BÀI THUYẾT TRÌNH 1: LOAN BÁO TIN MỪNG HÔM NAY VÀ NHỮNG THÁCH THỨC CỦA NÓ

Thuyết trình viên
ĐTGM Phêrô Nguyễn Văn Nhơn

Nội dung của Đại Hội Giáo lý III là trao đổi về “Giáo lý trong viễn tượng Loan Báo Tin Mừng”. Nói theo tài liệu hướng dẫn Đại Hội thì “Đây là lúc chúng ta khám phá lại căn tính của việc dạy giáo lý bằng cách đặt nó vào khung cảnh của việc Loan Báo Tin Mừng (LBTM)”. Vì vậy, tôi cố gắng trình bày đề tài Loan Báo Tin Mừng thế nào để bài tiếp theo, thuyết trình viên có thể xác định được tương quan và chỗ đứng của việc dạy giáo lý trong công cuộc LBTM.
Tông Huấn Loan Báo Tin Mừng (8-12-1975) đã đề nghị một trong những nguyên tắc cần được nhấn mạnh đó là:” việc dạy giáo lý là một hoạt động loan báo Tin Mừng nằm trong khuôn khổ sứ mạng lớn lao của Hội Thánh. Từ nay trở đi, hoạt động giáo lý phải luôn luôn được coi là thành phần trong những nhu cầu khẩn thiết và những ưu tư đặc thù của mệnh lệnh truyền giáo cho thời đại chúng ta” (HDTQ số 4). Tông Huấn “Dạy Giáo lý” (16-10-1979) “xác định lại vị trí của việc dạy giáo lý trong khuôn khổ của việc loan báo Tin Mừng”. (HDTQ 5).
Ban tổ chức đã giới hạn việc triển khai đề tài trong một số điểm, để tránh đi tản mác quá xa trong khi thời gian Đại Hội quá vắn vỏi. Trình bày đề tài “Loan báo Tin Mừng và những thách thức của nó” (HDTQ số 46-59) để giúp tham dự viên hiểu ý nghĩa và tiến trình của việc rao giảng Tin Mừng cũng như sự cấp bách và những thách thức của nó do tác động của những thay đổi sâu rộng và mau chóng về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và tôn giáo trên thế giới cũng như trên đất nước”.
Tôi sẽ cố gắng trình bày vắn tắt bốn điểm sau đây:
1. Loan báo Tin Mừng. (LBTM)
2. Tiến trình LBTM
3. Sự cấp bách của việc LBTM
4. Những thách thức của việc LBTM
1. Loan báo Tin Mừng.
Evangelizatio: (Loan báo Tin Mừng – Rao giảng Tin Mừng – Truyền giảng Tin Mừng – Truyền giáo – Phúc âm hóa …) có thể hiểu theo bốn nghĩa:
Nghĩa rộng: bất cứ công việc, công tác nào nhằm làm cho mọi thực tại trần thếtrở nên phù hợp với chương trình của Thiên Chúa, làm cho tinh thần và nội dung Tin Mừng thấm nhập vào các thực tại trần thế đều được coi là LBTM. Ví dụ: một chủ xí nghiệp mời công nhân tới dự một buổi tiệc … Bữa tiệc là việc bình thường, công nhân dùng một bữa tiệc vào dịp này dịp khác (tăng lương, thăng cấp …) cũng là việc bình thường nhưng nếu muốn tổ chức bữa tiệc đó vào dịp lễ Noel để mừng ngày Chúa Giáng sinh thì nó cũng đã góp phần vào việc loan báo mầu nhiệm Thiên Chúa làm Người, loan báo tình thương của Thiên Chúa dành cho con người, cách riêng người lao động, nghèo khó.
Nghĩa hẹp hơn: việc thi hành các hoạt động ngôn sứ, tư tế và vương giả (tức là cộng tác vào ba chức năng của Đức Kitô) đế nhằm xây dựng Hội Thánh theo ý định của Chúa (khác với hoạt động của các tổ chức dân sự hoặc xã hội). Ví dụ: cổ võ hay tổ chức việc đọc kinh tối gia đình để cảm tạ Chúa về một ngày sống đã qua đi trong bình an hay để cầu nguyện cho những nhu cầu tinh thần và vật chất của cuộc sống, hoặc để qui tụ thành cộng đoàn huynh đệ cũng là một cách thức LBTM, vì loan báo Thiên Chúa luôn hiện diện ở giữa loài người, chăm sóc con người, đồng hành với con người và con người có thể gặp gỡ Ngài, chúc tụng, ngợi khen, cảm tạ Ngài bất cứ nơi nào, lúc nào, với ai …
Nghĩa chặtchẽ: những hoạt động nhằm giúp conngười nhận biết Chúa , sám hối và quay trở về với Chúa, giúp người tín hữu đào sâu đức tin để sống xác tín hơn (loan báoTin Mừng, dạy giáo lý, giảng thuyết, v.v).
Nghĩa chuyên môn: loan báoTin Mừng cho những miền, vùng, quốc gia chưa biết Chúa, chưa bao giờ được nghe nói về Chúa 😦 Ad Gentes :“Đến với muôn dân”, “Đến với lương dân” dưới sự chăm sóc của Bộ Truyền giáo ). Ngày nay, không thể phân chia ranh giới “biết Chúa và không biết Chúa” chẳng hạn như: Trong một vùng, có lẫn lộn những người chưa bao giờ nghe nói về Chúa, nghe nói nhưng không quan tâm, có đạo nhưng sống như không có đạo, đạo tùy mùa tùy dịp …
Ngày nay, khi nói LBTM cách tổng quát, không đặt trong một bối cảnh đặc biệt, thì chúng ta dừng lại ở nghĩa thông thường : đem Tin Mừng của Chúa đến cho người khác, cách riêng cho người chưa biết Chúa, hoặc mới biết Chúa cách mơ hồ, hoặc biết nhưng không gắn bó, biết nhưng đồng thời cũng tôn thờ những ngẫu tượng khác …
2. Tiến trình của việc LBTM
Đức Kitô hôm qua cũng như hôm nay và mãi như thế đến muôn đời nghĩa là: không có gì thay đổi nơi Người. Nhưng con người đón nhận Tin Mừng thì có nhiều khác biệt trong nhận thức, trong nếp sống, trong niềm tin .. Vì thế, cách thức RGTM cũng phải thích ứng với con người, với hoàn cảnh …
Việc rao giảng đầu tiênlà “mạc khải Đức Giêsu Kitô và Tin Mừng của Người cho những ai chưa biết đến, đó là chương trình căn bản mà Đấng sáng lập Giáo Hội đã giao cho Giáo Hội đảm nhận từ buổi sáng ngày Hiện Xuống (…). Do bởi ngày nay có những hoàn cảnh đức tin Kitô-giáo sa sút, việc loan báo đầu tiên ấy cũng tỏ ra cần thiết hơn mãi cho đông đảo những người đã được thanh tẩy nhưng sống bên ngoài mọi nếp sống Kitô-giáo, cho những người chất phác vẫn có đức tin cách nào đó nhưng lại chỉ biết lờ mờ về các nền tảng của đức tin, cho những nhà trí thức đang cảm thấy nhu cầu hiểu biết Đức Giêsu Kitô dưới một ánh sáng khác với những gì đã được học khi còn bé …” (LBTM 51-52).
Khai Tâm Kitô Giáomà qua đó những người nhờ ơn Chúa quyết định theo Đức Kitô được dẫn nhập vào tín lý, vào đời cầu nguyện và phụng tự, và vào đời sống nhân chứng. Việc khai tâm Kitô giáo được hoàn thành nhờ việc dạy Giáo Lý có liên quan đến việc lãnh nhận các Bí Tích Khai Tâm (Thánh Tẩy, Thêm Sức và Thánh Thể) . Việc dạy Giáo Lý này dành cho những người dự tòng (trưởng thành chưa được rửa tội), những người trưởng thành đã được rửa tội nhưng chưa hoàn toàn hiệp thông với Hội Thánh Công Giáo, và những người Công Giáo cần hoàn tất việc khai tâm, hay trở lại sống Đức Tin, và những trẻ em hay thanh thiếu niên đã được rửa tội đang lớn lên trong sự hiểu biết và thực thi Đức Tin Công Giáo. Việc giáo dục và đào luyện Công Giáo có thể xảy ra tại gia đình, tại các trường Công Giáo, tại giáo xứ hay trong các chương trình giáo dục tôn giáo thuộc về phần vụ của tác vụ Lời Chúa.
Kết thúc giai đoạn này, Phụng vụ có “Nghi thức gia nhập Kitô giáo cho người lớn”, một Nghi thức mà nếu chúng ta áp dụng đúng, sẽ mang lại nhiều kết quả thiêng liêng và cũng là một “giáo án” giáo lý rất lý tưởng.
Đại cương chúng ta có những giai đoạn như sau :
