, thông truyền đức tin đến người khác để có thêm nhiều người tham dự vào niềm tin Kitô. Thiếu nhiệt huyết truyền giáo là thiếu nhiệt tình với đức tin[8].

Như vậy, giáo dục đức tin là cuộc gặp gỡ cá vị với Thiên Chúa, đối thoại với Ngài, cảm nhận được tình yêu của Ngài để rồi sống và loan báo niềm vui được yêu thương cho anh chị em xung quanh.

2. Bảy bước căn bản của phương pháp Khai tâm Kitô giáo[9]:

Trong Huấn giáo, cuộc gặp gỡ Thiên Chúa được xem là những bước trong tiến trình khai tâm Kitô giáo. Khai tâm Kitô giáo chính là mở lòng con người ra đón nhận mạc khải: Thiên Chúa tỏ mình ra nơi Ðức Giêsu, nhờ Thánh Thần và qua Giáo hội, mà biến cố trọng tâm của kinh nghiệm Kitô giáo là cái chết và sự phục sinh của Ðức Kitô, để hoán cải đời sống và hiệp thông trong đời sống mới nơi Ðức Kitô.

Khi áp dụng phương pháp khai tâm Kitô giáo, người giáo lý viên cần lưu ý bảy điểm sau:
a. Việc khai tâm đòi hỏi sự tự do của con người (chủ động, ý thức và có trách nhiệm[10]): Giáo lý viên phải tôn trọng học viên giáo lý nhưlà anh chị em trong đức tin trên đường bước theo Ðức Kitô.
b. Việc khai tâm đòi hỏi một lộ trình (lộ trình lâu dài và mạo hiểm): Giáo lý viên là người cùng đi với học viên trên lộ trình, nhưng người học không thuộc về giáo lý viên. Mặc dù chia sẻ những kinh nghiệm bản thân về các vấn đề trong cuộc sống cho học viên, nhưng giáo lý viên phải nhớ “Vai trò riêng biệt của việc dạy giáo lý là tỏ cho biết Chúa Giêsu Kitô là ai, về đời sống mầu nhiệm của Người, cũng như trình bày đức tin Công Giáo như là việc bước theo Người”[11]. Lộ trình này được thực hiện dưới tác động của Chúa Thánh Thần.
c. Việc khai tâm lấy nguồn từ Kinh Thánh (qua đó cho thấy Thiên Chúa luôn hiện diện với con người): Chính Chúa Thánh Thần ban sự hiểu biết thiêng liêng về Lời Chúa cho người đọc cũng như người nghe tùy theo sự chuẩn bị tâm hồn[12]. Qua Mạc Khải, Thiên Chúa ngỏ lời và đối thoại với con người như bạn hữu để họ hiệp nhất với Ngài[13].
d. Việc khai tâm đòi hỏi kinh nghiệm của một truyền thống sống động(cộng đoàn sống đức tin): Cần có sự lưu truyền từ truyền thống, kinh nghiệm của cộng đoàn và những chứng từ sống động từ các thánh.[14]
e. Việc khai tâm đòi hỏi những bước theo tiến trình giáo lý dự tòng(tiền dự tòng, dự tòng: nhận biết -hoán cải -gia nhập cộng đoàn -cầu nguyện -sống bí tích -làm chứng cho niềm tin, cảm nghiệm được Chúa yêu và được nâng đỡ qua giáo lý. Sau khi thấm nhuần tình yêu và ân sủng, sẽ đem tình yêu và ân sủng Chúa đến cho anh chị em).
f. Việc khai tâm đòi hỏi một động lực của sự chọn lựa (đáp trả tình yêu và ân huệ của Thiên Chúa qua cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ðức Kitô, bằng sự tín thác vào Chúa và sống đời sống luân lý Kitô giáo và yêu thương anh em).
g. Việc khai tâm đòi hỏi một sự cởi mở đối với sự da dạng văn hóa (“-đánh giá cao về phương tiện truyền thông đại chúng, tùy theo chức năng chuyên biệt của truyền thông mà giữ sự quân bình giữa ngôn ngữ hình ảnh và ngôn ngữ lời nói ; – bảo vệ ý nghĩa tôn giáo đích thực ; khuyến khích việc tạo nên phương tiện huấn giáo dành cho việc truyền thông đại chúng”[15], nhằm khám phá căn tính của mình và tìm ra ý nghĩa cuộc sống để dẫn đưa đến tương quan mới trong thời khoa học hiện đại, nghệ thuật…).

3. Tình hình chung hiện nay

a. Thuận lợi:
Giáo lý viên: Nhìn chung, việc giáo dục đức tin tại các giáo phận đã được tổ chức một cách hệ thống tương đối chặt chẽ. Có nhiều yếu tố tích cực: Đội ngũ giáo lý viên đông, việc huấn luyện giáo lý viên dần dần có quy trình rõ ràng, trình độ giáo lý viên nâng cấp bằng những khóa thần học tại các giáo phận. Nhiều nơi các cha xứ mời các chuyên viên giáo lý để tổ chức các khóa huấn luyện nhằm giúp giáo lý viên học tập và đào sâu sự hiểu biết về giáo lý. Riêng tại giáo phận Kontum việc đào tạo các giáo phu để dạy giáo lý cho các dân tộc thiểu số cũng được quan tâm. Việc dạy giáo lý có nhiều khởi sắc. Phần đông, anh chị em giáo lý viên đã cố gắng ứng dụng các phương pháp quy nạp, diễn giải hoặc trực giác vào giờ dạy giáo lý. Một số nơi vẫn áp dụng phương pháp giáo lý hỏi -thưa.

Phương pháp hỏi -thưa rất thích hợp cho người bình dân, bởi vì phương pháp này không nhằm giải thích toàn bộ tín điều Kitô giáo, hay giải thích những điều cao siêu, nhưng là dạy cho các tín hữu những mầu nhiệm đức tin, những luật lệ và truyền thống của Giáo Hội Công Giáo mà họ phải theo. Phương pháp này đã được một số đông anh chị em giáo lý viên phối hợp thêm những phương pháp khác như: diễn giải, chủ động… để giờ học được sinh động và bản thân người học được tham gia tìm hiểu Lời Chúa, cũng như đưa ra những điều cần thực hiện trong cuộc sống của mình.

Học viên: Các học viên tham gia rất đông và theo hạng tuổi, đa số là các em thiếu nhi và thiếu niên. Ngoài ra một số nơi đã tổ chức cho giới thanh niên và trưởng thành cũng như các thành viên trong các hội đoàn Công giáo. Các lớp giáo lý dự tòng và giáo lý hôn nhân cũng được tổ chức thường xuyên tại một số giáo xứ.

b. Khó khăn:
• Giáo lý viên: Tình trạng di dân ảnh hưởng đến nhân sự dạy giáo lý tại các giáo xứ. Một số rất đông thanh thiếu niên rời bỏ làng quê lên thành phố sinh sống đã tạo ra một lỗ hổng trong động ngũ giáo lý viên vùng nông thôn. Ngoài ra, một số giáo lý viên thiện nguyện chưa được đào tạo chuyên môn đầy đủ cũng ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy giáo lý. Hơn nữa, giáo lý viên cũng đối diện với gánh nặng giáo huấn trước sự thờ ơ của gia đình học viên hoặc sự thiếu quan tâm tạo điềukiện cho việc dạy giáo lýcủa một số cha xứ. Giáo lý viên cảm thấy nặng nề khi thi hành nhiệm vụ cao cả này. thêm vào đó, một số giáo lý viên chưa nhận thức đủ vài trò huấn giáo của chính họ, nên họ dạy giáo lý với thái độ thất vọng, thiếu nhiệt huyết, thiếu niềm vui và hy vọng khi trình bày về Chúa. Thậm chí, có những giáo lý viên thiếu đời sống chứng tá tông đồ, điều không thể thiếu nơi người làm công tác giáo dục đức tin. Điều này gây ra những hậu quả nghiêm trọng đôi khi dẫn đến phản chứng. Chính Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI đã khẳng định: “Con người thời nay sẵn sàng nghe những chứng nhân hơn nghe những thầy dạy, và nếu họ có nghe những thầy dạy thì đó là vì những thầy dạy này là những chứng nhân”[16]. Về phương pháp, giáo lý viên đã áp dụng sáng tạo những phương pháp và kỷ thuật mới vào tiết học. Tuy nhiên có nhiều giáo lý viên quá chú trọng đến hình thức nhưng thiếu quan tâm đến nội dung bài học. Từ đó dẫn đến hiệu quả của giờ dạy giáo lý chưa cao.

• Học viên: Một số người cho rằng: học giáo lý để giữ đạo; chỉ cần lãnh các bí tích cần thiết là đủ. Vì vậy rất nhiều bạn trẻ hài lòng với vốn liếng giáo lý “Xưng tội, Rước lễ, Thêm sức”. Họ không chịu tìm hiểu và học hỏi thêm về đời sống đức tin nhờ đó họ sẽ trưởng thành hơn trong đời sống đức tin. Chính đức tin có thể giúp họ đứng vững trong một xã hội mà vật chất đang chiếm ưu thế.

• Ảnh hưởng cách giáo dục xưa: Người Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều theo cách giáo dục Nho giáo. Sự giáo dục này có mặt tích cực là giúp ích cho xã hội bảo tồn tôn ti trật tự, kính trên nhường dưới và tu dưỡng đạo đức. Tuy nhiên, cách giáo dục này đôi khi mang tính áp đặt, làm cho cá nhân thiếu sáng tạo, thiếu tư duy độc lập, suy tư cá nhân không được đề cao, ngại ngùng khi chọn lựa và sống dựa vào những quyết định của người người lớn. Vì vậy, trong việc giáo dục đức tin, người học cũng dễ rơi vào tâm trạng muốn được dẫn dắt và không có tính tự lập. Điều này làm cho học viên khó có thể trưởng thành trong đức tin.

• Ảnh hưởng của xã hội thiếu tôn trọng sự thật: Bản chất con người luôn hướng về sự thật. Khi con người không tôn trọng và bóp méo sự thật, con người sẽ trầm mình trong dối trá. Điều này gây ra những hậu quả khôn lường cho người khác cũng như chính đương sự. Trong một xã hội mà sự gian dối xảy khắp nơi đến mức báo động, không chỉ nơi thương trường mà cả nơi học đường, những người làm công tác giáo dục đức tin cần quan tâm đặc biệt đến giáo dục lòng yêu mến sự thật.

Thật vậy, việc giáo dục sự thật và ý nghĩa cuộc sống sẽ giúp đào luyện cho cá nhân khả năng sống một cách sung mãn, cống hiến phần độc đáo của mình cho lợi ích chung, và giúp họ có một đời sống trưởng thành trong đức tin. Tin vào Thiên Chúa đồng nghĩa với việc khước từ một cuộc sống bình lặng. Những người tin vào Thiên Chúa phải có một tương quan sâu xa vào Ngài, như thân cây chỉ có thể sống trong giông bão nếu rễ của nó đã đâm sâu và mạnh vào lòng đất, người có niềm tin sâu xa vào Thiên Chúa cũng có khả năng vượt qua thách đố của cuộc đời.

Giáo dục sự trưởng thành đức tin rất quan trọng. Một soeur đã chia sẻ như sau: Có một cậu bé học viên được soeur dạy giáo lý tại giáo xứ. Sau một thời gian, soeur đi tu và giúp xứ ở những nơi khác nên không gặp lại em. Khi về phép trong dịp xuân năm 2010, ba của soeur đã nói với soeur cậu bé năm xưa muốn gặp và nói chuyện với soeur. Được soeur đồng ý, em đã gặp và thông báo cho soeur biết rằng mùa hè này em sẽ thi vào chủng viện, và em đã xin soeur cầu nguyện cho em. Em thêm rằng: nếu thi không đậu vào chủng viện, em sẽ khó có thể sống tốt được trong xã hội ngày nay. Em đã lo ngại khi làm việc chung với những người không sống thật, từ từ em sẽ nên giống họ. Soeur đã lắng nghe và khuyên bảo em nhiều điều. Trường hợp này làm cho soeur suy nghĩ nhiều về cách thức giáo dục đức tin của mình khi dạy giáo lý. Soeur nhận ra rằng soeur đã chưa làm tròn trách nhiệm của giáo lý viên. Soeur chưa giúp cho đức tin của học viên trưởng thành đủ mạnh để đương đầu với những thách đố và đứng vững trong xã hội hôm nay.

Cũng như bao nhiêu giáo lý viên khác, soeur đặt lại vấn đề về phương pháp dạy giáo lý thực hành và mong muốn thay đổi cách thực hành cho có hiệu quả.

4. Hướng giải quyết

Qua một số dẫn chứng về thuận lợi và khó khăn trong chương trình giáo dục đức tin hiện nay, chúng ta nhận ra một lỗ hổng khá lớn cần khắc phục cả nơi người dạy lẫn người học giáo lý. Tuy nhiên, phạm vi bài chia sẻ này chỉ lưu ý đến những điểm cần khắc phục nơi người dạy.