1. Giai đoạn 1 : Nghi lễ nhận làm người dự tòng : sau khi đã chấp nhận Tin Mừng và bắt đầu tin, đã hoàn tất giai đoạn bắt đầu tìm hiểu Phúc âm, bắt đầu trở lại, có đức tin và hiểu biết Hội thánh, đã tiếp xúc với LM hoặc một số người của cộng đồng và đã được chuẩn bị để lãnh nhận nghi lễ phụng vụ này. Nghi thức gồm một số nội dung : gặp gỡ đối thoại, từ bỏ việc thờ tự ngoại giáo, làm dấu Thánh giá, đưa vào thánh đường, cử hành Lời Chúa, trao sách Phúc âm.
2. Giai đoạn II : Nghi lễ Tuyển chọn, Thanh tẩy và Soi sáng : Vào đầu mùa Chay là thời kỳ chuẩn bị gần cho việc lãnh nhận các bí tích qua việc cử hành nghi lễ “tuyển chọn”, tức là “nghi lễ ghi danh”. Trong nghi lễ này, sau khi đã nghe lời chứng của người đỡ đầu và người dạy giáo lý, và dựa vào quyết tâm của những người dự tòng, Hội Thánh xét đoán về tình trạng chuẩn bị của họ mà quyết định có nên cho họ chịu các bí tích “vượt qua” hay không… Muốn được ghi vào sổ những người được tuyển chọn, mỗi người phải có đức tin sáng suốt và ý chí cương quyết lãnh nhận các bí tích của Hội Thánh. Tuyển chọn xong, phải thúc đẩy người dự tòng theo Chúa Kitô cách quảng đại hơn.
Hội thánh coi việc tuyển chọn này là mối bận tâm chính đối với những người dự tòng. Do đó, sau khi đã cân nhắc kỷ lưỡng, Giám mục, linh mục, phó tế, người dạy giáo lý, người đỡ đầu và tất cả cộng đồng địa phương, mỗi người tùy chức vị và cách thức của mình, mà bày tỏ ý kiến về trình độ hiểu biết và tiến trình của người dự tòng. Sau cùng, mọi người sẽ tận tình cầu nguyện cho những ai đã được tuyển chọn, để tất cả Hội thánh đều dẫn họ đi đón Chúa Kitô.Thời gian Thanh tẩy và Soi sáng thường ở trong Mùa Chay và bắt đầu từ ngày được tuyển chọn. Trong thời gian này, các người dự tòng cùng với các người địa phương chuyên lo việc thiêng liêng (tĩnh tâm) để chuân bị mừng lễ Phục sinh và bắt đầu lãnh nhận các bí tích. Để đạt mục đích đó, sẽ có những nghi thức khảo hạch, nghi thức trao kinh và nghi thức chuẩn bị trực tiếp.
3. Giai đoạn III : Cử hành các Bí tích Nhập đạo (Rửa tội – Thêm sức – Thánh Thể:Thường cử hành vào Đêm Vọng Phục Sinh. Vì lễ nghi Đêm nầy rất long trọng và chiếm nhiều thời gian, nên có nguy cơ bị cám dỗ rút ngắn và làm nhanh phần nầy, xúc phạm đến sự thánh thiêng của Bí tích và cũng phản giáo dục đối với các Dự tòng đang sốt sắng đón nhận hồng ân Chúa và tham dự vào mầu nhiệm Chúa Sống lại.
Thời kỳ Nhiệm huấn:
Để cho những bước đầu của các tân tòng được vững chắc, ước gì trong mọi hoàn cảnh, họ được cộng đồng tín hữu, các người đỡ đầu và các chủ chăn, chăm chú và tận tình giúp đỡ. Hãy cố hết sức liệu sao cho họ được vui vẻ hòa mình hoàn toàn vào đời sống cộng đoàn. Suốt mùa Phục Sinh, trong các lễ chúa nhật, nên dành chỗ đặc biệt cho các tân tòng. Tất cả các tân tòng hãy cùng với các người đỡ đầu, siêng năng tham dự thánh lễ. Trong bài giảng và tùy nghi, trong lời nguyện tín hữu, nên nhắc nhớ đến họ.
Cuối mùa Phục Sinh, khoảng lễ Hiện Xuống, để kết thúc thời kỳ nhiệm huấn, nên tổ chức một cuộc lễ nào đó, thêm cả những hình thức long trọng bề ngoài theo thói quen địa phương.
Ngày giáp năm lãnh nhận bí tích Rửa tội, ước mong các tân tòng họp nhau lại để tạ ơn Thiên Chúa, trao đổi với nhau những kinh nghiệm thiêng liêng và lãnh thêm sinh lực mới..
Để bắt liên lạc mục vụ với các phần tử mới trong Giáo Hội của ngài, Đức Giám mục phải liệu làm hết sức để có thể ít là mỗi năm một lần, tập họp các tân tòng lại và chủ sự một thánh lễ, trong đó ngài cho họ rước lễ dưới hai hình, nhất là khi chính ngài đã không chủ sự được các bí tích nhập đạo.
Việc dạy giáo lý thường trựccho những người đã được hoàn toàn khai tâm vào Đức Tin để giúp họ đào sâu kiến thức và thực thi Đức Tin suốt đời.
Tham gia Phụng Vụ Thánhmà một phần trong đó là tác vụ Lời Chúa (phần quan trọng nhất là bài giảng; cũng gồm cả những lời chỉ dẫn trong khi sửa soạn và cử hành các Bí Tích). Chính việc tham dự Thánh Lễ phải được coi là “một phương tiện chính trong việc giáo dục Đức Tin”.
Học Thần Học Thánhmà để qua đó chân lý Đức Tin được nghiên cứu một cách có hệ thống và khoa học để có thể hiểu các chân lý này cách tường tận hơn .
3. Sự cấp bách của việc LBTM
Giáo Hội ý thức sâu sắc rằng lời Đức Giêsu : “Ta phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa” (Lc 4,43) áp dụng hoàn toàn chính xác cho mình. Tất cả nơi Đức Kitô là loan báo Tin Mừng : Nhập Thể, phép lạ, giảng dạy, chiêu tập môn đệ, ban Thánh Thần và sai đi, chết và sống lại, hiện diện thường xuyên …
Giáo Hội đón nhận lời của thánh Phaolô, nhà truyền giáo lớn nhất của Kitô giáo như một lời nhắc nhở thường xuyên cho mình : “Đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không loan báo Tin Mừng” (1 Cr 9,16).
Vì thế, Giáo Hội khẳng định : “Chúng tôi muốn xác định một lần nữa rằng nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng cho mọi người là sứ mệnh chính yếu của Giáo Hội” (Tuyên bố của các Nghị Phụ 10/1974). … “Thật vậy, rao giảng Tin Mừng là ân huệ và ơn gọi đặc biệt của Giáo Hội, là chân tính sâu xa nhất của Giáo Hội. Giáo Hội hiện hữu để loan báo Tin Mừng, nghĩa là để rao giảng và dạy dỗ, làm kênh rạch chuyển thông ơn thánh, giải hòa tội nhân với Thiên Chúa, làm cho cuộc tế hiến của Đức Kitô vẫn tồn tại mãi trong thánh lễ là lễ tưởng niệm Người chịu chết và sống lại vinh quang” (Phaolô VI, LBTM, 14).
Trong Sứ điệp ngày Truyền Giáo năm 1974 (20/10/1974), Đức Phaolô VI nói : “Không những việc truyền giáo là hết sức cần thiết, mà còn là việc cấp bách phải làm ngay. “Tình yêu Chúa Kitô thúc bác chúng ta” (2 Cr 5,14). Từ khi thánh Phaolô thốt lên lời đó cho đến hôm nay, tình trạng truyền giáo trong thế giới có nhiều điểm bắt chúng tôi phải âu lo và buồn lòng. Việc thừa sai truyền giáo đã diễn tiến quá chậm. Người ta quen nói, để chữa mình, là Giáo Hội phải bắt chước Chúa mà nhẫn nại. Đúng, Chúa nhẫn nại vì Chúa hằng có đời đời ; Chúa có giờ của Chúa, và dù nôn nóng đến đâu chúng ta cũng không nên kẻo sớm hơn giờ của Chúa. Tuy nhiên, chúng ta quên rằng chính chúng ta, vì ích kỷ đáng tội, vì biếng nhác, vì thiếu nhiệt tâm trong việc truyền giáo, mà nói được là chính chúng ta bắt Chúa phải nhẫn nại, phải đặt chân trong lối bước đi quá chậm chạp của chúng ta. Đang khi Chúa là Tình Yêu, và vì thế, Chúa nôn nóng thông ban Mình cho con người. Chính Chúa Cứu Thế đã nói lên lời này, lời nóng bỏng như một dòng nước lửa của hỏa diệm sơn, là : “Ta đem lửa xuống đất này mà Ta không tha thiết cho nó cháy lên sao ?” (Lc 12,49).
4. Những thách thức của việc LBTM.

a. Tình trạng chung :
ĐTC Biển Đức XVI đã cho công bố Tông Thư Tự Sắc của ngài về quyết định thành lập Hội đồng Tòa Thánh tái truyền giảng Tin Mừng.Tự sắc mang tựa đề “Ubicumque et semper” (“Ởmọi nơi và mãi mãi”), trong đó sau khi nhắc đến nghĩa vụ ngay từ đầu của Giáo Hội là rao giảng Tin Mừng cứu độ của Chúa Kitô, ĐTC nói đến hiện tượng nhiều nước Kitô giáo kỳ cựu đang chịu ảnh hưởng nặng nề của trào lưu tục hóa, xa lìa đức tin Kitô, trào lưu vô thần thực hành lan tràn cùng với sự dửng dưng đối với tôn giáo. Ngài viết: “Một đàng nhân loại ngày nay được những lợi ích tỏ tường do những biến đổi xã hội, những tiến bộ vượt bực của khoa học và kỹ thuật… và Giáo Hội được kích thích nhiều trong việc làm chứng về niềm hy vọng của mình (Xc 1 Pr 3,15), nhưng đàng khác người ta nhận thấy có sự đánh mất đáng lo âu về ý nghĩa thánh thiêng, và người ta đi đến độ đặt lại vấn đề về những nền tảng trước kia không hề bị tranh cãi, như niềm tin nơi một Thiên Chúa đấng sáng tạo và quan phóng, mạc khải của Chúa Giêsu Kitô đấng cứu độ duy nhất, và quan niệm chung về những kinh nghiệm cơ bản của con người như sinh, tử, sống trong một gia đình, sự tham chiếu luật luân lý tự nhiên..Đây chính là “sa mạc nội tâm” chứ không phải là một cuộc giải phóng con người.”
b. Còn Việt Nam chúng ta ?
Theo dòng xoáy của cơn lốc kinh tế thị trường và toàn cầu hóa, mọi người dân “bị đẩy” vào cuộc chạy đua, và các tín hữu cũng vậy. Tại một số nơi, những giờ kinh truyền thống gia đình đã bắt đầu được thay thế bằng giờ truyền hình đầy hấp dẫn. Đa số các bạn trẻ vùng quê di cư lên thành phố lớn để lao động trong các nhà máy, xí nghiệp. Rời lũy tre làng, các bạn bắt đầu tự lập ở chốn phồn hoa, với nhiều lôi cuốn. Nhiều bạn sống buông thả, sống thử trước hôn nhân; và hậu quả là không ít những ca nạo phá thai là người Công giáo. Bên cạnh đó, viện cớ mưu sinh, nhiều người đã không còn sống đạo. Họ chấp nhận những gian dối trong thi cử, làm ăn để miễn sao có địa vị và giàu có.
Nhiều người nhận xét rằng, đời sống đức tin của giáo dân Việt Nam không sâu. Hình như đang thịnh hành một lối giữ đạo hình thức: tất cả đều muốn biểu dương ra bên ngoài, từ việc cầu nguyện, phụng vụ và sinh hoạt giáo xứ. Giáo dân giữ đạo theo phong trào. Các buổi rước kiệu, dâng hoa, chầu lượt, kính thánh bổn mạng… mang nặng tính chất “hội” nhiều hơn “lễ”. Trình độ giáo lý của giáo dân còn thấp, giáo dân dường như còn “xa lạ” với Tin Mừng. Vai trò của Giáo dân trong Giáo Hội còn mờ nhạt.
Kết luận : Vì vậy phải Tân Phúc âm hóa :
Xưa cũng như nay, chỉ có một Phúc Âm hay Tin Mừng duy nhất, trường cửu : “Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay và như vậy đến muôn đời” (Dt 13,8). Tuy nhiên trong một xã hội đa dạng, phức tạp và thay đổi không ngừng như xã hội chúng ta, dĩ nhiên phương pháp và cách thế loan báo Tin Mừng phải luôn luôn được cập nhật hóa, ngõ hầu đáp ứng nhu cầu và yêu sách đặc biệt của thời đại. Đối diện với tình trạng thụ động, thờ ơ, buông xuôi, hờ hững với sứ vụ sống và rao truyền Tin Mừng của rất nhiều người Công giáo thời nay, yêu cầu tiên quyết là làm sao có được một khí thế và sự nhiệt thành mới. Hơn bao giờ hết, Giáo Hội cần những tín hữu biết đào sâu đức tin, sống trung thực với lý tưởng của mình và can đảm, hăng say, nhiệt thành loan báo Tin Mừng cho những người chung quanh.
Ngay từ buổi đầu triều đại Giáo Hoàng của Đức Gioan Phaolô II, “Tân Phúc Âm hóa”(có khi gọi“Tái RGTM”)đã trở thành một đề tài quan trọng, thường xuyên được ngài đề cập trong các văn kiện, nhất là trong các cuộc viếng thăm mục vụ ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt tại Mỹ châu La tinh và Âu châu. Trước ngưỡng cửa ngàn năm thứ ba, “Tân Phúc Âm hóa”, hiểu theo nghĩa “mới trong sự nhiệt thành, trong phương pháp, trong lối diễn tả”( ngỏ lời trước Hội nghị các Giám mục Mỹ châu La tinh họp tại Port-au-Prince, Haiti, ngày 9 tháng 3 năm 1983, Đức Gioan Phaolô II đã xác định rõ như vậy) đã trở thành chương trình mục vụ chung của toàn thể Giáo Hội Công giáo.
Cũng trong chiều hướng ấy, ngày 28-06-2011, trong giờ Kinh Chiều, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI tuyên bố thành lập Hội đồng Tòa Thánh về Tân Phúc Âm hóa. Hội đồng này có nhiệm vụ “cổ võ việc đổi mới công cuộc truyền giáo tại các quốc gia mà đức Tin đã được loan báo sớm nhất và Giáo Hội đã được thiết lập từ lâu, nhưng nay xã hội đang bị tục hóa và mất dần cảm thức về Thiên Chúa”. ĐTC công bố : “Sau khi đã tham khảo hàng giám mục trên toàn thế giới và đã hội ý với hội đồng thường trực của văn phòng tổng thư ký THĐGM, tôi đã quyết định triệu tập THĐGM thế giới sắp tới vào năm 2012 với chủ đề như sau: “Tái truyền giảng Tin Mừng để thông truyền đức tin Kitô giáo”.
Việc LBTM đã khởi sự từ chính Đức Giêsu Kitô và tiếp nối bởi Giáo Hội từ thời các thánh Tông đồ cho đến thời đại chúng ta.Mọi thành phần Dân Chúa được mời gọi tham gia vào sứ mệnh này do chính bản chất của Hội Thánh là Truyền Giáo và mỗi tín hữu bởi chính bí tích Rửa tội và Thêm sức. Tuy nhiên, trong Giáo Hội, thành phần giáo dân là tuyệt đại đa số, hiện diện trong mọi nơi chốn, hoạt động trong mọi lãnh vực. Nếu thành phần lại thờ ơ, lãnh đạm với công cuộc Truyền giáo thì chắc chắn việc LBTM không thể thực hiện như ý Chúa muốn là Tin Mừng phải được loan báo “cho đến tận cùng trái đất”. Vì vậy, để kết thúc bài chia sẻ này mà chắc mọi người đều nhận thấy còn rất nhiều thiếu sót, tôi xin lăp lại lời của ĐTC Chân Phước Gioan Phaolô II ngõ với Giáo Hội toàn cầu, cách riêng là với Giáo Hội tại Châu Á : “Như Công Đồng Vatican II đã chỉ rõ, ơn gọi của giáo dân đặt họ ngay vào trong thế giới để thi hành những phận vụ đa dạng nhất, chính tại đây họ được mời gọi loan báo Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô. Do ân sủng và do tiếng gọi của bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức, mọi giáo dân đều là nhà Truyền giáo, và địa bàn truyền giáo của họ là cả một thế giới rộng lớn và phức tạp như : chính trị, kinh tế, công nghiệp, giáo dục, truyền thông, khoa học, kỷ thuật và thể thao. Tại nhiều nước Á Châu, người giáo dân đang phục vụ như những nhà truyền giáo đích thực, vì họ có thể tiếp xúc với những anh chị em Á Chấu, những người không có điều kiện gặp gỡ các giáo sĩ và tu sĩ. Tôi xin gửi lời cám ơn của toàn thể Giáo Hội đến họ, và tôi khuyên tất cả các giáo dân hãy nhận lấy vai trò riêng của mình trong đời sống và sứ mạng của Dân Chúa, là làm chứng cho Đức Kitô ở bất cứ nơi nào mình có mặt”.