Nhìn chung còn nhiều giáo lý viên chưa được huấn luyện đầy đủ về:
a. Kiến thức thần học
Để dạy giáo lý đạt kết quả tốt, giáo lý viên cần phải có kiến thức thần học vững chắc.

b. Nguyên tắc sư phạm và tâm lý
Để biết cách truyền đạt hữu hiệu, giáo lý viên cần phải hiểu biết và ứng dụng thành thạo những nguyên tắc sư phạm và tâm lý. Với sự phát triển các phương tiện nghe nhìn, giáo lý viên nên học hỏi ứng dụng công nghệ mới đểgiúp cho buổi học sinh động hơn. Tuy nhiên, khi sử dụng các phương pháphiện đại vào giáo lý, người dạy giáo lý phải biết chọn lọc và phải nhằm mục đích thiêng liêng. Chính Ðức Giáo Hoàng Bênêdictô XVI đã lưuý:“Nếu tiến bộ kỷthuật không đi đôi với tiến bộ trong giáo dục đạo đức conngười, trong sự tăng trưởng con người nội tâm, thì đó chẳng phải là sự tiến bộ, nhưng là một mối đe dọa đối với con người và thế giới.”[17]

c- Niềm tin và xác tín niềm tin vào Thiên Chúa
Ðiều thiết yếu là giáo lý viên phải có kinh nghiệm cá nhân với Thiên Chúa một cách sâu sắc. Bằng cách lắng nghe Lời Chúa mỗi ngày, giáo lý viên đi sâu vào cảm nghiệm tình yêu Thiên Chúa, gặp gỡ Ngài trong cử hành Thánh Thể, cảm nghiệm tình yêu tha thứ của Ngài nơi Bí Tích Hòa Giải và sống chan hòa tình bác ái với mọi người.

Ngoài ra, khi muốn thay đổi cách thức truyền đạt, giáo lý viên phải quy về Phúc Âm và giáo huấn đức tin để xét lại: Trước hết, cần phân biệt đâu là chân lý đức tin (bất biến), và những ý kiến riêng của các nhà thần học hay trường phái thần học đang trên đường nghiên cứu học hỏi[18]. Thứ đến là điều gì là cái có thể thay đổi theo thời gian? Kế tiếp là điều gì không phải là thành tố thiết yếu? Cuối cùng, điểm quyết định là phải có sự phân định đúng nghĩa (muốn có một giải pháp mới cần có sự phân định đúng đắn: xem, xét, làm).

Tóm lại, cho dù áp dụng bất cứ phương pháp nào, giáo lý viên cần phải biết cách nội tâm hóa và đi theo một luật cơ bản là trung thành với Thiên Chúa và trung thành với conngười[19].

Trung thành với Thiên Chúa: là trung thành với Lời Chúa. Tài liệu Hướng Dẫn Tổng Quát việc Dạy Giáo Lý nhấn mạnh: “Không có việc rao giảng Tin Mừng thực sự nếu danh tánh, giáo huấn, đời sống, các lời hứa, Nước Trời, mầu nhiệm của Chúa Giêsu Nagiarét, Con Thiên Chúa, không được loan báo. Ngay cả những người đã là môn đệ của Ðức Kitô cũng cần được Lời Chúa thường xuyên nuôi dưỡng, để đời sống Kitô hữu của họ được tăng trưởng.”[20]

Trung thành với con người: khi nói đến con người, giáo lý viên cần quan tâm đến một con người cụ thể, trong một hoàn cảnh cụ thể. Giáo lý viên cần hiểu biết tâm lý lứa tuổi, hoàn cảnh sống và nhu cầu của học viên để có thể giúp họ nhận ra ý nghĩa của Lời Chúa trong đời sống thường ngày. Nhất là giáo lý viên phải giúp học viên ý thức và chịu trách nhiệm về đời sống cá nhân của chính học, tránh tình trạng học tập một cách thụ động.[21]

Hy vọng sự ý thức và những nỗ lực sáng tạo của các giáo lý viên trong chương trình giáo dục đức tin sẽ giúp xã hội thăng tiến và phù hợp với tinh thần của Tin Mừng.

________________________________________
[1]Bênêdictô XVI, Thiên Chúa và trần thế, tr. 29.
[2]Bênêdictô XVI, ibid, tr. 33-34.
[3]Vaticanô II, Hiến Chế Tín Lý về Mặc Khải Dei Verbum số 7tt.
[4]Hướng dẫn Tổng Quát việc dạy Giáo lý, số 80.
[5]Tài liệu “Thượng Hội Ðồng Giám Mục thế giới thường niên lần XII”, số 19.
6ÐGH Bênêdictô XVI, Ánh sáng thế gian, nhà xuất bản tôn giáo, tr. 174.
7 ÐGH Bênêdictô XVI, ibid, tr. 180.
[8]Tài liệu “Thượng Hội Ðồng Giám Mục thế giới thường niên lần XII”, số 10.
9 Texte national pour l’orientation de la catéchèse en France, Conférence des évêques de France, 2006, pp. 46-59.
10 Hướng dẫn Tổng Quát việc dạy Giáo lý, số 167.
11Hướng dẫn Tổng Quát việc dạy Giáo lý, số 41.
[12]Giáo Lý Công Giáo, số 1101.
13 Công Ðồng Vaticanô II, Dei Verbum, số 2.
14Hướng dẫn Tổng Quát việc dạy Giáo lý, số 95.
15Hướng dẫn Tổng Quát việc dạy Giáo lý, số 209.
[16]Phaolô VI, Tổng Huấn Evangelii nuntiandi (8-12-1975) 41: AAS 68 (1976) 31, 32
[17] ÐGH Bênêđictô XVI, Thông điệp Spe Salvi, số 22.
[18]Catechesi Tradendae, số 61.
[19]Tài liệu “Thượng Hội Ðồng Giám Mục thế giới thường niên lần XII”, số 14.
[20]Hướng Dẫn Tổng Quát việc dạy Giáo lý, số 50.
[21] X. Hướng Dẫn Tổng Quát việc dạy Giáo lý, số 167.

Nguon: http://giaolyductin.org/newsview/vn/234/BAI-THAM-LUAN-2–DAY-GIAO-LY–PHUONG-THE-GIAO-DUC-VA-CUNG-CO-ÐUC-TIN–.html

GẶP GỠ & ĐỐI THOẠI – MỘT HÌNH THỨC SƯ PHẠM MỚI

Một bậc thầy giỏi, nếu chỉ có những kiến thức uyên thâm thì chưa đủ. Người ấy còn phải có “nghệ thuật truyền đạt”, đúng hơn “nghệ thuật gặp gỡ”.

I. KHÁI NIỆM GẶP GỠ & ĐỐI THOẠI

Gặp gỡ là nghệ thuật “hòa hợp với người khác”

Theo tài liệu Canh tân Giáo lý của Hội đồng Giám mục Ý, gặp gỡ là nghệ thuật “hòa điệu với người khác” (RdC 170b) để cùng nhau lớn lên, cùng nhau thực hiện một hành trình, cùng nhau tái tạo một kinh nghiệm tôn giáo sống động, cho đến khi cả hai được lớn lên.
Để được như vậy giáo lý viên cần có: (1) “khả năng hướng dẫn người khác lãnh hội, nội tâm hóa và sự diễn tả sứ điệp Kitô giáo” (RdC 169), (2) “biết chuẩn bị trong suy tư và cầu nguyện những giả thuyết (hypothesis) về việc dạy học” (RdC 181), và (3) “sử dụng cách khôn ngoan kỹ thuật giảng dạy thích hợp” (RdC 170c).

Có thể nói thành công hay thất bại của gặp gỡ trong giáo lý tùy thuộc lý luận dạy học được sử dụng như thế nào. Do đó, giáo lý viên hay linh hoạt viên giáo lý, ngoài những kiến thức về thần học và giáo lý, còn phải biết sử dụng kỹ thuật dạy học để thực hiện một cuộc gặp gỡ và đối thoại trong giáo lý.

Chẳng có tài liệu và đồ dùng giảng dạy nào đương nhiên phù hợp với mọi giáo lý viên hay linh hoạt viên giáo lý, với mọi tham dự viên cũng như mọi cuộc gặp gỡ. Là “trung gian” giữa nội dung giảng dạy và nhu cầu tâm lý của tham dự viên, giáo lý viên phải suy nghĩ, điều chỉnh, đổi mới và sáng tạo nhằm thích nghi tài liệu với thực tế tâm lý của tham dự viên, đòi hỏi của từng nhóm, từng tham dự viên.

Giáo lý viên không thể nói: “sách giáo lý viết như thế này, nên không thể làm khác được”; hoặc “sách tiến hành theo cách này, nên phải theo tiến trình đó”. Không có tiến trình nào là hợp lý nếu tách khỏi thực tại hoặc xa rời tiến trình tâm lý; làm như vậy chỉ lãng phí thời gian và sức lực; hoặc bỏ lỡ cơ hội và làm cho cuộc gặp gỡ trở nên trống rỗng thay vì làm cho nó sống động.

Giáo lý viên phải để một mắt vào sách giáo lý và mắt kia vào những đòi hỏi tâm lý của tham dự viên, bởi vì tinh thần chỉ có thể tăng trưởng khi vấn đề được giải quyết từ bên trong. Giáo lý viên phải tìm hiểu tham dự viên và thế giới của họ để chuẩn bị cho gặp gỡ.

Đối thoại có nghĩa là “trao đổi”, là “cho và nhận”.

Đối thoại phát xuất từ đòi hỏi cơ bản của con người, đó là việc mở ra với người khác để “cho” và để “nhận”. Thật vậy, mỗi người có giá trị riêng và xứng đáng được tôn trọng với những gì họ có như khả năng nhận thức, phân tích, phán đoán, liên lạc và đề xuất; mỗi người có quyền được người khác lắng nghe và lắng nghe người khác qua việc đóng góp những suy tư và hoạt động của mình đồng thời nhận lại và những suy tư và hoạt động của người khác, để cùng nhau tìm kiếm và nghiên cứu chân lý.

Tìm kiếm và nghiên cứu là hoạt động tìm hiểu những thực tại như con người, sự việc, ý tưởng, vấn đề, hiện tượng tôn giáo… nhằm sống tốt hơn trên phương diện cá nhân cũng như xã hội. Ở đây, chúng ta muốn nói đến việc tìm kiếm sự hiểu biết và kinh nghiệm về những gì được gọi là thực tại tôn giáo, thực tại mà chúng ta tiếp cận trực tiếp hoặc gián tiếp để tạo ra những kinh nghiệm tôn giáomới.

Cuộc tìm kiếm này phải được linh hoạt viên giáo lý và tham dự viên cùng quan tâm thực hiện; cả hai đều phải quan tâm thực hiện cuộc tìm kiếm này, vì không thể có gặp gỡ khi cả hai bên không có cùng một quan tâm. Giáo lý viên và tham dự viên phải có chung mối quan tâm là tìm hiểu thực tại để sống tốt hơn trên phương diện cá nhân cũng như xã hội, bằng không sẽ không có gặp gỡ hoặc gặp gỡ trở nên trống rỗng.

Tất cả là gặp gỡ và đối thoại

Giáo lýkhông chỉ là giảng dạy nhưng trước hết và trên hết là gặp gỡ và đối thoại. Trong gặp gỡ và đối thoại, không còn tồn tại người dạy và người học nhưng người dạy cũng là người học, và ngược lại. Cả hai trở thành chủ thể trong tiến trình tăng trưởng và trong tiến trình này, quyền lực không còn giá trị nữa. Để thi hành quyền lực, cần thi hành với sự tự do chứ không phải kiểm soát. (x. Freire P., La pedagogia degli oppressi, Mondatori, Milano 1974, 94).

Là gặp gỡ và đối thoại, giáo lýkhông giới hạn trong khuôn khổ của một lớp học, vì gặp gỡ và đối thoại phải được tiếp tục thực hiện trong những giờ giải lao, ở ngoài đường, ở quán nước, trong cộng đoàn giáo xứ, trong những hoạt động ngoài phạm vi lớp học, trong những hình thức hoạt động của các phong trào, hiệp hội, ở nông thôn, ngoại ô hay thành phố.

Tắt một lời, đây là cuộc gặp gỡ và đối thoại toàn diện với cả con người của tham dự viên, gặp gỡ và đối thoại với từng hoặc với tất cả tham dự viên, vào bất cứ lúc nào có thể trong cuộc sống.

II. CÁCH THỰC HIỆN MỘT CUỘC GẶP GỠ VÀ ĐỐI THOẠI

Điều kiện cần thiết cho gặp gỡ và đối thoại

Để thực hiện cuộc gặp gỡ & đối thoại này, trước hết giáo lý viên phải loại bỏ ý tưởng dạy giáo lý là “dạy bổn” và học giáo lý là “nhớ và thuộc lòng” những câu hỏi-thưa dọn sẵn (đây chỉ là một trong các bước của lộ trình giáo lý); kế đến, giúp tham dự viên chủ động trong việc học (thay vì tiếp nhận cách thụ động những gì giáo lý viên dạy); sau hết, gặp gỡ và đối thoại với tham dự viên để cùng nhau tìm hiểu một vấn đề tôn giáo hay cùng nhau khám phá để có được một kinh nghiệm tôn giáo mới.

Cấu trúc một buổi gặp gỡ-đối thoại

1. Cầu nguyện
Mỗi cuộc gặp gỡ phải khởi đầu và kết thúc bằng cầu nguyện. Có nhiều cách cầu nguyện khác nhau: truyền thống, sáng tạo, bài hát, cử điệu…mà sách giáo lý đề nghị.

2. Nhắc lại cuộcgặp gỡ trước và chuẩn bị cho gặp gỡ này
Để có sự liên kết với lần gặp gỡ trước, giáo lý viên có thể nhắc lại sơ qua nội dung của cuộc gặp gỡ trước. Glv hỏi các em: “Điều gì chúng ta đã nói, đã đọc, đã viết, đã đề nghị…trong lần gặp gỡ trước? Các em đã thực hành quyế tâm thế nào? Các em có kể cho cha mẹ nghe về buổi gặp gỡ giáo lý không? Đâu là những đoạn các em ghi nhớ? Những khuôn mặt nào làm các em nhớ? Các em đã làm gì tốt hơn trong cuộc sống? Chúa Nhật trước các em đã làm gì? Các em có cầu nguyện không? Các em có làm những việc tốt không? Các em có nhớ điều mà chúng ta đã thực hiện trong lần gặp gỡ trước không (vẽ hình, dán tranh, hình chụp, múa cử điệu, làm poster…)? Điều gì gây ấn tượng cho các em nhất?

3. Dẫn vào cuộc gặp gỡ mới
Sự quan tâm và tham gia của tham dự viên được kích thích bằng một câu, một đoạn văn, một hình ảnh, đặc biệt bằng một kinh nghiệm sống.

4.Nghe và hiểu lời Chúa
Mỗi cuộc gặp gỡ đều ứng với một nội dung để học hỏi và kiểm điểm đời sống, nhờ đọc và hiểu Lời Chúa. Giáo lý viên đối thoại với tham dự viên để giúp họ khảo sát bản văn Lời Chúa và khám phá sứ điệp của Lời Chúa. Giáo lý viên cần nắm vững cách kể chuyện và đặt câu hỏi.

5.Nội tâm hóa và đáp trả Lời Chúa
Đây là thời điểm thích hợp nhất để tham dự viên trở thành chủ thể của buổi gặp gỡ. Mỗi tham dự viên đón nhận và đáp trả lời Chúa mời gọi cách khác nhau. Tham dự viên được mời gọi diễn tả lại những gì đã diễn ra trong tâm hồn qua một hình vẽ hay một màn kịch, một bài hát hay một cử điệu, một vần thơ hay một lời nguyện… Chẳng hạn, giáo lý viên có thể gợi ý:
• Em hãy diễn tả bằng hình vẽ điều đánh động em nhất trong buổi gặp gỡ và chú thích một câu phù hợp với hình vẽ.
• Em hãy lấy lại một hình vẽ trong sách giáo lý mà em thích rồi diễn tả lại theo cách của em. Chú thích hình vẽ bằng một câu.
• Em hãy viết một đoạn tóm lược hoặc một lời cầu nguyện ngắn.
• Chúng ta cùng sáng tác một màn kịch, một bài hát, một video clip…
• Chúng ta tổ chức một cuộc triển lãm hay một buổi đọc văn thơ cho cha mẹ tham dự.
• Chúng ta có thể hỏi cha mẹ điều gì về Chúa, về Giáo Hội…

Việc đáp trả không chỉ dừng lại ở cảm nghĩ, nhưng còn được thực hiện qua một số việc cụ thể được gợi hứng bởi chứng từ hay gương sáng của những người trong cộng đoàn. Giáo lý viên đề nghị một số việc để các em tự do chọn lựa.

6.Củng cố và ghi nhớ
Mỗi hoạt động giáo lý phải bồi dưỡng nhận thức, tâm tình và thái độ của các tham dự viên. Không làm được điều này, buổi gặp gỡ gần như thất bại. Vì thế, phải có bước “củng cố” lại ý chính của buổi gặp gỡ.

Nhiều người không muốn nhắc đến việc “ghi nhớ” trong giáo lý, nhưng chắc chắn không thể “bỏ hoàn toàn việc ghi nhớ này trong khi dạy giáo lý”.

“Việc ghi nhớ những lời nói chính xác của CGS, những đoạn Kinh Thánh quan trọng, mười giới răn, những hình thức tuyên xưng đức tin, những bản văn phụng vụ, những kinh nguyện căn bản, những khái niệm then chốt của giáo huấn…là một thực tại cần thiết. Những hoa trái của đức tin và lòng đạo…không nảy nở trong những vùng sa mạc của một khoa giáo lý mà không dùng đến trí nhớ. Điều thiết yếu là những bản văn ghi nhớ phải được nội tâm hóa và dần dần được hiểu tường tận, để trở nên nguồn sống cho mỗi kitô hữu cũng như cho cả cộng đoàn” (DGL 55).

Trên thực tế, các sách giáo lý cổ điển cống hiến những câu hỏi và những câu trả lời ở cuối mỗi chương. Bổn phận của mỗi giáo lý viên là giải thích những câu trả lời đó sao cho phù hợp với các em và giúp các em học, không chỉ là ghi nhớ trong trí mà là như “nguồn sống cho mỗi kitô hữu cũng như cho cả cộng đoàn”, như ĐTC Gioan Phaolô II đã khẳng định.

7.Cầu nguyện kết thúc
Kết thúc buổi gặp gỡ luôn nhắm đến việc lượng giá buổi gặp gỡ; cơ hội để tham dự viên nhìn lại buổi gặp gỡ, khám phá ơn Chúa ban và dâng lời tạ ơn.

8.Đối thoại với phụ huynh
Phụ huynh là những giáo lý viên đầu tiên của con cái mình qua lời nói và việc làm. Họ ảnh hưởng sâu đậm trên đời sống đức tin của con cái. Rất tiếc, sự tham gia của phụ huynh vào việc dạy giáo lý chưa được tốt, vì thế cần đối thoại ít là từ xa, để giúp các phụ huynh nhận thức lại vai trò quan trọng và không thể thay thế của mình trong việc giáo dục đức tin cho con cái. Việc lãnh nhận bí tích của con cái luôn là một cơ hội tốt nhất cho sự đối thoại này. Giáo lý viên cần kết hợp cụ thể, thường xuyên và hấp dẫn với phụ huynh.

KẾT LUẬN
Chúng tôi đã trình bày “khung hướng dẫn” cho một buổi dạy giáo lý với hình thức gặp gỡ và đối thoại; tuy nhiên không nên áp dụng một cách cứng nhắc, mà cần điều chỉnh lại sao cho phù hợp với những đòi hỏi và những tình huống khác nhau mà giáo lý viên cũng như tham dự viên cùng tìm kiếm.

Nguyên bản Catechisti oggi. Note di catechetica, psicopedagogia e didattica per la pastorale dell’eta’ evolutiva (Giáo lý viên ngày nay. Những đặc tính của giáo lý, tâm lý sư phạm và dạy học đối với mục vụ cho lứa tuổi phát triển) của G. CIONCHI, Elledici, TO, 1999, 149-158.

Md Phạm Thúy chuyển ngữ từ tiếng Ý
Nguon: http://giaolyductin.org/newsview/vn/225/GAP-GO-&-DOI-THOAI—-MOT-HINH-THUC-SU-PHAM-MOI.html

BAN GIÁO LÝ GIÁO TỈNH SÀIGÒN VÀ GIÁO TRÌNH ĐÀO TẠO GIÁO LÝ VIÊN

Chiều ngày 14/12/2010, Ban Giáo lý giáo tỉnh Sàigòn đã có buổi họp thường kỳ tại Trung tâm Mục vụ Tổng giáo phận Tp. HCM.

Trong phiên họp lần này, các linh mục Trưởng ban Giáo lý của 10 giáo phận cùng với hai linh mục chuyên viên là Cha Phanxicô X. Nguyễn Hai Tính và Cha Phêrô Hoàng Đình Thành đã trao đổi về Giáo trình đào tạo giáo lý viên với hai môn căn bản: Tín lý và Luân lý.

Mặc dù nội dung Tín lý và Luân lý Kitô giáo truyền giảng cho giáo lý viên không là những gì khác ngoài những điều đã được Giáo Hội tuyên tín và hướng dẫn, nhưng với đối tượng là “Người giáo lý viên – trong xã hội Việt Nam – ngày nay”, ban Giáo lý cần phải giúp học TIN và SỐNG đúng như Chúa muốn và Giáo Hội chỉ dạy, để không còn là “nghiệp dư” mặc dù “thiện nguyện”.

Bàn về Tín lý, cha Phanxicô X. Tính đề nghị một hành trình “khám phá lại lòng tin” với những đề tài then chốt của thần học tín lý như Đức tin, Mạc khải, Ba Ngôi, Giáo hội và Cánh chung. Vì là hành trình khám phá đức tin, nên mỗi đề tài phải được trình bày khởi đi từ kinh nghiệm thực tế của học viên và giúp họ đón nhận mạc khải của Thiên Chúa. Các cha đề nghị sử dụng những từ ngữ đơn sơ hơn là những thuật ngữ chuyên môn để giúp giáo lý viên dễ dàng lãnh hội chân lý chứ không cảm thấy quá xa lạ hay bí nhiệm. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng giáo lý viên cần được trang bị và làm quen với những lối diễn tả các chân lý đức tin bằng những thuật ngữ chuyên môn, nhờ đó có được sự chuẩn xác và rõ ràng trong nhận thức về những điều cốt yếu mà Giáo Hội dạy cũng như có đủ ngôn ngữ để diễn tả đức tin của mình trong sự hiệp thông với Giáo Hội.

Về huấn luyện luân lý cho giáo lý viên, cha Phêrô Thành khẳng định: mục đích chính yếu là giúp giáo lý viên “bước theo Chúa Giêsu”. Vì thế tài liệu huấn luyện bô môn này không những phải trình bày một nội dung đầy đủ về Luân lý Kitô giáo và có hệ thống, mà còn phải gần gũi với đối tượng và giúp họ sống tự do của người con cái Thiên Chúa. Trong ý hướng ấy, giáo trình không gồm những đề tài cần triển khai nhưng gồm những lời mời gọi học viên sống với và sống như Chúa Giêsu. Giáo trình nên khởi đầu với phẩm giá của con người – được tạo dựng nên giống hình ảnh của Thiên Chúa – và kết thúc với việc mở ra cho truyền giáo, nghĩa là mở ra với anh chị em đồng loại trong xã hội. Tóm lại, nhà đào tạo phải cân nhắc trong việc chọn nội dung và phương pháp giảng dạy thích hợp. Theo cha Phêrô, giáo trình đào tạo luân lý cho giáo lý viên sẽ không hoàn toàn giống giáo trình đào tạo cho linh mục và tu sĩ, bởi họ phải sống và nên thánh ở giữa đời, với những bổn phận và hoàn cảnh khác nhau.

Nhóm Thư ký ban Giáo lý Giáo tỉnh Sàigòn
Nguon: http://giaolyductin.org/newsview/vn/130/DAO-TAO-GIAO-LY-VIEN-VE-TIN-LY-VA-LUAN-LY.html

GIỚI THIỆU LỘ TRÌNH ĐÀO TẠO GIÁO LÝ VIÊN CỦA GIÁO PHẬN ROMA

ĐÀO TẠO GIÁO LÝ VIÊN

Trong bối cảnh xã hội và văn hóa hiện đại cũng như trước tình hình nhiều gia đình không có khả năng bảo đảm việc huấn luyện kitô giáo cho con em họ, nhiều cộng đoàn trong Giáo Hội bắt đầu từ những giáo xứ, đảm nhận toàn bộ lộ trình huấn luyện, bắt đầu từ những năm tuổi thơ cho đến tuổi trẻ, tuổi trưởng thành và tuổi già.

Người ta nói đến việc huấn luyện những Kitô hữu đích thực và điều này không thể thực hiện được nếu như không có sự tham gia của những huấn luyện viên cũng như những người được huấn luyện.

(Thư của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhân dịp bế mạc Năm Đại Thánh 2000, số 5).

1. HUẤN LUYỆN LÀ GÌ?

Huấn luyện là tạo cơ hội giúp giảng viên giáo lý trưởng thành trong đức tin, là khơi dậy nơi giảng viên giáo lý một đức tin sống động và mạnh mẽ trong Đức Kitô, là huấn luyện chính con người (being) của họ, tương ứng với ơn gọi đặc thù của họ là phục vụ (doing), trước khi bàn tới việc “dạy giáo lý” (teaching).

Công cuộc huấn luyện hướng tới việc khơi lên nơi người giảng viên giáo lý một niềm khát khao nên thánh và nâng đỡ họ sống theo Chúa Thánh Thần, cùng với họ nối kết đức tin và cuộc sống, đức tin và văn hóa, đồng thời khơi dậy khả năng nhận ra niềm mong đợi của con người qua những dấu chỉ thời đại.

1.HUẤN LUYỆN NHỮNG GÌ?
Huấn luyện không những nội dung đức tin, mà còn giáo dục và phát triển nơi giảng viên giáo lý những thái độ của một người tín hữu: không ngừng củng cố và đào sâu đức tin, phục vụ Giáo hội cách quảng đại, dấn thân truyền giáo để xây dựng thế giới thành “trời mới, đất mới”.

1.HUẤN LUYỆN TRỞ THÀNH NHỮNG NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO?
Được Thánh Thần hướng dẫn, giảng viên giáo lý mạnh dạn bước theo Chúa Kitô, trở nên chứng nhân sống động của Ngài, nên sứ giả loan báo Tin Mừng nhờ chia sẻ hồng ân đức tin đã lãnh nhận, một đức tin luôn được củng cố nhờ biết xẻ chia.

Để được như thế, kế hoạch huấn luyện phải được thực hiện như lộ trình lớn lên của người môn đệ trong cộng đoàn kitô hữu, hướng tới sự trưởng thành nhân bản và đức tin, biết đón nhận lời mời gọi phục vụ và trách nhiệm của người tín hữu là chia sẻ cho người khác chính kinh nghiệm đức tin và tìm kiếm chân lý của mình, để chính họ cũng được lớn lên và trưởng thành trong đức tin.

2. HUẤN LUYỆN Ở ĐÂU?

Công cuộc huấn luyện bắt đầu từ giáo hội địa phương, nơi mà giảng viên giáo lý bước vào hành trình đức tin và trưởng thành trong ơn gọi phục vụ của mình. Giáo hội địa phương hay giáo xứ là nơi giảng viên giáo lý sống và lớn lên trong đức tin, được mời gọi làm chứng và loan báo Tin Mừng trong tư cách một giảng viên giáo lý.