Nguon: http://giaolyductin.org/newsview/vn/231/BAI-THUYET-TRINH-1–LOAN-BAO-TIN-MUNG-HOM-NAY-VA-NHUNG-THACH-THUC-CUA-NO–.html

Advertisements

BÀI THAM LUẬN 2: DẠY GIÁO LÝ, PHƯƠNG THẾ GIÁO DỤC VÀ CỦNG CỐ ÐỨC TIN

Thuyết trình viên
Nt Maria Nguyễn Thị Bạch Tuyết, MTG Thủ Thiêm

Ðức tin là ân huệ Thiên Chúa ban cho tất cả mọi người, nhưng con người có tự do để đón nhận hay từ chối. Tư tưởng này được Ðức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI giải thích rõ hơn: “Niềm tin tôn giáo luôn có sẵn trong tâm hồn mỗi người, nhưng bộ phận cảm ứng nội tâm dành cho Chúa trong ta không đương nhiên hoạt động như một cái máy kỹ thuật mà nó như một thứ sống động, hoặc là cùng lớn lên với con người, hay là chai cứng đến độ có thể gần như chết khô. Nếu nội tâm ta luôn làm việc với bộ cảm ứng đó, nó càng ngày càng trở nên sắc bén, bằng không nó sẽ teo lại và như bị chôn vùi dưới ảnh hưởng của thuốc tê.”[1] Như vậy, đức tin chính là sự chấp nhận của trí tuệ đối với chân lý mà Thiên Chúa đã mạc khải cho loài người trong Ðức Kitô, nhờ Chúa Thánh Thần và qua Giáo hội. Đức tin là một tiến trình thăng trầm trong phận người. Quả thật, có những lúc con người đầy xác tín nhưng không thiếu những khi khắc khoải đi tìm lời giải đáp cho vấn nạn đức tin. Chúng ta thấy rõ điều này khi đọc lại Lịch Sử Cứu Ðộ: dân Itraen đã phải trải qua biết bao thử thách để đi đến xác tín vào Thiên Chúa độc nhất; các Tông đồ đã theo Thầy Giêsu một thời gian khá lâu, cứ ngỡ rằng mình đã hoàn toàn tin tưởng vào Thầy, nhưng rồi các ông đã phải xin với Thầy “Xin ban thêm đức tin cho chúng con”, hạnh các Thánh cũng chứng minh rất rõ điều này.

Ðức tin là một tiến trình. Nói cách khác, “đức tin là một con đường và bao lâu còn sống thì con người còn đi trên đường, và vì vậy, đức tin vẫn luôn bị đe dọa và chèn ép […]. Ðức tin chỉ có thể trưởng thành, khi trong mọi giai đoạn cuộc sống, nó đủ sức chấp nhận và chịu đựng sức mạnh cũng như sự o ép của không tin, cuối cùng thắng vượt chúng để lại bước đi tiếp trên một đoạn đường mới.”[2]Chính vì thế đức tin cần được giáo dục và được tôi luyện để trở nên trưởng thành. Dạy giáo lý chính là phương thế hữu hiệu để giáo dục đức tin.

Kể từ sau Công Ðồng Vaticanô II, Hội Thánh Công giáo đã tái khám phá ra rằng truyền bá đức tin hay giáo dục đức tin là một cuộc gặp gỡ cá vị với Ðức Kitô, được thực hiện nhờ Thánh Kinh và Thánh truyền sinh động của Hội Thánh, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.[3] Ðiều này đã được Thánh Bộ Giáo Sĩ nhấn mạnh: “Mục đích tối hậu của việc dạy giáo lý là làm cho con người không những được tiếp xúc, mà còn được thông hiệp mật thiết với Chúa Giêsu Kitô.”[4]Ðây chính là nét độc đáo của giáo dục đức tin.

Nội dung bài chia sẻ trình bày bốn điểm sau đây:
– Nét độc đáo của sư phạm đức tin;
– Những bước cơ bản trong tiến trình khai tâm Kitô giáo;
– Nhìn lại tình hình chung việc thực hiện giáo dục đức tin;
– Hướng giải quyết.

1. Nét độc đáo của sư phạm đức tin: gặp gỡ Thiên Chúa

Như chúng ta đã biết, việc học giáo lý không giống như việc học các bộ môn văn hóa khác. Chính Ðức Giáo Hoàng Bênêdictiô XVI đã khẳng định trong tác phẩm “Thiên Chúa và Trần Thế”: “Niềm tin vào Thiên Chúa không phải là một kiến thức mà tôi có thể học được, như tôi học toán hay hóa học […]. Bởi đức tin đòi hỏi toàn lực đời sống, ý chí, tình yêu và bước ra khỏi mình”. Quả thật, việc giáo dục đức tin có một nét độc đáo riêng. Người thụ huấn được mời gọi đi vào cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa một cách tự do bằng đối thoại với Ngài và nhận ra những giáo huấn của Ngài để hoán cải nội tâm. Nhờ đó, họ cảm nhận niềm hạnh phúc của người có kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa vàbày tỏ những cảm nhận sâu sắc này raqua lời nói cũng như hành động. Chúng tacó thể tóm tắt tiến trình gặp gỡ Thiên Chúa qua 3 chữ: mở trí (đối thoại, tìm hiểu), mở tâm (mở lòng để đón nhận, đi đến hoán cải nội tâm) và mở tay (đáp trả bằng cuộc sống và lời rao giảng).

a. Mở trí: đối thoại

Qua những cuộc gặp gỡ giữa Ðức Giêsu và các nhân vật trong Tin Mừng, chúng ta nhận ra Ðức Giêsu luôn mời gọi con người đi vào cuộc đối thoại để đón nhận mạc khải của Thiên Chúa. Ví dụ: trong cuộc gặp gỡ với người phụ nữ Samari, hoặc với ông Giakêu, người thu thuế, Ðức Giêsu đã có cuộc đối thoại, trò chuyện và mạc khải về Thiên Chúa, Ðấng Cứu độ đầy yêu thương và tha thứ.

Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở gặp gỡ và đối thoại thì chưa đủ. Có rất nhiều người đã nghe và đối thoại với Ðức Giêsu, nhưng tâm hồn họ vẫn còn đóng kín. Như vậy, mở trí làbước khởi đầu củatiến trình gặp gỡ với Thiên Chúa. Mở trí chuẩn bị cho bước chính yếu kế tiếp, mở tâm (hoán cải).

b. Mở tâm: hoán cải

Từ sự gặp gỡ và đối thoại với Ðức Giêsu, con người cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa. Tình yêu mời gọi họ nhận ra tình trạng hiện tại của bản thân và hoán cải. Khi gặp gỡ Giakêu, Ðức Giêsu đã không đòi hỏi ông bất cứ điều gì, ngoài lời đề nghị: “Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!”Lời đề nghị này đã làm ông rung chuyển cõi lòng. Thật vậy, Giakêu đã cảm nhận được tình yêu thương của Thiên Chúa một cách sâu sắc. Thiên Chúa đã không chê ghét ông như những người đồng hương sống chung quanh ông. Ðối với họ, ông chỉ là kẻ tội lỗi. Cuộc đối thoại với Ðức Giêsu đã giúp ông Giakêu bắt gặp chân dung một Thiên Chúa từ nhân. Cảm nhận được Thiên Chúa yêu thương, Giakêu đã hoán cải và thay đổi cuộc sống. Khi gặp gỡ người phụ nữ Samari, Ðức Giêsu đã đưa chị đi vào cuộc đối thoại về một đề tài rất đời thường, đề tài “nước”. Qua hình ảnh quen thuộc này, Ngài hướng dẫn chị hiểu biết về một loại nước khác, “Nước Hằng Sống”. Ðức Giêsu còn mạc khải cho chị rằng chính Ngài là Ðấng ban nước hằng sống, là Ðấng Messia là Ðấng Kitô. Từ cảm nghiệm về cuộc gặp gỡ này, người phụ nữ Samari đã bày tỏ lòng sám hối cách tự nguyện như ông Giakêu đã làm. Sự chân thành đối thoại và ước muốn thay đổi đời sống đã đưa dẫn đưa họ đến với đức tin. Họ chọn lựa thay đổi và sẵn sàng chấp nhận trả giá cho những chọn lựa của chính họ.

Qua những ví dụ nêu trên, chúng ta thấy giai đoạn nội tâm hóa rất quan trọng trong tiến trình giáo dục đức tin. Đây chính là giai đoạn mà bản thân người thụ huấn phải quyết định cho việc hoán cải chính họ. Theo tài liệu chuẩn bị cho Thượng Hội Ðồng Giám Mục thế giới, cuộc hoán cải trong việc giáo dục đức tin rất quan trọng và cần được duy trì[5] để giúp con người ngày càng đạt đến sự hoàn thiện như lời mời gọi của Ðức Giêsu: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Ðấng hoàn thiện”(Mt 5, 48). Và Ðức Giáo Hoàng Bênêdictô XVI cũng nhấn mạnh: “Sẽ không có được thật nhiều tín hữu, nếu nội dung rao giảng không nhập được tâm của họ, để họ có thể thốt lên rằng: Ðúng, những gì tôn giáo nói quả là những điều tôi cần”[6]. Đức Thánh Cha đưa ra ví dụ cụ thể tại chính quê hương của ngài, nơi chương trình và việc dạy giáo lý trong trường học đều do các giáo phận đảm trách: “Ở nước Ðức, các em từ 9 tới 13 tuổi được học giáo lý trong trường học. Nhưng rồi tại sao chẳng còn gì đọng lại nơi các em, thật không hiểu nổi!”[7]Như vậy, Ðức Thánh Cha muốn nhấn mạnh, nội tâm hóa những điều đã học trong giáo lý là yếu tố thiết yếu trong giáo dục đức tin. Như vậy chúng ta có thể hiểu được nguyên nhân sâu xa tại sao cùng một bài giảng, cùng một thầy dạy là Ðức Giêsu nhưng người này tin, kẻ khác lại chống đối. Thực tế cho chúng ta thấyrằng cùng được giáo dục như nhau, có người có đức tin, nhưng vẫn có người thờ ơ và vô tâm.

c. Mở tay: đáp trả

Ðức tin được biểu hiện ra bằng hành động cụ thể. Thánh Giacôbê đã khẳng định: “Ðức tin không có việc làm là đức tin chết.”Thật vậy, những người đã tin phải có cuộc sống đi đôi với điều họ tin. Khi cảm nhận tình yêu của Thiên Chúa và tin vào lòng nhân hậu và tha thứ của Ngài, Giakêu đã tự thay đổi để sống đúng phẩm giá, đúng lẽ công bình và bác ái. Khi nhận ra được chân dung của Thiên Chúa và yêu mến Người, người phụ nữ Samari đã trở thành môn đệ đích thực của Chúa: “Có nhiều người Samari trong thành đó đã tin vào Ðức Giêsu, vì lời người phụ nữ làm chứng”(Ga 4,39). Quả thật, khi cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa trong cuộc đời, con người không thể im lặng để chỉ giữ riêng cho bản thân nhưng họ có nhu cầu chia sẻ niềm vui này cho mọi người bằng nhiều cách, bởi vì “Niềm vui được chia sẻ là niềm vui được nhân đôi”. Tuy nhiên, chia sẻ niềm vui được ơn đức tin không phải là một việc tùy ý nhưng là một trách nhiệm của mọi người, vì đã là Kitô hữu có nghĩa là phải truyền giáo. Nếu là người yêu mến đức tin, người Kitô hữu có trách nhiệm phải làm chứng cho đức tin, thông truyền đức tin đến người khác để có thêm nhiều người tham dự vào niềm tin Kitô. Thiếu nhiệt huyết truyền giáo là thiếu nhiệt tình với đức tin[8].

Như vậy, giáo dục đức tin là cuộc gặp gỡ cá vị với Thiên Chúa, đối thoại với Ngài, cảm nhận được tình yêu của Ngài để rồi sống và loan báo niềm vui được yêu thương cho anh chị em xung quanh.

2. Bảy bước căn bản của phương pháp Khai tâm Kitô giáo[9]:

Trong Huấn giáo, cuộc gặp gỡ Thiên Chúa được xem là những bước trong tiến trình khai tâm Kitô giáo. Khai tâm Kitô giáo chính là mở lòng con người ra đón nhận mạc khải: Thiên Chúa tỏ mình ra nơi Ðức Giêsu, nhờ Thánh Thần và qua Giáo hội, mà biến cố trọng tâm của kinh nghiệm Kitô giáo là cái chết và sự phục sinh của Ðức Kitô, để hoán cải đời sống và hiệp thông trong đời sống mới nơi Ðức Kitô.

Khi áp dụng phương pháp khai tâm Kitô giáo, người giáo lý viên cần lưu ý bảy điểm sau:
a. Việc khai tâm đòi hỏi sự tự do của con người (chủ động, ý thức và có trách nhiệm[10]): Giáo lý viên phải tôn trọng học viên giáo lý nhưlà anh chị em trong đức tin trên đường bước theo Ðức Kitô.
b. Việc khai tâm đòi hỏi một lộ trình (lộ trình lâu dài và mạo hiểm): Giáo lý viên là người cùng đi với học viên trên lộ trình, nhưng người học không thuộc về giáo lý viên. Mặc dù chia sẻ những kinh nghiệm bản thân về các vấn đề trong cuộc sống cho học viên, nhưng giáo lý viên phải nhớ “Vai trò riêng biệt của việc dạy giáo lý là tỏ cho biết Chúa Giêsu Kitô là ai, về đời sống mầu nhiệm của Người, cũng như trình bày đức tin Công Giáo như là việc bước theo Người”[11]. Lộ trình này được thực hiện dưới tác động của Chúa Thánh Thần.
c. Việc khai tâm lấy nguồn từ Kinh Thánh (qua đó cho thấy Thiên Chúa luôn hiện diện với con người): Chính Chúa Thánh Thần ban sự hiểu biết thiêng liêng về Lời Chúa cho người đọc cũng như người nghe tùy theo sự chuẩn bị tâm hồn[12]. Qua Mạc Khải, Thiên Chúa ngỏ lời và đối thoại với con người như bạn hữu để họ hiệp nhất với Ngài[13].
d. Việc khai tâm đòi hỏi kinh nghiệm của một truyền thống sống động(cộng đoàn sống đức tin): Cần có sự lưu truyền từ truyền thống, kinh nghiệm của cộng đoàn và những chứng từ sống động từ các thánh.[14]
e. Việc khai tâm đòi hỏi những bước theo tiến trình giáo lý dự tòng(tiền dự tòng, dự tòng: nhận biết -hoán cải -gia nhập cộng đoàn -cầu nguyện -sống bí tích -làm chứng cho niềm tin, cảm nghiệm được Chúa yêu và được nâng đỡ qua giáo lý. Sau khi thấm nhuần tình yêu và ân sủng, sẽ đem tình yêu và ân sủng Chúa đến cho anh chị em).
f. Việc khai tâm đòi hỏi một động lực của sự chọn lựa (đáp trả tình yêu và ân huệ của Thiên Chúa qua cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ðức Kitô, bằng sự tín thác vào Chúa và sống đời sống luân lý Kitô giáo và yêu thương anh em).
g. Việc khai tâm đòi hỏi một sự cởi mở đối với sự da dạng văn hóa (“-đánh giá cao về phương tiện truyền thông đại chúng, tùy theo chức năng chuyên biệt của truyền thông mà giữ sự quân bình giữa ngôn ngữ hình ảnh và ngôn ngữ lời nói ; – bảo vệ ý nghĩa tôn giáo đích thực ; khuyến khích việc tạo nên phương tiện huấn giáo dành cho việc truyền thông đại chúng”[15], nhằm khám phá căn tính của mình và tìm ra ý nghĩa cuộc sống để dẫn đưa đến tương quan mới trong thời khoa học hiện đại, nghệ thuật…).