Giáo hạt là nơimà giảng viên giáo lý trải nghiệm sự cộng tác giữa các giáo xứ, đối chiếu những kinh nghiệm của mình với những giảng viên khác, mở ra cho việc đào sâu nội dung đức tin một cách có tổ chức và hệ thống.

Giáo phậnlà nơithuận tiện đểgiảng viên giáo lý nhận thức rằng Giám mục là người chịu trách nhiệm cộng đoàn và thầy dạy đức tin, điều hành và hướng dẫn tất cả các hoạt động giáo lý của giáo phận.

3. HUẤN LUYỆN THEO LỘ TRÌNH NÀO?

Việc huấn luyện được tiến hành trong bầu khí hiệp thông giáo hội mới có thể phát triển việc làm chứng đức tin cách đích thực và hiệu quả, vì sự hiệp thông này là động lực cần thiết giúp các giảng viên giáo lý đảm nhận những nhu cầu và thách đố của công cuộc “tân phúc âm hóa”, hội nhập và đối thoại với các nền văn hóa, với các tôn giáo cũng như với những anh chị em không tôn giáo.

Lộ trình huấn luyện nhằm đào sâu một cách hệ thống và có tổ chức nội dung đức tin và nâng cao khả năng giảng dạy giáo lý nhờ nắm vững mục đích và nhiệm vụ của việc dạy giáo lý cũng như phương pháp giáo dục chủ động, nhờ gắn liền đức tin với cuộc sống và văn hóa cũng như chú ý đến tiến trình phát triển tâm lý và khả năng hướng dẫn người thụ giáo trong hành trình giáo lý thường xuyên.

Lộ trình huấn luyện không chỉ giúp giảng viên giáo lý nhận thức đầy đủ về việc dạy giáo lý, mà còn giúp họ có khả năng đồng hành với những đối tượng khác nhau vươn tới một đức tin trưởng thành. Trong khi hướng dẫn, huấn luyện viên phải chú ý đến việc phát triển khả năng đặc thù của giảng viên giáo lý trong môi trường mục vụ của Giáo hội, hướng họ đến việc truyền giáo nhờ khơi dậy niềm xác tín mỗi giảng viên giáo lý là một nhà truyền giáo giống như Giáo hội là truyền giáo.

4. HUẤN LUYỆN THEO CÁC CẤP NÀO?

Với mục đích như thế, lộ trình huấn luyện trước hết nhắm tới con người giảng viên giáo lý viên, kế đến là đời sống và sứ vụ của họ, sau hết là khả năng và kỹ năng thông truyền nội dung đức tin, để họ có thể phục vụ Giáo hội cách nhiệt tình và hiệu quả.

Kế hoạch huấn luyện được sắp xếp theo các cấp khác nhau tương ứng với nhu cầu huấn luyện giảng viên giáo lý và nhu cầu của môi trường.

4.1. Cấp một

Việc huấn luyện cơ sở được thực hiện tại giáo xứ nhằm huấn luyện con người giáo lý viên, giúp họ trưởng thành trong đời sống đức tin và làm chứng cho niềm tin. Giáo xứ được ủy thác để khơi dậy nơi giảng viên giáo lý và giúp họ phân định ơn gọi phục vụ, đồng thời tạo môi trường thuận tiện để họ lớn lên và trưởng thành trong ơn gọi ấy. Tại giáo xứ, giảng viên giáo lý phải được đồng hành trong một hành trình giáo dục tiệm tiến hướng đến việc phục vụ; nhờ đó, họ đảm nhận trách nhiệm của mình trong cộng đoàn kitô hữu.

4.2. Cấp hai

Việc huấn luyện căn bản được thực hiện tại giáo hạt nhằm giúp cho các giảng viên đã được huấn luyện tại giáo xứ trở thành những thầy dạy và những nhà giáo dục đức tin. Chương trình huấn luyện cấp II kéo dài trong 3 năm, gồm lộ trình huấn luyện tổng quát trong 2 năm và lộ trình huấn luyện chuyên biệt trong 1 năm. Việc huấn luyện căn bản được thực hiện theo chỉ dẫn của Giáo hội Ý trong hai tài liệu “Canh tân Giáo lý” và “Kế hoạch Giáo lý”.

Lộ trình huấn luyện tổng quát trang bị cho giảng viên giáo lý kiến thức căn bản về nhân học, thánh kinh, kitô học, giáo hội học, linh đạo, luân lý và sư phạm giáo lý. Lộ trình huấn luyện chuyên biệt trang bị cho giảng viên giáo lý kiến thức về phụng vụ và bí tích, lộ trình đức tin và tâm lý các lứa tuổi, những môi trường và hoàn cảnh giáo dục khác nhau. Cả hai giúp giảng viên giáo lý có khả năng đồng hành với người thụ giáo trong toàn bộ hành trình giáo lý thường xuyên.

4.3. Cấp ba

Lộ trình huấn luyện cấp ba có thể thực hiện ở giáo phận, giáo hạt hay giáo xứ, có mục đích giúp giảng viên giáo lý cập nhật kiến thức, canh tân nhiệt tình, phương pháp và cách diễn tả đức tin. Lộ trình bao gồm những khóa ngắn hạn liên quan đến những vấn đề và những nhu cầu của các giảng viên đang dấn thân trong việc dạy giáo lý; những khóa học này có thể được thực hiện để đào sâu nội dung thánh kinh, thần học, giáo lý hay phương pháp dạy giáo lý. Những khóa học của cấp ba không thay thế và loại trừ các khóa huấn luyện ở các cấp khác.

5. HUẤN LUYỆN NHỮNG CHIỀU KÍCH NÀO?

Các lộ trình huấn luyện bổ túc và phụ thuộc lẫn nhau. Mỗi lộ trình có những chiều kích sau:

5.1. Chiều kích cuộc sống liên quan đến căn tính của giảng viên giáo lý, bối cảnh xã hội và văn hóa mà họ sống cũng như đặc tính giáo hội và giáo phận mà họ phục vụ. Cụ thể, chiều kích này liên quan đến các lãnh vực văn hóa nhân học và xã hội trong năm thứ nhất của cấp hai và linh đạo trong năm thứ ba. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc huấn luyện giảng viên giáo lý trong hành trình ơn gọi thánh tẩy và thêm sức, trong việc xây dựng giáo hội và thánh hóa thế giới.

5.2. Chiều kích thánh kinh -thần học liên quan đếnviệcđào sâu nội dung đức tin một cách hệ thống và có tổ chức trong viễn tượng phục vụ giáo hội của giảng viên giáo lý.

•Thánh kinh: hiểu biết Thánh Kinh trong tương quan với hoạt động giáo lý.
•Kitô học, Giáo hội học, Bí tích: hiểu biết Đức Kitô, Giáo hội và các Bí tích để sống và chia sẻ với những người khác, nâng đỡ đời sống và sự dấn thân của giảng viên giáo lý.
5.3. Chiều kích phụng vụ và linh đạo: liên quan đến linh đạo kitô giáo đặt nền trên sự chọn lựa bước theo Đức Kitô và làm chứng đức tin, một linh đạo có khả năng hòa nhập đức tin vào cuộc sống.

•Phụng vụ: nổi bật trong “nhiệm cục bí tích” của năm thứ ba xét như “đỉnh cao” và “suối nguồn” của sứ vụ mà giảng viên giáo lý đảm nhận;
•Linh đạo: xuyên suốt trong ba năm nhằm hướng dẫn và nâng đỡ giảng viên giáo lý trong hành trình trưởng thành đức tin của họ, chuyên cần cầu nguyện và học tập dưới tác động của Thánh Thần. Những điều này hướng giảng viên giáo lý đến việc thờ phượng Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý, để cổ võ một chứng tá đích thực của đời sống mới trong Thán Thần.
5.4. Chiều kích giáo dục liên quan đến việc giúp giảng viên giáo lý có được khả năng sư phạm trong sứ mạng phục vụ của Giáo hội.

5.5. Chiều kích phương pháp luận thể hiện trong cả ba năm và trong các lãnh vực liên quan đến các chiều kích tâm lý, xã hội, sư phạm và mục vụ của năm thứ ba; đây là những chiều kích liên quan đến những chuyên môn khác nhau và giúp giảng viên giáo lý có được khả năng tiến hành và hướng dẫn các lộ trình giáo lý khác biệt.

6. HUẤN LUYỆN THEO NHỮNG PHƯƠNG PHÁP NÀO?

Những khóa học khác nhau làm nên lộ trình ở các cấp, mặc dù được phân biệt để triển khai, đều sử dụng phương pháp tiếp cận.

Mỗi khóa học bao gồm những bài học và những bài tập thực hành: những bài học được huấn luyện viên hướng dẫn theo kiểu đối thoại nhằm nối kết hiểu biết và kinh nghiệm. Những bài tập thực hành thường được tiến hành theo nhóm để thẩm tra trực tiếp khả năng lãnh hội của mỗi giảng viên giáo lý.

Mỗi khóa học của lộ trình huấn luyện đều kết thúc bằng một bài kiểm tra hoặc một bài tự luận về những đề tài khác nhau do huấn luyện viên đề nghị. Kết quả các bài kiểm tra đó sẽ được ghi vào trong một cuốn sổ cá nhân của giảng viên giáo lý viên, được người có trách nhiệm của văn phòng giáo lý giáo phận chứng thực ở cuối mỗi năm.

LỘ TRÌNH HUẤN LUYỆN CON NGƯỜI

CẤP MỘT

“Trong viễn tượng nuôi dưỡng một niềm tin sống động và mạnh mẽ nơi Đức Kitô,

thì việc huấn luyện trước hết là huấn luyện con người giáo lý viên, trước khi huấn luyện người đó dạy giáo lý”.

Mons. Cesare Nosiglia 11.2.1997

Lộ trình huấn luyện cấp một được thực hiện tại giáo xứ như lộ trình giáo dục đức tin giúp người tín hữu thể hiện khuynh hướng phục vụ, giúp họ phân định để đón nhận lời mời gọi phục vụ trong các lãnh vực hoạt động mục vụ khác nhau. Chương trình huấn luyện này do giáo xứ tổ chức và được cha xứ hoặc người mà ngài ủy quyền hướng dẫn theo lộ trình hai môn đệ đi Emmau:

“Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ”

1.Suy tư về cuộc sống với những vấn đề văn hóa và xã hội của địa hạt mình đang sống;
2.Trung thành với Thiên Chúa và con người: những đường nét hoạt động mục vụ.
3.Suy nghĩ về đức tin và về Giáo hội.
4.Nhận diện và nhận định về ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông xã hội.
5.Suy nghĩ về Giáo hội: xét như một “tổ chức xã hội” và như một “mầu nhiệm”; xét như một “phẩm trật” và như một “gia đình”.
6.Đặt tất cả mọi sự trong sáng kiến và sự quan phòng của Thiên Chúa: nhận biết sự hiện diện và hành động của Thiên Chúa trong đời sống hằng ngày; chính Người đã kêu gọi và qui tụ chúng ta trong Giáo hội để ở lại với Chúa và được sai đi để phục vụ.
Việc đào sâu này giúp người tín hữu có khả năng đọc những dấu chỉ thời đại trong hoạt động mục vụ và nhận ra các việc Thiên Chúa làm trong lịch sử để giáo dục họ dấn thân phục vụ.

“Người giải thích … tất cả Sách Thánh”

1.Tiếp cận Sách Thánh, chiều kích thánh kinh trong cuộc sống
2.Chúa Giêsu Kitô: Lời nhân loại đợi trông.
◦Kinh Thánh: đường lối ưu tiên gặp gỡ Đức Kitô.
3.Hiếu biết, yêu mến và tôn kính Lời Thiên Chúa và đọc cuộc sống dưới ánh sáng Lời Chúa;
4.Đón nhận Kinh Thánh trong sự vâng phục đức tin, như Giáo Hội đề nghị và giải thích dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần.
◦Chúa Giêsu, Lời chung cuộc của Chúa Cha cho con người.
5.Sự mạc khải viên mãn nơi Đức Kitô;
6.Theo Đức Kitô, con người hoàn hảo, để trở nên người hơn (GS 41);
7.Vươn tới sự toàn vẹn về nhân tính của Đức Kitô để bước vào sự toàn vẹn về thiên tính của Ngài.
◦Cầu nguyện qua việc đón nhận Lời Chúa trong cuộc sống, kinh nguyện kitô hữu. Việc suy tư giúp người tín hữu đào sâu chiều kích cầu nguyện của đời sống kitô hữu.
“Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người”

1.Trong Giáo Hội: được Thiên Chúa kêu gọi để phục vụ tha nhân;
2.Giáo lý viên, chứng nhân, thầy dạy, nhà giáo dục.
◦Trung thành với Lời Chúa và với những đòi hỏi cụ thể của con người
3.Thánh Thần hướng dẫn chúng ta đón nhận và ở lại trong sự thật;
4.Trong Thánh Thần, chúng ta trung thành với chân lý, để là những chứng nhân đích thực của Đức Kitô;
5.Hy tế Thập giá trường tồn dưới những dấu chỉ Thánh thể.
◦Đến với con người trong hoàn cảnh sống của họ và phục vụ tha nhân bằng chính đức ái của Chúa Kitô.
6.Giới răn mới, hồng ân Vượt Qua phải thực hiện trong Thánh Thần.
◦Cầu nguyện và chiêm niệm trợ giúp một sự gắn bó tròn đầy với Đức Kitô.
Những suy tư này giúp người tín hữu tích cực tham gia vào phụng vụ và lãnh nhận các bí tích, đặc biệt với bí tích Thánh Thể, là phương thế hữu hiệu giúp họ mở ra để đón nhận và thực hiện ơn gọi phục vụ giáo hội như một ân ban.

“Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại”

1.Nhà truyền giáo trong một Giáo Hội truyền giáo
2.Đối thoại và tương quan giáo dục.
◦Được Giáo Hội sai đi
3.Những nhà truyền giáo của thời đại trong một Giáo hội có bản chất là truyền giáo.
4.Được sai đi để phục vụ với sự quan tâm đặc biệt dành cho những người rốt hết.
◦Thành viên sống động của cộng đoàn trong tương quan hiệp thông và trung thành với giáo huấn của Giáo hội.
5.Cảm thức hoàn toàn thuộc về cộng đoàn
6.Hoạt động trong sự hiệp nhất với Giáo Hội.
Việc đào sâu chiều kích truyền giáo này giúp người tín hữu mở ra và cộng tác với Chúa Thánh Thần trong sự hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội cùng với Đức Trinh Nữ Maria.

HUẤN LUYỆN GIÁO LÝ VIÊN

CẤP II

“Mọi việc phục vụ đều diễn tả lòng trung thành với lời mời gọi của Chúa trong bí tích Thánh Tẩy và Thêm sức. Mọi người đã được thanh tẩy đều là giáo lý viên, mà giáo lý viên là một con người, một kitô hữu, một chứng nhân, một thầy dạy, một nhà giáo dục”.

(Rinnovamento della Catechesi/Canh tân giáo lý, ch. X).

LỘ TRÌNH HUẤN LUYỆN TỔNG QUÁT

Năm I (27 buổi, mỗi thứ Hai, từ 9g30 đến 12g00)

Con người có khả năng đón nhận Thiên Chúa. Con người nào? 4 buổi

1.Hình ảnh con người trong Thánh Kinh so với những hình ảnh khác về con người gắn liền với nền văn hóa phát triển.
2.Những người con trong Người Con hay kinh nghiệm tôn giáo về con người và về tín hữu.
3.Con người, con đường ưu tiên của Giáo Hội (GS 22; RH 13-14)
4.Con người, hình ảnh Thiên Chúa được mạc khải nơi Đức Kitô.
5.Mầu nhiệm con người dẫn đến mầu nhiệm Thiên Chúa.
Nhận biết và thấu hiểu thế giới chúng ta đang sống(GS 4)

1.Phác họa và giải mã những định hình văn hóa trong thời đại chúng ta (đặc biệt từ những năm 60 đến nay)
2.Làm nổi bật khái niệm về con người theo văn hóa đương đại.
3.Dạy giáo lý là phục vụ con người trong lãnh vực giáo dục.
“Chuyên cần lắng nghe lời Chúa” 1 – 6 buổi

1.Thiên Chúa muốn mạc khải chính mình và tỏ bày mầu nhiệm thánh ý Ngài (Ep 1,9).
Thiên Chúa mạc khải trong lịch sử

•Tôn giáo và mạc khải;
•Thiên Chúa tỏ mình qua các biến cố và qua lời;
•Mạc Khải diễn ra trong lịch sử và hoàn tất nơi Đức Kitô.
Loan truyền Mạc Khải của Thiên Chúa

•Tương quan giữa Thánh Kinh,Thánh truyền và Huấn quyền;
•Truyền thống tông đồ.
Sách Thánh

•Linh hứng;
•Một cuốn sách duy nhất trong sự thống nhất giữa Cựu và Tân Ước;
•Tính lịch sử của Đức Giêsu.
Thánh Kinh trong đời sống Giáo Hội

•Huấn luyện về thư quy;
•Những công thức đức tin.
Kinh Thánh, việc dạy giáo lý và sách giáo lý

Chúa Giêsu Kitô, sự mạc khải viên mãn (5 buổi)

1.Chúa Giêsu Kitô Đấng Cứu độ duy nhất của con người.
2.Chiều kích quy kitô trong giáo lý;
3.Kitô học trong chương trình giáo lý Ý;
4.Hoạt động và sứ điệp của Đức Giêsu thành Nadaret;
5.Chúa Giêsu trao ban chính mình trên Thập Giá và qua sự phục sinh;
6.Đức Kitô mạc khải Chúa Cha và ban Thánh Thần.
Đáp lời Chúa Cha trong Đức Kitô và Thánh Thần (1 – 5 buổi)

•Con người mới trong Đức Kitô.
•Theo Chúa Kitô bằng một đời sống mới trong Thánh Thần, đến với Chúa Cha; ơn gọi và sự đáp trả của người kitô hữu.
•Lề luật mới trong Thánh Thần. Tự do tin mừng và tự do kitô hữu; các mối phúc.
•Nguyên tắc luân lý và trách nhiệm của con người; lương tâm kitô giáo.
1.Dạy giáo lý trong đời sống Giáo Hội (1 – 7 buổi)
◦Ơn gọi để hiện hữu và phục vụ
◦Là giáo lý viên
◦Giáo lý viên trong cộng đoàn Kitô hữu và việc huấn luyện đời sống thiêng liêng cũng như làm tông đồ.
◦Niên biểu lịch sử giáo lý qua các thời đại văn hóa khác nhau.
2.Giáo lý trong chương trình mục vụ của giáo phận
◦Các sách giáo lý trong hoạt động mục vụ;
◦Mục đích giáo dục của hoạt động mục vụ;
◦Phối hợp các hoạt động giáo lý.
3.Những nguyên tắc dạy giáo lý
◦Trung thành với Thiên Chúa và với con người
◦Lưu tâm đến chủ thể
◦Phương pháp và những cách thức
◦Giáo lý cho đời sống kitô hữu và những lộ trình khác nhau cho việc huấn luyện thường xuyên.
___________________

Năm II (27 buổi, mỗi thứ Ba, từ 9g30 đến 12g00)

Chuyên cần lắng nghe lời Chúa (2 – 8 buổi)

1.Làm thế nào giải thích Kinh Thánh, đọc bản văn và những tiêu chuẩn hiện tại hóa.
2.Chiều kích thánh kinh trong giáo lý.
3.Đào sâu kinh thánh là lưu tâm đến việc tiếp cận thống nhất của Kinh Thánh trong Giáo lý.
“Thiên Chúa hướng dẫn dân Người, Giáo Hội” (6 buổi)

1.Hội Thánh dân Thiên Chúa và Giáo hội hiệp thông
◦Hiện tại hóa mục vụ liên quan đến bản chất Giáo Hội;
2.Giáo hội học và giáo lý trong chương trình giáo lý Ý
◦Đào sâu giáo hội học là lưu tâm đến việc đối thoại đại kết và đối thoại liên tôn.
◦Giáo hội trong các sách Giáo lý.
Đáp lời Chúa Cha trong Đức Kitô và ThánhThần (2 – 5 buổi)

•Kinh nghiệm kitô hữu;
•Đón nhận và tôn trọng sự sống;
•Phái tính, hôn nhân và đời sống thánh hiến;
•Gia đình và công việc;
•Dấn thân xã hội và chính trị.
Dạy giáo lý trong đời sống Giáo Hội (2 – 8 buổi)

•Những yếu tố nền tảng của huấn giáo
•Loan báo Tin Mừng và Giáo lý;
•Những tiêu chuẩn và những yếu tố để trình bày sứ điệp Kitô;
•Các nguồn của Giáo lý;
•Các chủ thể hay đối tượng của giáo lý.
_________________

LỘ TRÌNH HUẤN LUYỆN CHUYÊN BIỆT

Năm III (27 buổi, mỗi thứ Tư, từ 9g30 đến 12g00)

Phần I – Tổng quát (16 buổi)

Mầu nhiệm Vượt qua trong thời Giáo Hội (5 buổi)

1.Phụng vụ: công trình của Ba Ngôi.
2.Nhiệm cục bí tích.
3.Các đối tượng, nơi chốn, cách thức và thời gian cử hành
4.Phụng vụ và giáo lý
Mầu nhiệm Vượt qua trong các bí tích của Hội Thánh (5 buổi)

1.Trở nên người kitô hữu, khai tâm kitô giáo
2.Các bí tích khai tâm kitô giáo
3.Các bí tích chữa lành
4.Các bí tích phục vụ cộng đoàn
Lộ trình đức tin cho đời sống kitô hữu (6 buổi)

1.Chương trình giáo lý Ý
2.Thủ bản giáo lý và việc lên chương trình giáo lý
3.Những lộ trình khác biệt: làm thế nào để tổ chức và thực hiện một lộ trình đức tin.
Phần tổng quát đặt nền cho phần chuyên biệt.

Phần II – Chuyên biệt (11 buổi)

•Nét đặc thù của các lứa tuổi, hoàn cảnh và môi trường sống (11 buổi).
•Hiểu biết các chủ thể hay đối tượng, chiều kích tâm lý – xã hội -sư phạm;
•Chiều kích mục vụ và phương pháp luận được đào sâu trong phần thực hiện những lộ trình khác nhau.
Nhờ sử dụng những thủ bản giáo lý và tài liệu hỗ trợ, giáo lý viên có khả năng thực hiện những lộ trình trưởng thành đức tin cho các đối tượng giáo lý mình phục vụ.

Phần huấn luyện chuyên biệt bao gồm việc hiểu biết đối tượng giáo lý và đào sâu chiều kích tâm lý-xã hội-sư phạm, mục vụ cũng như phương pháp luận.

•Nhằm mục đích giúp cho giảng viên giáo lý có khả năng chuẩn bị trước những lộ trình trưởng thành đức tin, khởi đi từ những thủ bản giáo lý dành cho các lứa tuổi khác nhau;
•Phần thứ hai của lộ trình với những đề nghị cho các đối tượng khác nhau, ưu tiên phương pháp thực nghiệm giáo lý (experience of laboratory).
Tất cả những buổi gặp gỡ trong chương trình huấn luyện đều khởi sự với giây phút cầu nguyện và tương hợp với các mùa phụng vụ để tạo cơ hội cho giảng viên giáo lý sống đức tin.

Phần hiểu biết chủ thể hay đối tượng của giáo lý được trình bày liên tục qua các đề tài:

•Giáo lý khai tâm kitô giáo
•Cho người lớn (Dự tòng)
•Cho trẻ em
•Giáo lý cho người trẻ
•Thiếu niên, 15-17 tuổi
•Giới trẻ, 18-25 tuổi
•Giáo lý người lớn
•Giáo lý gia đình
•Giáo lý cho người có hoàn cảnh đặc biệt (disable).

HUẤN LUYỆN THƯỜNG XUYÊN – THƯỜNG HUẤN

Cấp III

Lộ trình huấn luyện thường xuyên giúp giảng viên giáo lý cập nhật kiến thức, bồi dưỡng đời sống thiêng liêng và nghiệp vụ chuyên môn. Lộ trình gồm những khóa ngắn hạn được ấn định theo yêu cầu địa phương.

TRUNG TÂM

HUẤN LUYỆN GIÁO LÝ VIÊN

CỦA GIÁO HẠT

Trung tâm Huấn luyện phục vụ cho những người đã được huấn luyện cơ sở tại giáo xứ, những người ước muốn bước vào hành trình huấn luyện có tổ chức và hệ thống để trở thành những giảng viên giáo lý.

Kiên trì tiếp cận với thực tế địa phương, Trung Tâm đảm nhận việc huấn luyện căn bản và cập nhật cho giảng viên giáo lý theo yêu cầu của giáo hạt hoặc giáo xứ, qua những lộ trình huấn luyện tổng quát và chuyên biệt gắn với kế hoạch mục vụ của giáo phận.

Ban giảng huấn

Trung tâm Huấn luyện của giáo hạt được linh hoạt bởi một ban giảng huấn bao gồm giám học, điều phối viên, các giảng viên và thư ký. Các thành viên của Trung Tâm làm việc trong sự đồng thuận và liên kết thường xuyên với Trung tâm Huấn luyện của Giáo phận. Họ được tuyển chọn giữa những người đang sống và làm việc trong các giáo hạt.

Giám học

Giám học là người điều phối các hoạt động mục vụ của giáo hạt, thúc đẩy việc huấn luyện giảng viên giáo lý, bổ nhiệm các thành viên của Trung Tâm và kiểm tra việc thực hiện các lộ trình huấn luyện của Trung Tâm.

Điều phối viên

Điều phối viên có nhiệm vụ điều phối các hoạt động của Trung Tâm, được giám học bổ nhiệm, nối kết Trung Tâm và Giáo Phận, thực hiện mục đích và yêu cầu giáo dục và mục vụ mà Trung Tâm đề ra.

Điều phối viên được tuyển chọn từ những người hoạt động mục vụ tại địa phương, được đào luyện từ các khoa thần học, mục vụ, giáo lý hay từ các khoa giáo dục tôn giáo, hoặc đã hoàn tất hành trình huấn luyện dành cho những người hoạt động mục vụ. Điều phối viên là gạch nối giữa Giám học và Hội đồng Mục vụ của Giáo hạt.