3. Tình hình chung hiện nay

a. Thuận lợi:
Giáo lý viên: Nhìn chung, việc giáo dục đức tin tại các giáo phận đã được tổ chức một cách hệ thống tương đối chặt chẽ. Có nhiều yếu tố tích cực: Đội ngũ giáo lý viên đông, việc huấn luyện giáo lý viên dần dần có quy trình rõ ràng, trình độ giáo lý viên nâng cấp bằng những khóa thần học tại các giáo phận. Nhiều nơi các cha xứ mời các chuyên viên giáo lý để tổ chức các khóa huấn luyện nhằm giúp giáo lý viên học tập và đào sâu sự hiểu biết về giáo lý. Riêng tại giáo phận Kontum việc đào tạo các giáo phu để dạy giáo lý cho các dân tộc thiểu số cũng được quan tâm. Việc dạy giáo lý có nhiều khởi sắc. Phần đông, anh chị em giáo lý viên đã cố gắng ứng dụng các phương pháp quy nạp, diễn giải hoặc trực giác vào giờ dạy giáo lý. Một số nơi vẫn áp dụng phương pháp giáo lý hỏi -thưa.

Phương pháp hỏi -thưa rất thích hợp cho người bình dân, bởi vì phương pháp này không nhằm giải thích toàn bộ tín điều Kitô giáo, hay giải thích những điều cao siêu, nhưng là dạy cho các tín hữu những mầu nhiệm đức tin, những luật lệ và truyền thống của Giáo Hội Công Giáo mà họ phải theo. Phương pháp này đã được một số đông anh chị em giáo lý viên phối hợp thêm những phương pháp khác như: diễn giải, chủ động… để giờ học được sinh động và bản thân người học được tham gia tìm hiểu Lời Chúa, cũng như đưa ra những điều cần thực hiện trong cuộc sống của mình.

Học viên: Các học viên tham gia rất đông và theo hạng tuổi, đa số là các em thiếu nhi và thiếu niên. Ngoài ra một số nơi đã tổ chức cho giới thanh niên và trưởng thành cũng như các thành viên trong các hội đoàn Công giáo. Các lớp giáo lý dự tòng và giáo lý hôn nhân cũng được tổ chức thường xuyên tại một số giáo xứ.

b. Khó khăn:
• Giáo lý viên: Tình trạng di dân ảnh hưởng đến nhân sự dạy giáo lý tại các giáo xứ. Một số rất đông thanh thiếu niên rời bỏ làng quê lên thành phố sinh sống đã tạo ra một lỗ hổng trong động ngũ giáo lý viên vùng nông thôn. Ngoài ra, một số giáo lý viên thiện nguyện chưa được đào tạo chuyên môn đầy đủ cũng ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy giáo lý. Hơn nữa, giáo lý viên cũng đối diện với gánh nặng giáo huấn trước sự thờ ơ của gia đình học viên hoặc sự thiếu quan tâm tạo điềukiện cho việc dạy giáo lýcủa một số cha xứ. Giáo lý viên cảm thấy nặng nề khi thi hành nhiệm vụ cao cả này. thêm vào đó, một số giáo lý viên chưa nhận thức đủ vài trò huấn giáo của chính họ, nên họ dạy giáo lý với thái độ thất vọng, thiếu nhiệt huyết, thiếu niềm vui và hy vọng khi trình bày về Chúa. Thậm chí, có những giáo lý viên thiếu đời sống chứng tá tông đồ, điều không thể thiếu nơi người làm công tác giáo dục đức tin. Điều này gây ra những hậu quả nghiêm trọng đôi khi dẫn đến phản chứng. Chính Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI đã khẳng định: “Con người thời nay sẵn sàng nghe những chứng nhân hơn nghe những thầy dạy, và nếu họ có nghe những thầy dạy thì đó là vì những thầy dạy này là những chứng nhân”[16]. Về phương pháp, giáo lý viên đã áp dụng sáng tạo những phương pháp và kỷ thuật mới vào tiết học. Tuy nhiên có nhiều giáo lý viên quá chú trọng đến hình thức nhưng thiếu quan tâm đến nội dung bài học. Từ đó dẫn đến hiệu quả của giờ dạy giáo lý chưa cao.

• Học viên: Một số người cho rằng: học giáo lý để giữ đạo; chỉ cần lãnh các bí tích cần thiết là đủ. Vì vậy rất nhiều bạn trẻ hài lòng với vốn liếng giáo lý “Xưng tội, Rước lễ, Thêm sức”. Họ không chịu tìm hiểu và học hỏi thêm về đời sống đức tin nhờ đó họ sẽ trưởng thành hơn trong đời sống đức tin. Chính đức tin có thể giúp họ đứng vững trong một xã hội mà vật chất đang chiếm ưu thế.

• Ảnh hưởng cách giáo dục xưa: Người Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều theo cách giáo dục Nho giáo. Sự giáo dục này có mặt tích cực là giúp ích cho xã hội bảo tồn tôn ti trật tự, kính trên nhường dưới và tu dưỡng đạo đức. Tuy nhiên, cách giáo dục này đôi khi mang tính áp đặt, làm cho cá nhân thiếu sáng tạo, thiếu tư duy độc lập, suy tư cá nhân không được đề cao, ngại ngùng khi chọn lựa và sống dựa vào những quyết định của người người lớn. Vì vậy, trong việc giáo dục đức tin, người học cũng dễ rơi vào tâm trạng muốn được dẫn dắt và không có tính tự lập. Điều này làm cho học viên khó có thể trưởng thành trong đức tin.

• Ảnh hưởng của xã hội thiếu tôn trọng sự thật: Bản chất con người luôn hướng về sự thật. Khi con người không tôn trọng và bóp méo sự thật, con người sẽ trầm mình trong dối trá. Điều này gây ra những hậu quả khôn lường cho người khác cũng như chính đương sự. Trong một xã hội mà sự gian dối xảy khắp nơi đến mức báo động, không chỉ nơi thương trường mà cả nơi học đường, những người làm công tác giáo dục đức tin cần quan tâm đặc biệt đến giáo dục lòng yêu mến sự thật.

Thật vậy, việc giáo dục sự thật và ý nghĩa cuộc sống sẽ giúp đào luyện cho cá nhân khả năng sống một cách sung mãn, cống hiến phần độc đáo của mình cho lợi ích chung, và giúp họ có một đời sống trưởng thành trong đức tin. Tin vào Thiên Chúa đồng nghĩa với việc khước từ một cuộc sống bình lặng. Những người tin vào Thiên Chúa phải có một tương quan sâu xa vào Ngài, như thân cây chỉ có thể sống trong giông bão nếu rễ của nó đã đâm sâu và mạnh vào lòng đất, người có niềm tin sâu xa vào Thiên Chúa cũng có khả năng vượt qua thách đố của cuộc đời.

Giáo dục sự trưởng thành đức tin rất quan trọng. Một soeur đã chia sẻ như sau: Có một cậu bé học viên được soeur dạy giáo lý tại giáo xứ. Sau một thời gian, soeur đi tu và giúp xứ ở những nơi khác nên không gặp lại em. Khi về phép trong dịp xuân năm 2010, ba của soeur đã nói với soeur cậu bé năm xưa muốn gặp và nói chuyện với soeur. Được soeur đồng ý, em đã gặp và thông báo cho soeur biết rằng mùa hè này em sẽ thi vào chủng viện, và em đã xin soeur cầu nguyện cho em. Em thêm rằng: nếu thi không đậu vào chủng viện, em sẽ khó có thể sống tốt được trong xã hội ngày nay. Em đã lo ngại khi làm việc chung với những người không sống thật, từ từ em sẽ nên giống họ. Soeur đã lắng nghe và khuyên bảo em nhiều điều. Trường hợp này làm cho soeur suy nghĩ nhiều về cách thức giáo dục đức tin của mình khi dạy giáo lý. Soeur nhận ra rằng soeur đã chưa làm tròn trách nhiệm của giáo lý viên. Soeur chưa giúp cho đức tin của học viên trưởng thành đủ mạnh để đương đầu với những thách đố và đứng vững trong xã hội hôm nay.

Cũng như bao nhiêu giáo lý viên khác, soeur đặt lại vấn đề về phương pháp dạy giáo lý thực hành và mong muốn thay đổi cách thực hành cho có hiệu quả.

4. Hướng giải quyết

Qua một số dẫn chứng về thuận lợi và khó khăn trong chương trình giáo dục đức tin hiện nay, chúng ta nhận ra một lỗ hổng khá lớn cần khắc phục cả nơi người dạy lẫn người học giáo lý. Tuy nhiên, phạm vi bài chia sẻ này chỉ lưu ý đến những điểm cần khắc phục nơi người dạy.

Nhìn chung còn nhiều giáo lý viên chưa được huấn luyện đầy đủ về:
a. Kiến thức thần học
Để dạy giáo lý đạt kết quả tốt, giáo lý viên cần phải có kiến thức thần học vững chắc.

b. Nguyên tắc sư phạm và tâm lý
Để biết cách truyền đạt hữu hiệu, giáo lý viên cần phải hiểu biết và ứng dụng thành thạo những nguyên tắc sư phạm và tâm lý. Với sự phát triển các phương tiện nghe nhìn, giáo lý viên nên học hỏi ứng dụng công nghệ mới đểgiúp cho buổi học sinh động hơn. Tuy nhiên, khi sử dụng các phương pháphiện đại vào giáo lý, người dạy giáo lý phải biết chọn lọc và phải nhằm mục đích thiêng liêng. Chính Ðức Giáo Hoàng Bênêdictô XVI đã lưuý:“Nếu tiến bộ kỷthuật không đi đôi với tiến bộ trong giáo dục đạo đức conngười, trong sự tăng trưởng con người nội tâm, thì đó chẳng phải là sự tiến bộ, nhưng là một mối đe dọa đối với con người và thế giới.”[17]

c- Niềm tin và xác tín niềm tin vào Thiên Chúa
Ðiều thiết yếu là giáo lý viên phải có kinh nghiệm cá nhân với Thiên Chúa một cách sâu sắc. Bằng cách lắng nghe Lời Chúa mỗi ngày, giáo lý viên đi sâu vào cảm nghiệm tình yêu Thiên Chúa, gặp gỡ Ngài trong cử hành Thánh Thể, cảm nghiệm tình yêu tha thứ của Ngài nơi Bí Tích Hòa Giải và sống chan hòa tình bác ái với mọi người.

Ngoài ra, khi muốn thay đổi cách thức truyền đạt, giáo lý viên phải quy về Phúc Âm và giáo huấn đức tin để xét lại: Trước hết, cần phân biệt đâu là chân lý đức tin (bất biến), và những ý kiến riêng của các nhà thần học hay trường phái thần học đang trên đường nghiên cứu học hỏi[18]. Thứ đến là điều gì là cái có thể thay đổi theo thời gian? Kế tiếp là điều gì không phải là thành tố thiết yếu? Cuối cùng, điểm quyết định là phải có sự phân định đúng nghĩa (muốn có một giải pháp mới cần có sự phân định đúng đắn: xem, xét, làm).

Tóm lại, cho dù áp dụng bất cứ phương pháp nào, giáo lý viên cần phải biết cách nội tâm hóa và đi theo một luật cơ bản là trung thành với Thiên Chúa và trung thành với conngười[19].

Trung thành với Thiên Chúa: là trung thành với Lời Chúa. Tài liệu Hướng Dẫn Tổng Quát việc Dạy Giáo Lý nhấn mạnh: “Không có việc rao giảng Tin Mừng thực sự nếu danh tánh, giáo huấn, đời sống, các lời hứa, Nước Trời, mầu nhiệm của Chúa Giêsu Nagiarét, Con Thiên Chúa, không được loan báo. Ngay cả những người đã là môn đệ của Ðức Kitô cũng cần được Lời Chúa thường xuyên nuôi dưỡng, để đời sống Kitô hữu của họ được tăng trưởng.”[20]

Trung thành với con người: khi nói đến con người, giáo lý viên cần quan tâm đến một con người cụ thể, trong một hoàn cảnh cụ thể. Giáo lý viên cần hiểu biết tâm lý lứa tuổi, hoàn cảnh sống và nhu cầu của học viên để có thể giúp họ nhận ra ý nghĩa của Lời Chúa trong đời sống thường ngày. Nhất là giáo lý viên phải giúp học viên ý thức và chịu trách nhiệm về đời sống cá nhân của chính học, tránh tình trạng học tập một cách thụ động.[21]

Hy vọng sự ý thức và những nỗ lực sáng tạo của các giáo lý viên trong chương trình giáo dục đức tin sẽ giúp xã hội thăng tiến và phù hợp với tinh thần của Tin Mừng.

________________________________________
[1]Bênêdictô XVI, Thiên Chúa và trần thế, tr. 29.
[2]Bênêdictô XVI, ibid, tr. 33-34.
[3]Vaticanô II, Hiến Chế Tín Lý về Mặc Khải Dei Verbum số 7tt.
[4]Hướng dẫn Tổng Quát việc dạy Giáo lý, số 80.
[5]Tài liệu “Thượng Hội Ðồng Giám Mục thế giới thường niên lần XII”, số 19.
6ÐGH Bênêdictô XVI, Ánh sáng thế gian, nhà xuất bản tôn giáo, tr. 174.
7 ÐGH Bênêdictô XVI, ibid, tr. 180.
[8]Tài liệu “Thượng Hội Ðồng Giám Mục thế giới thường niên lần XII”, số 10.
9 Texte national pour l’orientation de la catéchèse en France, Conférence des évêques de France, 2006, pp. 46-59.
10 Hướng dẫn Tổng Quát việc dạy Giáo lý, số 167.
11Hướng dẫn Tổng Quát việc dạy Giáo lý, số 41.
[12]Giáo Lý Công Giáo, số 1101.
13 Công Ðồng Vaticanô II, Dei Verbum, số 2.
14Hướng dẫn Tổng Quát việc dạy Giáo lý, số 95.
15Hướng dẫn Tổng Quát việc dạy Giáo lý, số 209.
[16]Phaolô VI, Tổng Huấn Evangelii nuntiandi (8-12-1975) 41: AAS 68 (1976) 31, 32
[17] ÐGH Bênêđictô XVI, Thông điệp Spe Salvi, số 22.
[18]Catechesi Tradendae, số 61.
[19]Tài liệu “Thượng Hội Ðồng Giám Mục thế giới thường niên lần XII”, số 14.
[20]Hướng Dẫn Tổng Quát việc dạy Giáo lý, số 50.
[21] X. Hướng Dẫn Tổng Quát việc dạy Giáo lý, số 167.

Nguon: http://giaolyductin.org/newsview/vn/234/BAI-THAM-LUAN-2–DAY-GIAO-LY–PHUONG-THE-GIAO-DUC-VA-CUNG-CO-ÐUC-TIN–.html

Chương Trình Hội Trại Giáo Lý Viên 2010 Mừng Lễ Anrê Phú Yên

NGÀY NĂM THÁNH CỦA GIÁO LÝ VIÊN VIỆT NAM

TẠI MẰNG LĂNG – GIÁO PHẬN QUI NHƠN

CHỦ ĐỀ: MUỐI CHO ĐỜI
“Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại ? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.”

(Mt 5, 13)

I. CHƯƠNG TRÌNH TỔNG QUÁT

· Ngày 25.07.2010

14.00: Đón tiếp – Giao đất trại – Dựng trại.

16.00: Tập họp chuẩn bị Nghi thức khai mạc. (Tập bài hát chủ đề, đồng diễn, băng reo)

17.00: Nghi thức khai mạc – Trao sứ điệp

17.30: Chuẩn bị cơm tối – Cơm tối.

19.00: Chương trình diễn nguyện. (Có thể lồng ghép một số chia sẻ chứng từ…)

21.00: Tĩnh nguyện- Viếng đền thánh Anrê Phú Yên – học hỏi chia sẻ sứ điệp.

22.00: Nghỉ đêm. (Trong giờ nghỉ đêm có giải tội).

Ngày 26.7.2010

05.00: Thức dậy – Vệ sinh – Thể dục

05.45: Kinh sáng (tại trại)

06.00: Điểm tâm sáng. Vệ sinh trại.

07.00 Chuẩn bị đúc kết sứ điệp (theo nhóm trại)

07.20: Đúc kết sứ điệp.

08.45: Giải lao (Nếu có Đức Cha Chính sẽ đón tiếp lúc nầy)

09.15: Chuẩn bị Phụng vụ – Tập hát cộng đồng.