Điều phối viên thi hành các phận vụ sau:

•Cùng với Hội đồng Mục vụ của giáo hạt chọn các giảng viên: Ước mong các giảng viên (linh mục, tu sĩ và giáo dân) được chọn là những người trong giáo hạt để hành trình huấn luyện gắn với môi trường mục vụ. Sự chọn lựa cần được giới thiệu ngay với Trung tâm Huấn luyện của giáo phận;
•Kiểm tra xem nội dung và hình thức trình bày của các giảng khóa có đồng nhất và dễ hiểu đối với những người tham gia khóa học không;
•Lên chương trình thực tập và những ngày tĩnh tâm;
•Điều khiển những buổi tiếp xúc với giáo phận về việc thống nhất kế hoạch huấn luyện sao cho phù hợp với những đòi hỏi chung của kế hoạch mục vụ giáo phận;
•Cổ võ sự tương tác sống động và thoải mái giữa các tham dự viên với các lộ trình huấn luyện.
•Linh hoạt cầu nguyện cộng đoàn vào đầu giờ học và trong các buổi tĩnh nguyện vào những thời điểm chính của phụng vụ như mùa Vọng, mùa Chay, Phục sinh, Hiện xuống, hay vào thời điểm khai mạc và bế mạc các lộ trình huấn luyện.
Thư ký

Thư ký là thành viên của ban giảng huấn, có bổn phận điều phối kỹ thuật và tổ chức. Vào các tháng 5 và 6, thúc đẩy việc ghi danh các khóa học, gửi thông báo và các mẫu đơn đến các cha xứ. Việc ghi danh kéo dài đến cuối tháng 6. Phối hợp với các giảng viên và điều phối viên để soạn thảo lịch giảng dạy và quán xuyến công việc của văn phòng thư ký.

Các giảng viên

Các giảng viên cần nắm vững phương pháp giảng dạy “thực nghiệm”: nghiên cứu, đối thoại, sinh hoạt nhóm xen kẽ những khoảnh khắc cầu nguyện và trao đổi kinh nghiệm nhằm khơi dậy một sự tham gia tích cực của người thụ giáo.

Các giảng viên còn phải nắm vững hệ thống huấn luyện và thực hiện trong bầu khí hiệp thông giáo hội để có được những giải pháp cụ thể cho mọi hoàn cảnh và môi trường sống, cũng như cho mọi lứa tuổi.

Các giảng viên cần đối chiếu với các văn kiện chính thức về giáo huấn của Giáo Hội, những văn kiện của Hội đồng Giám mục cũng như của Giáo phận.

Các giảng viên do điều phối viên của Trung Tâm giáo hạt tuyển chọn với sự chấp thuận của Trung tâm Huấn luyện giáo phận. Các giảng viên gặp nhau theo từng thời điểm để lên kế hoạch và kiểm tra hoạt động huấn luyện của Trung Tâm.

Các giảng viên không chỉ quan tâm đến nội dung giảng dạy mà còn phải quan tâm đến chủ thể hay đối tượng, không chỉ giản lược vào việc trình bày các đề tài về thánh kinh, thần học, sư phạm, mà còn phải nghiên cứu theo những phương pháp đặc thù nhắm đến thực hành giáo lý.

Cần dự kiến những buổi gặp gỡ hàng năm giữa ban giảng huấn và đại diện giám mục để điều phối các hoạt động huấn luyện.

Những chỉ dẫn chung

•Chương trình “huấn luyện căn bản” dành cho GLV được đề nghị trong một lộ trình 3 năm và thực hiện tại giáo hạt. Lộ trình huấn luyện căn bản hàng năm được thực hiện trong 80 tiết học, được phân chia theo các giảng khóa khác nhau, và theo kế hoạch của giáo phận.
•Hai năm đầu trong lộ trình căn bản được phân biệt chứ không lặp lại.
•Mỗi giáo hạt ấn định ngày giờ thực hiện các khóa học theo tình hình và nhu cầu địa phương, lưu ý mỗi tiết học kéo dài tối thiểu 45 phút.
•Học viên đến ghi danh theo các lộ trình huấn luyện phải tròn 18 tuổi.
•Chỉ được phép thi cuối các giảng khóa nếu hiện diện đủ 2/3 các buổi học.
•Trung tâm Huấn luyện tự điều hòa các khoản đóng góp của các học viên và sự cộng tác của các cộng đoàn, giáo xứ.

(SOẠN THEO TÀI LIỆU CỦA VĂN PHÒNG GIÁO LÝ VÀ PHỤC VỤ CHO NGƯỜI DỰ TÒNG GIÁO PHẬN RÔMA 2001)
Nguon: http://giaolyductin.org/newsview/vn/160/GIOI-THIEU-LO-TRINH–DAO-TAO-GIAO-LY-VIEN–CUA-GIAO-PHAN-ROMA.html

GIÁO LÝ VÀ NỖ LỰC TÌM LẠI CĂN TÍNH

A. HÀNH TRÌNH TÌM LẠI CĂN TÍNH

Trong suốt chiều dài lịch sử, việc dạy giáo lý có những phương thức khác nhau. Vì thế, người ta thường hỏi đâu là bản chất đích thực và đặc điểm của nó. Câu hỏi trở nên cấp thiết khi công đồng Vatican II thực hiện một bước ngoặt quyết định làm thay đổi truyền thống trong việc dạy giáo lý của Giáo Hội. Để tìm được câu trả lời, thiết tưởng chúng ta phải nhìn lại một cách hệ thống chiều dài lịch sử của việc dạy giáo lý.

1. Trong thời hiện đại: việc dạy giáo lý giản lược vào việc “dạy thủ bản giáo lý”

Toàn bộ thời hiện đại, từ thế kỷ XVI cho đến giữa thế kỷ XX, chú tâm vào việc dạy thủ bản hay toát yếu giáo lý Kitô giáo (compendium), thủ bản trở thành công cụ ưu việt của việc dạy giáo lý.

Suốt thời hiện đại, đã có những ghi nhận về việc sử dụng và tầm quan trọng của những sách giáo lý truyền thống từ thời công đồng Trentô đến sách giáo lý của ĐTC Piô X, trong số đó, có những sách rất phổ biến như Canisio, Bellarmino, Astete, Ripalda, Deharbe, vv. Đã từ lâu việc dạy giáo lý được hiểu như việc ghi nhớ, giải thích và áp dụng vào cuộc sống những bản tóm tắt hay toát yếu giáo lý Kitô giáo này; chúng được biên soạn cách rõ ràng, cô đọng, dưới hình thức hỏi thưa, bao gồm những chân lý đức tin cần thiết cho ơn cứu độ, những giới luật hoặc nguyên tắc thực hành và những phương tiện hay công cụ siêu việt như ân sủng và bí tích.

Suy tư về giáo lý nghiêng về phương tiện ưu việt này và về mô hình sư phạm nghịch lại mô hình mục vụ. Bên cạnh những ưu điểm và lợi ích không thể phủ nhận, có thể đưa ra không ít những giới hạn của nó: chú trọng đến thần học nhiều hơn sư phạm của sứ điệp, sử dụng ngôn ngữ trừu tượng, sự nghèo nàn về Kinh Thánh và phụng vụ, quy trình diễn giải, sư phạm kiểu “lên lớp” và “hộ giáo”, vv. Không chỉ như thế, việc dạy giáo lý bị đồng hóa với việc “dạy thủ bản” cũng xuất hiện trong dòng lịch sử gắn với thời mà phần lớn “Kitô giáo” vẫn còn duy nhất và thuần nhất. Có thể nói rằng, trên nhiều bình diện, giáo dục tôn giáo tìm được trong môi trường gia đình và xã hội nhiều kênh truyền thông và ảnh hưởng bổ khuyết phần nào cho những thiếu sót của phương pháp dạy giáo lý này.

Thời gian trôi qua, việc bỏ đạo gia tăng, sự bất mãn và bận tâm cũng tăng lên; người ta thấy cần phải suy nghĩ lại thành phần của những hoạt động giáo lý khác nhau. Phong trào giáo lý nảy sinh và phát triển từ đó.

2. Thời tiền công đồng: từ việc “dạy thủ bản giáo lý” đến việc “dạy giáo lý”

Vào khoảng cuối thế kỷ XIX, một sự xoay chuyển lớn về ý tưởng và những sáng kiến được phát triển dẫn đến việc canh tân và khuếch trương giáo lý trong Giáo Hội được gọi là “phong trào giáo lý”.

Một chuỗi gợi ý và chỉ dẫn mang tính chính thức của phong trào được ghi nhận bắt nguồn từ Rôma, sau đó ảnh hưởng tới những quốc gia và các Giáo Hội địa phương khác. Điều này làm chúng ta liên tưởng đến công trình tiên khởi của ĐTC Piô X, với thông điệp “Acerbo Nimis” (1905) và những sách giáo lý mang tên ngài (1905 và 1912), bản tuyên ngôn “Provido Sane” năm 1935 và Hội nghị Giáo lý Quốc tế ở Rôma năm 1950. Trong các quốc gia, chúng thấy có những hội nghị giáo lý khác nhau, nỗ lực soạn thảo sách giáo lý cấp quốc gia, những công trình không biết mỏi mệt của những nhà khai sáng khác nhau trong việc canh tân giáo lý.

Phong trào giáo lý cũng tìm được một số quốc gia làm nơi thuận tiện để xem xét lại hoạt động giáo lý dưới ảnh hưởng của nền thần học và sư phạm đương thời cũng như việc sử dụng những phương thế phân tích và giải thích mới. Trong ý hướng này, phải tuyên dương đặc biệt các nước Đức, Áo và Pháp. Nhìn chung về phong trào giáo lý ở châu Âu, người ta có thể phân biệt ba ảnh hưởng mang tính quyết định đó là sư phạm, phụng vụ và thần học-mục vụ.

Ảnh hưởng sư phạm
Ảnh hưởng đầu tiên (từ cuối thế kỷ XVIII đến thế chiến thứ hai) phát xuất từ mối bận tâm về phương phápdạy môn tôn giáo và từ ảnh hưởng của những ý tưởng lớn về sư phạm và tâm lý (O. Willmann, J.F. Herbart, J. Dewey, G. Kerschenstainer, A. Ferrière, vv.). Bận tâm chính là tìm ra cách dạy giáo lý tốt hơn, đặc biệt là điều kiện và cách học của trẻ em. Điều này nhắc ta nhớ đến ảnh hưởng của “phương pháp đan sĩ (Monaco)” và công trình không mỏi mệt của những người tiên phong trong việc canh tân giáo lý như H. Stieglitz, A. Weber, W. Pichler, M. Pfliegler, C. Quinet, M. Fargues, F. Derkenne, M. Montessori, J.M. Dingeon, vv…

Ảnh hưởng phụng vụ

Ảnh hưởng phụng vụ phát xuất từ việc canh tân phụng vụ, đặc biệt từ cách giải thích mục vụ (B. Beaudin, Hội nghị Malines 1908 và Monserrat 1915). Nỗ lực canh tân này đưa những yêu cầu và phương thức phụng vụ như bài hát, cử hành, biểu tượng, cử chỉ, vv…vào trong giáo lý.

Ảnh hưởng thần học-mục vụ

Ảnh hưởng thần học-mục vụ xảy ra giữa thế chiến thứ hai và CĐ Vatican II, phát xuất từ vấn đề nội dung hoặc sứ điệp của giáo lý là “kerygma”. Người ta phản đối cấu trúc trừu tượng và giáo điều của sách giáo lý truyền thống và tán thành việc trở lại với “kerygma” của các tông đồ cũng như với truyền thống giáo lý chân thực của Giáo Hội. Người ta khám phá lại tính quy Kitô của giáo lý, trọng tâm của lịch sử cứu độ, chiều kích Kinh Thánh và phụng vụ của sứ điệp Kitô giáo, khái niệm giáo lý như là việc giáo dục đức tin. Một vài khuôn mặt đáng nhớ về ảnh hưởng này: J.A. Jungmann, F.X. Arnold, G. Delcuve, J. Colomb, F. Schreibmayr, K. Tilmann, J. Hofinger.

3. Bước ngoặt công đồng Vatican II:duyệt xét lại toàn bộ việc dạy giáo lý

Công đồng Vatican II có ảnh hưởng sâu rộng và quyết liệt trên việc dạy giáo lý. Có thể nói Công Đồng đã khép lại “thời đại dạy thủ bản giáo lý” và mở ra công cuộc rà soát lại nền tảng của việc dạy giáo lý. Mặc dù Công Đồng không đề cập trực tiếp đến giáo lý, nhưng toàn bộ công trình của Công Đồng buộc ta phải thay đổi cách hiểu về nhiệm vụ của việc dạy giáo lý, qua việc xem xét lại một số điểm căn bản về việc dạy giáo lý như Lời Chúa, đức tin và Giáo Hội.

Hậu Công đồng là một thời kỳ đầy chấn động về giáo lý cũng như về các vấn đề khác trong đời sống Giáo Hội, một thời kỳ thật phong phú nhưng cũng rất phức tạp. Phong phú vì có nhiều công trình nghiên cứu những đường lối mới, đầy nhiệt thành và sáng tạo. Người ta soạn thảo nhiều sách giáo lý mới với những bản văn và tài liệu hỗ trợ, lập ra những Học viện và Trung tâm Huấn giáo lý. Nỗ lực suy tư về giáo lý dẫn đến nhiều bình diện hay chiều kích mới trên bình diện thực hành như đòi hỏi về nhân học, trọng tâm Kinh Thánh, chiều kích chính trị và xã hội, ưu tiên cho người lớn, ảnh hưởng của truyền thông và cách riêng của truyền thanh và truyền hình, tầm quan trọng của cộng đoàn, vv… Những thúc đẩy và tác động lớn lao này có khả năng phác họa một khuôn mặt thực sự mới mẻ về hoạt động giáo lý.

Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng có một thời kỳ thực sự bất ổn và phức tạp không thể kiểm soát được do những biến đổi và những sự mới mẻ gây ra. Thông thường một hoàn cảnh bất ổn và phức tạpnhư thế sẽ làm cho toàn bộ hoạt động giáo lý bị khủng hoảng về nội dung, phương pháp, môi trường, đối tượng, nhân sự, vv… đồng thời tạo ra xung đột và rối loạn, tranh cãi và căng thẳng, khủng hoảng về nhân sự và tổ chức, những cố gắng không chuyên môn và những kinh nghiệm chín muồi tỏa sang. Chúng ta không được quên rằng tận sâu thẳm của mọi biến đổi đều có những nguy cơ và những khó khăn; đây là cái giá phải trả cho mọi nỗ lực canh tân nghiêm túc.

4. Sự đóng góp của Huấn quyền về việc dạy giáo lý

Trong thời hậu Công đồng, cũng có rất nhiều chỉ dẫn giúp canh tân giáo lý một cách đúng đắn và có trật tự. Chúng ta nhớ đến những văn kiện và tài liệu của Giáo Hội Phổ quát như Hướng Dẫn Giáo Lý Tổng Quát năm 1971, Nghi thức Khai tâm Kitô giáo cho người lớn” (OICA/RICA), Thượng Hội Đồng Gíam Mục năm 1974 và 1977 với các tông huấn kết thúc Loan báo Tin Mừng (Evangelii Nuntiandi) và Dạy giáo lý (Catechesi Tradendae), tông thư Sứ vụ Đấng cứu độ (Redemptoris Mission – 1990), Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo (1992) và văn kiện mới Hướng Dẫn Tổng Quát về việc Dạy Giáo Lý (1997).

Bên cạnh những chỉ dẫn đại thể này, còn có những tài liệu hướng dẫn không kém phần quan trọng và ý nghĩa của các Giáo Hội địa phương, chẳng hạn tài liệu của các Giáo Hội châu Mỹ la tinh: Medellín, Puebla và S.Domingo.

Cần có sự minh định

Dạy giáo lý là một trong những hình thức thực thi sứ vụ Rao giảng Lời Chúa hoặc thừa tác vụ Ngôn sứ của Giáo Hội, bên cạnh các hình thức khác như Loan báo Tin Mừng đầu tiên, giảng dạy trong phụng vụ, suy tư thần học, vv… Vì thế, việc dạy giáo lý chỉ có thể tìm lại căn tính của mình trong viễn tượng Rao giảng Tin Mừng (RGTM). Việc đề cao tính ưu việt của RGTM trong sứ mạng của Giáo Hội có vẻ làm mờ nhiều chức năng truyền thống của việc dạy giáo lý, chí ít buộc chúng phải được xem xét lại. Cặp từ “RGTM và Giáo lý” thường xuất hiện trong các văn kiện và chương trình mục vụ mà trước đây những tài liệu ấy chỉ nói đến giáo lý. Người ta cũng nói đến “giáo lý phúc âm hóa”, “giáo lý truyền giáo” vv… và ưu tiên chọn RGTM đến độ hoạt động giáo lý chừng như biến mất hay bị lu mờ.Do đó, thiết nghĩ cần phải làm sáng tỏ vấn đề này.

Một khó khăn khác nảy sinh từ việc giáo lý có rất nhiều hình thức khác nhaunhư lộ trình dự tòng, chuẩn bị lãnh nhận các bí tích, các nhóm suy tư, các khóa huấn luyện, đọc Kinh Thánh, vv…, và hoạt động giáo lý cũng có nhiều tên gọi khác nhaunhư dạy đạo, giáo dục đức tin, dạy giáo lý, dạy tôn giáo, huấn luyện đạo đức, vv… Khi nói đến giáo lý, người ta cũng nói đến những hoạt động rất đa dạng nhưcử hành phụng vụ, cầu nguyện và chiêm niệm, các nhóm linh thao, sống & chia sẻ, các hiệp hội và phong trào, vv… Như thế, “giáo lý” dường như có mặt ở mọi nơi mọi chỗ, do đó, đánh mất ý nghĩa và căn tính của nó trong sự hòa hợp các chức năng khác nhau của cộng đoàn Kitô hữu. Một lần nữa, cần phải làm sáng tỏ và đào sâu ý nghĩa của việc dạy giáo lý.

B. CĂN TÍNH CỦA VIỆC DẠY GIÁO LÝ

Bản chất và ý nghĩa của việc dạy giáo lý được xác định trong viễn tượng Rao giảng Tin Mừngcũng như trong khuôn khổ sứ vụ của Giáo Hội, tức thừa tác vụ Lời Chúa.

1. Rao giảng Tin Mừng
Từ “Rao giảng Tin Mừng” hay “Phúc Âm hóa” (evangelization), trong CĐ Vatican II, chưa được xác định rõ, nhưng sau Công Đồng không những được xác định rõ mà còn được biết đến cách rộng rãi, nhất là trong thập niên 70. Thuật ngữ này xuất hiện trong các văn kiện, tài liệu, hội nghị và chương trình mục vụ và ảnh hưởng một cách nào đó trên THĐGM năm 1974 và sau đó trên tông huấn Evangelii Nuntiandi của ĐTC Phaolô VI năm 1975. Từ thập niên 80 và 90, xuất hiện lối diễn tả “Tân Phúc Âm hóa”, đặc biệt cho bối cảnh Âu Mỹ.

Thuật ngữ “Rao giảng Tin Mừng” hay “Phúc Âm hóa” (evangelization) ngày xưa được dùng cho những vùng “truyền giáo” và được hiểu như là sứ mạng chính yếu của toàn thể Giáo Hội:

“Chúng tôi muốn tái khẳng định rằng việc sai đi RGTM cho muôn dân làm nên sứ mạng chính yếu của Giáo Hội. Nhiệm vụ và sứ mạng này không giảm thiểu tính khẩn thiết của nó trong một xã hội nhiều chuyển biến lớn lao và sâu xa. Thật vậy, việc RGTM là ân sủng, là ơn gọi thiết yếu và là bản chất sâu xa của Giáo Hội” (EN 14).

Trong Tân ước, động từ “loan báo” (euanghelìzesthai) khi thì được dùng theo nghĩa hẹp là công khai và long trọng tuyên bố ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban cho mọi người trong Đức Giêsu Kitô – Đấng đã chết và đã sống lại, khi thì được dùng theo nghĩa rộng để chỉ toàn bộ hoạt động của Giáo Hội, bằng lời nói và cuộc sống, làm cho ơn cứu độ thành hiện thực.

Trọng tâm của việc RGTM luôn luôn là “Tin Mừng/Phúc Âm”. RGTM nghĩa là loan báo Tin Mừng Cứu độ, công bố Nước Trời, mạc khải “mầu nhiệm” được ẩn giấu nơi Thiên Chúa, loan báo cuộc Vượt qua của Đức Kitô – mạc khải siêu việt và kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa trong lịch sử.

Trong các văn kiện CĐ Vatican II, từ “RGTM” chuyển từ nghĩa hẹp là RGTM cho người chưa tin để họ hoán cải và gia nhập đạo, đến nghĩa rộng hơn là RGTM trong toàn bộ hoạt động ngôn sứ hoặc truyền giáo của Giáo Hội. Khảo sát thuật ngữ“RGTM” trong các văn kiện Công Đồng, Grasso kết luận như sau:

“Chúng ta có thể phân biệt ba ý nghĩa sau: hoặc chỉ việc dạy dỗ muôn dân (Ad gentes 6,26), hoặc chỉ toàn bộ thừa tác vụ lời (Lumen gentium 3,18; Christus Dominus 6,10; Gaudium et Spes 44,13; Apostolicam Actuositatem 2,20, vv.), hoặc chỉ toàn bộ hoạt động truyền giáo của Giáo Hội (Ad Gentes 23,6; 27,15, vv.)”

Trongcác văn kiện hậu Công Đồng, ý nghĩa của từ RGTM được xác định rõ và được hiểu theo nghĩa rộng, tức toàn bộ hoạt động truyền giáo của Giáo Hội được thực hiện dưới mọi hình thức. Tông huấn Evangelii Nuntiandi đã xác định nghĩa rộng của từ này, áp dụng nghĩa này trong cái nhìn phức hợp (17) và sự phong phú của mọi chiều kích (18-24).

“Chúng tôi đã tuyên bố, RGTM là một tiến trình phức hợp gồm nhiều yếu tố khác nhau: canh tân nhân loại, làm chứng, loan báo minh bạch, gắn kết tâm hồn, hội nhập cộng đoàn, chấp nhận những dấu chỉ, những sáng kiến tông đồ” (EN 24).

Nghĩa rộng của từ này cũng được Hướng dẫn Tổng quát việc Dạy Giáo lý chấp nhận:
“Loan báo, làm chứng, giáo huấn, các bí tích, yêu tha nhân, thâu nạp môn đệ: tất cả những sắc thái ấy đều là những con đường và phương tiện cho việc truyền đạt Phúc Âm và làm thành những yếu tố của việc RGTM […]. Những thừa tác viên của việc RGTM phải biết hành động với một “cái nhìn tổng thể” về chính việc RGTM và đồng hóa nó với toàn bộ sứ mạng của GIÁO HỘI” (46).

“Việc RGTM phải được quan niệm như tiến trình mà qua đó Hội Thánh loan báo và phổ biến TM cho toàn thế giới dưới sự thúc đẩy của Thánh Thần” (48).

Trong ý thức hiện tại của Giáo Hội, RGTM là loan báo và làm chứng cho Tin Mừng từ phía Giáo Hội, qua tất cả những gì Giáo Hội nói, Giáo Hội làm và Giáo Hội là. Nó bao gồm toàn bộ hoạt động của Giáo Hội nhắm đến việc loan báo và làm chứng Tin Mừng Nước Trời. Có thể nói định nghĩa này đánh dấu một bước ngoặt trong công cuộc Rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội. Giáo Hội sẽ “không có nghĩa gì nếu như nó không trở thành chứng tá, khơi lên lòng cảm phục và hoán cải, khi giảng dạy và loan báo Tin Mừng” (EN 15). Ý nghĩa của thuật ngữ RGTM giúp chúng ta xác định căn tính của việc dạy giáo lý, ngay bên trong tác vụ Lời Chúa.

2. Việc dạy giáo lý trong tác vụ Lời Chúa

Ngay từ thời các tông đồ, việc phục vụ Lời Thiên Chúa (Cv 6,2-4) đã được xem là yếu tố nền tảng của việc RGTM (x. HDTQ 50). Cùng với việc “làm chứng” (martyria), giáo lý là một phần của tác vụ Lời Chúa.

Các hình thức phục vụ Lời Chúa: Theo truyền thống của Giáo Hội, có ba hình thức chính yếu phục vụ Lời Thiên Chúa: loan báo Tin Mừng đầu tiên (kerygma), dạy giáo lý (catechesis) và giảng dạy trong phụng vụ (homily). Cách phân chia này vừa ám chỉ những đối tượng khác nhau (người chưa tin, người dự tòng, người tín hữu), vừa nói đến tiến trình tháp nhập vào nhiệm cục bí tích (hoán cải, rửa tội, thánh thể), cũng như những giai đoạn chính trong tiến trình năng động của đức tin (tiếp nhận đức tin, đào sâu đức tin, sống đức tin). Hướng dẫn Tổng quát việc Dạy giáo lý (s. 51) phân biệt 5 hình thức của tác vụ Lời Chúa: qui tụ và mời gọi đón nhận đức tin, khai tâm, giáo dục đức tin thường xuyên, chức năng phụng vụ và chức năng thần học. Cách phân chia này không cho thấy hết toàn bộ lý thuyết cũng như thực hành mục vụ. Trên thực tế, không có sự phân biệt rạch ròi như thế; những hình thức đó thông thường, vì lý do mục vụ, phải đảm nhận cùng một lúc nhiều chức năng khác nhau (HDTQ 52). Cách phân chia truyền thống có thể làm sáng tỏ hơn.

Chứng từ Thánh Kinh và lịch sử: Các Giáo Hội tông truyền chứng minh một thực tế rất khác mà không ấn định các hình thức phục vụ Lời Chúa. Chính từ việc đáp trả trong đức tin lời loan báo Tin Mừng, rồi phát triển và đào sâu Lời Chúa dưới những hình thức khác nhau mà cộng đoàn hiện diện và làm chứng trước mặt mọi người. Sau đây là một vài hình thức đặc trưng được liệt kê một cách tổng quát:

“Việc loan báo Tin Mừng, nghĩa là việc loan báo Tin Mừng đầu tiên, với mục đích khơi dậy nơi người chưa có đức tin ước muốn gia nhập đạo; việc dạy giáo lý hay huấn giáo, là việc đào sâu, có mục đích giúp hiểu cặn kẽ và rút ra những hệ quả cho cuộc sống từ trọng tâm sứ điệp Tin Mừng; việc ngôn sứ, là việc thúc đẩy cộng đoàn phân định thánh ý Thiên Chúa trong lịch sử; làm chứng, là việc minh họa, bảo đảm và thuyết phục; khuyến thiện, là việc sửa dạy và làm cho thêm hăng hái”.

Những hình thức phục vụ Lời kể trên làm nên đời sống của các cộng đoàn, đời sống này trở thành điểm chuẩn để nối kết trung thành với sứ điệp cứu độ duy nhất. Dựa vào sự chuyển biến của từ ngữ tìm thấy trong Tân Ước, người ta có thể phân biệt giữa thời điểm đầu tiên của việc loan báosứ điệp, qua những động từ như “la lên” (krazein), “công bố” (keryssein), “truyền đạt” (euangelizein), “làm chứng” (martyrein), và thời điểm thứ hai của việc diễn giải và đào sâu,qua những động từ như “dạy dỗ” (didaskein), “dạy giáo lý” (katechein), “thuyết giảng” (homilein), “loan truyền” (paradidonai) và những từ tương tự. Vào thời điểm thứ hai của việc diễn giải và đào sâu, chúng ta tìm thấy từ “dạy giáo lý” (katechein):

“Keryssein có tương quan ngữ học với katechein. Keryssein (công bố) chỉ thể thức căn bản của một lời, một sứ điệp, so với katechein (dạy giáo lý) chỉ tiếng vang kéo dài dẫn đến việc thông hiểu sứ điệp”.

Từ “katechein” cho thấy tính mới mẻ của Tân ước, nhấn mạnh đến tính độc đáo của giáo lý, bao hàm việc “làm vang vọng” một Lời vượt trên hết mọi sự và không gì có thể thay thế được. Theo nghĩa đen, “katechein” có nghĩa là “vang vọng, làm vang vọng”, tương ứng với ý nghĩa của các từ như giảng dạy, lên tiếng dạy dỗ, tường thuật, kể lại (xem Lc 1,4; Cv 18,25; 21,21; Rm 2,18; 1 Cr 14,19; Gal 6,6).

Trong thời hậu các tông đồ và các giáo phụ, việc dạy giáo lý có một ý nghĩa chính xác nhất; đó là việc giảng dạy căn bản đức tin Kitô giáo trong bối cảnh dự tòng. Vào thời trung cổ, từ “dạy giáo lý” (catechesis) biến mất và được thay thế bằng những từ như “sách giáo lý” (catechism), “huấn thị” (instruction), thường ở dạng hỏi-thưa như thấy trong phần mở đầu nghi thức rửa tội. Trong thời hiện đại (thế kỷ XVI-XIX) hoạt động giáo lý trở nên hưng thịnh với những phương tiện (các sách báo về giáo lý được in ấn và phổ biến) và tên gọi khác nhau như dạy bổn, dạy đạo, dạy tôn giáo, vv. Chỉ với sự phát triển của phong trào giáo lý ở thế kỷ XX, người ta mới lấy lại định nghĩa truyền thống về “dạy giáo lý”, với ý định vừa khám phá lại ý nghĩa đích thực vừa giải thích lại ý nghĩa của nó dưới ánh sáng của những điều kiện lịch sử và văn hóa biến đổi.

3. Bản chất của việc dạy giáo lý
Truyền thống Giáo Hội cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa các hoạt động được diễn tả bằng từ “dạy giáo lý” hoặc các từ tương đương. Trong những thời đại nhất định, các từ này biểu thị những hình thức hoạt động thường làm nên các tổ chức như dự tòng thời cổ đại, khai tâm bí tích, dạy đạo cho người lớn và trẻ em, dạy tôn giáo trong nhà trường, vv. Từ “dạy giáo lý” ngày nay, theo giáo huấn của Giáo Hội, được hiểu theo nghĩa rộng và xác thực hơn.
Hiện có rất nhiều định nghĩa về giáo lý; một vài định nghĩa được sử dụng và trích dẫn trong các văn kiện chính thức của Giáo Hội, chẳng hạn Công Đồng nói đến “việc dạy giáo lý” để “khơi dậy đức tin nơi mọi người và làm cho đức tin ấy, nhờ đạo lý soi dẫn, trở nên sống động, dứt khoát và tích cực» (CD 14); hoặc định nghĩa của THĐGM năm 1977:

«Công việc này … bao gồm việc giáo dục đức tin có tồ chức, phát triển và thống nhất với một tiến trình trưởng thành đức tin vững chắc».

Một định nghĩa khác trong Hướng dẫn Giáo lý Tổng quát năm 1971:
«Trong lãnh vực hoạt động mục vụ, giáo lý là hoạt động Giáo Hội dẫn dắt các Kitô hữu và các cộng đoàn đạt tới một đức tin trưởng thành» (HDGL 21).

Trong Hướng dẫn Tổng quátviệc Dạy Giáo lý năm 1997, “dạy giáo lý là một trong những thời điểm chính yếu của tiến trình rao giảng Tin Mừng … Thời điểm của việc dạy giáo lý là thời gian để hình thành cuộc trở lại với Chúa Giêsu” (s.63) và “đặt nền tảng cho tòa nhà đức tin” (s.64), “là sự khai tâm có tổ chức và hệ thống hướng về Mạc khải” (s.66). Đặc biệt việc dạy giáo lý khai tâm được diễn tả như là “một sự đào tạo có tổ chức và có hệ thống về đức tin” (s.67), hơn hẳn việc giảng dạy truyền thống:

«Việc đào tạo có tổ chức và có truyền thống này còn hơn là một sự giảng dạy: đó là một cuộc tập luyện toàn bộ đời sống Kitô giáo, “một sự khai tâm Kitô giáo trọn vẹn” dẫn đến cuộc sống đích thực theo chân Đức Kitô, tập trung vào Ngôi vị của Người. Thực vậy, đó là việc giáo dục để nhận biết và sống đức tin sao cho qua những kinh nghiệm sâu sắc của mình, con người toàn diện tự cảm thấy mình phong phú nhờ Lời Chúa»(HDTQ 67).

Dẫu có những diễn tả khác nhau, nhưng Giáo Hội hiện thời vẫn thống nhất ý kiến trong việc nhận ra căn tính của giáo lý xoay quanh 3 trục chính: Lời Chúa, Đức tin và Giáo Hội:

• Dạy giáo lý là tác vụ Lời Chúa; vì vậy, dạy giáo lý là phục vụ Tin Mừng, là thông truyền sứ điệp Kitô giáo và loan báo Đức Kitô;
• Dạy giáo lý là giáo dục đức tin; trongcông cuộc giáo dục này, Giáo Hội giữ vai trò trung gian để giúp cho đức tin nảy sinh và tăng trưởng nơi từng người cũng như nơi cộng đoàn;
• Dạy giáo lý là hoạt động của Giáo Hội; hoạt động nàydiễn tả thực tại và sứ mạng chính yếu của Giáo Hội.
Tóm lại, dạy giáo lý là hình thức phục vụ Lời Chúa của Giáo Hội nhằm mục đích làm cho từng người và từng cộng đoàn trưởng thành trong đức tin.

4. Một vài xác định và chọn lựa ưu tiên

Giáo lý là một thời điểm có ý nghĩa trong toàn bộ tiến trình Rao giảng Tin Mừng.Nếu như trong thực tế, Giáo Hội phối hợp loan báo và làm chứng cho Tin Mừng lại với nhau, thì giáo lý luôn là một hình thức Rao giảng Tin Mừng:

«Việc dạy giáo lý nằm trong sứ mạng rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội và được coi là ‘thời điểm’ chính yếu, nó kín múc trong công cuộc RGTM động lực truyền giáo đã đem lại cho nó sự phong phú nội tại và căn tính đặc thù»(HDTQ 59; x. DGL 18).

Về bản chất, giáo lý là một thời điểm khác biệt và tiếp nối thời điểm loan báo Tin Mừng đầu tiên(HDGL 61). Nó giả định bước loan báo đầu tiên này thúc đẩy sự hoán cải ban đầu. Điều này không luôn xảy ra nhưng xác lập biên giới giữa 2 thời điểm, thực tế, việc dạy giáo lý bao hàm việc hoán cải và kêu gọi hoán cải (HDGL 62). Hoàn cảnh mục vụ ngày nay khiến việc dạy giáo lý phải thực thi luôn chức năng truyền giáo, đặc biệt trong các Giáo Hội có truyền thống Kitô giáo lâu đời, nơi mà xã hội mang đậm tính Kitô giáo nhưng không hành xử theo đức tin.

Như vậy, điểm nổi bật trong toàn bộ hoạt động giáo lý là việc dạy giáo lý khai tâm dưới các dạng thức khác nhau, chẳng hạn việc đào tạo có tổ chức và có hệ thống về đức tin (HDGL 67), và việc dạy giáo lý có một chức năng không thể thay thế được trong tiến trình RGTM:

«Việc dạy giáo lý khai tâm, vì thế, là mắt xích nối kết hoạt động truyền giáo là mời gọi tin, với hoạt động mục vụ là làm sống lại cộng đoàn Kitô giáo. Vậy đây không phải là một hoạt động tùy tiện, nhưng là nền tảng phát huy chính nhân cách của người môn đệ cũng như cộng đoàn»(HDTQ 64).

Trong bối cảnh này, người ta dành ưu tiên cho giáo lý người lớn; một chọn lựa chín chắn trong thời hậu công đồng và được khắp nơi tán thành:

«Các mục tử cũng nên nhớ rằng việc dạy giáo lý cho người lớn là việc dạy giáo lý trực tiếp cho những người có khả năng gia nhập và dấn thân thực sự có trách nhiệm, hình thức dạy giáo lý này cùng với những hình thức khác, được xem là hình thức chính của việc dạy giáo lý, cho nên không được xem nhẹ nhưng phải xem là mệnh lệnh” (HDGL 20).

Chức năng dạy giáo lý của Giáo Hội rất rộng lớn và được thực hiện dưới những hình thức khác nhau: cá nhân và cộng đoàn, tự phát và có tổ chức, cơ hội và có hệ thống. Đan cử những hình thức khác nhau: giảng dạy, khuyên răn, thảo luận, làm chứng, suy tư, vv. Những hình thức này được thực hiện trong những sinh hoạt đa dạng và cụ thể: những lộ trình dự tòng, chuẩn bị lãnh các bí tích, các khóa huấn luyện tôn giáo, suy tư cộng đoàn, giảng dạy phụng vụ, truyền thông đại chúng, vv. (x. HDGL 71).

Chức năng và những hình thức dạy giáo lý khác nhau không được làm mất đi căn tính của việc dạy giáo lý là phục vụ Lời Chúa hướng đến sự trưởng thành đức tin của người Kitô hữu. Cùng với những hoạt động khác của Giáo Hội, việc dạy giáo lý xác định rõ đặc điểm của mình là đào sâu (đối với đức tin ban đầu) và khai mở hoặc dẫn vào (những thực hành đạo đức khác nhau trong đời sống Kitô hữu như cầu nguyện, phụng vụ, cam kết, làm chứng, vv.). Cho nên, không phải mọi hình thức hoạt động trong đời sống Giáo Hội đều là “giáo lý”, cho dù có thể nói toàn bộ hoạt động của Giáo Hội luôn có mộtkhía cạnh hoặcchiều kích giáo lý.

Theo Emilio ALBERICH, La catechesi oggi. Manuale di catechetica fondamentale (Giáo lý ngày nay. Thủ bản nghiên cứu giáo lý căn bản), Elledici, TO, 2001, 61 – 77.

Md Phạm Thúy
Nguon : http://giaolyductin.org/newsview/vn/222/GIAO-LY–VA-NO-LUC-TIM-LAI-CAN-TINH-.html

KINH Á THÁNH ANRÊ PHÚ YÊN

Thân lạy Á Thánh Anrê,
Là Chứng nhân tiên khởi của Hội Thánh Việt Nam.
Xưa Người đã hiến trọn tuổi xuân và mạng sống,
Để đáp đền tình Chúa yêu thương,
Góp phần xây dựng Hội Thánh Việt Nam thưở ban sơ.
Là giáo lý viên nhiệt tình và quảng đại,
Không ngại gian nan rao giảng Tin Mừng.
Sau hết, Người đã lấy máu đào,
Minh chứng tình yêu son sắt
Dành cho Chúa Kitô và Hội Thánh.
Nay trên thiên quốc,
xin người đoái thương nguyện giúp cầu thay,
cho quê hương Việt Nam rạng ngời Danh Chúa,
cho giáo dân Việt Nam biết mến Chúa yêu người,
cho các bạn trẻ Việt Nam nhiệt thành thánh thiện,
cho các giáo lý viên,
biết hết lòng phục vụ trong niềm tin yêu phó thác.

Thân lạy Á Thánh Anrê,
Xin cho mọi người chúng con,
Luôn ghi nhớ và thực hiện nguyện ước của Người:
Đem tình yêu đáp trả tình yêu,
Hiến dâng mạng sống báo đền mạng sống.
Quyết một lòng trung nghĩa với Chúa Giêsu,
Cho đến trọn đời. Amen

Lời cầu nguyện của các bạn trẻ

Lạy Chúa Giêsu Kitô,
Chúa đã sống tuổi trẻ như chúng con
Và đã gọi ngay nhiều người trẻ đến với Chúa.
Khi Chúa vào đời,
Chúa đã cùng họ rảo hết các xóm làng,
Trèo lên những ngọn núi cao,
Nhiều lần gặp sóng gió trên biển hồ.
Chúa dạy họ cầu nguyện,
Để đón nhận mạc khải của Chúa Cha.
Và sai họ đem bình an đến cho mọi nhà.
Rồi tuôn đổ Thánh Thần xuống trên họ.
Chúa sai nhóm trẻ đi xây dựng Giáo Hội và thế giới mới,
Trên nền tảng Tin Mừng và tình yêu của Chúa.
Xin cho người trẻ chúng con hôm nay,
Biết đón nhận ánh mắt yêu thương của Chúa,
Bảo nhau đến với Chúa,
Và trở thành môn đệ Chúa yêu.
Xin thuật lại cho chúng con các dụ ngôn về người trẻ,
Để chúng con không bỏ nhà,
Khiến cha già phải nhớ thương.
Nhưng chúng con phải sử dụng tài năng,
Với tinh thần tỉnh thức và khôn ngoan.
Xin đào tạo chúng con,
Như nhóm trẻ ban đầu của Chúa,
Để các đôi bạn trẻ
Luôn hân hoan vì rượu mới Chúa ban.
Và để nhiều người trẻ khác
Tiếp tục đọc