09.45: Thánh lễ đồng tế.

11.00: Cơm trưa. Giao lưu

13.30: Đức Cha, quý cha, BĐH thăm trại, chụp hình lưu niệm.

14.30: Chương trình tổng kết sinh hoạt – Quà lưu niệm

15.30: Chương trình Sai đi. Bế mạc trại.

Tiếp tục đọc

Đại hội Giáo lý viên mừng Năm Thánh 2010 tại TTMV Saigòn

 Giáo hội ngôi nhà của chúng ta

SAIGÒN- Nhằm giúp các giáo lý viên học hỏi và cử hành Năm Thánh 2010. Ban Giáo lý Giáo phận tổ chức Đại Hội Giáo Lý Viên trong hai ngày thứ bảy 24.07.2010 (hội thảo) và Chúa nhật 25.07.2010 (lễ hội) tại Trung Tâm Mục Vụ Tổng Giáo Phận Sài Gòn, số 6bis Tôn Đức Thắng, Quận 1, với chủ đề “Giáo Hội, Ngôi Nhà Của Chúng Ta”. Đại Hội Giáo Lý Viên năm nay cũng là Đại Hội đầu tiên do Ban Giáo Lý Giáo Phận tổ chức, đây cũng là dịp thuận tiện để Ban Giáo Lý Giáo Phận ra mắt cộng đoàn Giáo phận và chính thức đi vào hoạt động để phục vụ Dân Chúa.

Hình ảnh Đại hội Giáo lý

Chiều nay, vào lúc 15h00 Chúa nhật ngày 25 tháng 07 năm 2010, đông đảo anh chị giáo lý viên trong Giáo phận đã đến Trung Tâm Mục Vụ Sài Gòn để tham dự lễ hội. Sau những bài tập múa khởi động của các anh chị giáo lý viên, nghi thức khai mạc đại hội được diễn ra thật long trọng với sự hiện diện của Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn vị Cha chung của Giáo phận, Cha Tổng Đại diện Gioan Baotixita Huỳnh Công Minh, Cha Phêrô Nguyễn Văn Hiền trưởng Ban Giáo lý Giáo phận, quý Cha, quý tu sĩ nam nữ, quý ân nhân cùng đồng hành với các anh chị giáo lý viên. Sau lời tuyên bố của Cha Phêrô, cả sân trung tâm như vỡ òa với tiếng vỗ tay nhịp nhàng, điệu múa hồn nhiên đơn sơ của các anh chị giáo lý viên qua bài ca chủ đề: Chung một mái nhà. “Sống chung dưới một mái nhà. Chúng ta có Chúa là Cha. Cùng sát vai trong tình anh em. Cùng sẻ chia phúc lộc Cha ban…”.

Phần 1 chương trình là nối vòng tay lớn, với những lời ca tiếng hát giao lưu ba miền: Duyên tình Quan Họ (miền Bắc). Ngọn lửa Tây Nguyên (miền Trung). Điệu lý Câu hò (miền Nam). Đồng diễn: Bốn bề anh em một nhà.

Phần 2 chương trình là tìm về cội nguồn, với những tiết mục văn nghệ và tiểu phẩm Dòng Máu Lạc Hồng. Dòng Máu Tử Đạo, Anrê Phú Yên về với Giêsu.

Sau phần tiểu phẩm Dòng Máu Tử Đạo, đoàn rước kiệu Anrê Phú Yên lên khán đài, Đức Hồng Y Gioan Baotixita xông hương và cùng cộng đoàn cất lên tiếng nhạc oai hùng “ Về đất hứa” tưởng nhớ vị Thánh đã hy sinh máu đào để làm chứng cho Đức Kitô, để hạt giống Đức Tin được nảy nở và lưu truyền mãi về sau.

Tiếp tục đọc

Đề tài các Sứ Điệp để chia sẻ và học hỏi trong ngày hội trại Anrê Phú Yên 2010

(Theo tài liệu học hỏi Năm Thánh 2010 của UBNT)

SỨ ĐIỆP 1:

NỘI DUNG SỨ ĐIỆP:

Cử hành năm Thánh 2010 là dịp để chúng ta cùng nhau nhìn lại chặng đường lịch sử đã qua trong tâm tình tạ ơn vì biết bao hồng ân Chúa ban, tạ ơn vì những hy sinh của các bậc tiền nhân, các ân nhân cũng như các chứng nhân đức tin; đồng thời tạ lỗi vì đã chưa bày tỏ được hình ảnh Giáo Hội như lòng Chúa mong ước. Đây cũng là cơ hội cho ta nhìn vào hiện tại với cặp mắt đức tin để phân định những thách đố cũng như những thuận lợi cho đời sống và sứ mạng của Giáo Hội. Đây còn là thời điểm thúc đẩy chúng ta nhìn tới tương lai với quyết tâm xây dựng một Giáo Hội như gia đình của Chúa, như cộng đoàn hiệp thông huynh đệ, và là cộng đoàn loan báo Tin Mừng Chúa Kitô nhằm phục vụ sự sống và phẩm giá của mọi người, nhất là những người nghèo khổ.

GỢI Ý TRAO ĐỔI

1. Bạn biết gì về Năm Thánh nói chung và Năm Thánh 2010?

2. Đối với bạn, Năm Thánh 2010 có ý nghĩa như thế nào?

3. Bạn và cộng đoàn hay giáo xứ của bạn sẽ làm gì để tham gia và sống Năm Thánh 2010?

Tiếp tục đọc

Hội nghị giáo lý Giáo tỉnh Hà Nội lần thứ nhất tại TTMV Bắc Ninh

Từ ngày 26 – 28.04.2010, Hội nghị thường niên lần thứ nhất của Ban Giáo lý Giáo tỉnh Hà Nội thuộc Ủy ban Giáo lý Đức tin Hội đồng Giám mục Việt Nam đã diễn ra tại Trung tâm Mục vụ Giáo phận Bắc Ninh. Chín trong tổng số mười giáo phận của Giáo tỉnh đã tham gia, vắng riêng giáo phận Hải Phòng.

Tiếp tục đọc

Bài Thuyết trình của ĐGM Phêrô Nguyễn Văn Khảm tại Đại hội Giáo lý Los Angeles

WGPSG (2.4.2010) — Đức Hồng Y Mahoney của Tổng giáo phận LA đã nhân danh mối liên kết chị em giữa hai tổng giáo phận LA và TPHCM để mời ĐGM Phêrô Nguyễn Văn Khảm sang thuyết trình tại Đại hội Giáo lý Los Angeles. Đại hội đã diễn ra từ ngày 19 đến 21-3-2010 với hơn 40.000 người tham dự. Dưới đây là Bài Thuyết trình của ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm tại Đại hội.

GIÁO HỘI VIỆT NAM VÀ NĂM THÁNH 2010

Hầu như năm nào Đại hội Giáo lý Los Angeles cũng mời một giám mục từ Việt Nam đến để gặp gỡ và trao đổi, cách riêng với cộng đoàn công giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ. Sáng kiến đó vừa nói lên mối quan tâm mục vụ của Đức Hồng Y Los Angeles với cộng đồng người Việt ở đây, vừa làm nổi bật sự liên đới giữa hai Giáo Hội Hoa Kỳ và Việt Nam trong sứ mạng phục vụ con người. Vì thế, trước hết, tôi muốn nói lên lời cảm ơn chân thành đối với Đức Hồng Y Mahoney về sáng kiến tuyệt vời này, và xin bày tỏ niềm vui được hiện diện ở đây hôm nay với anh chị em.

Nếu chỉ nhắm mục đích mời một thuyết trình viên có kiến thức uyên bác và tài diễn thuyết hấp dẫn, tôi chắc chắn rằng có rất nhiều diễn giả nổi tiếng trên đất Mỹ, hoặc là người Mỹ bản xứ, hoặc người Mỹ gốc Việt. Tuy nhiên Ban Tổ Chức đã muốn mời một giám mục từ Việt Nam đến, ắt hẳn là vì quan tâm đến sự hiệp thông gắn bó giữa cộng đồng công giáo Việt Nam tại đây với Giáo Hội tại quê nhà. Hiểu như thế, bài nói chuyện này không nên bàn đến quá nhiều về những vấn đề lý thuyết cho bằng chia sẻ những thông tin và tâm tình để anh chị em đồng cảm với Giáo Hội quê nhà. Do đó, tôi xin chia sẻ với anh chị em chút ít thông tin và suy nghĩ về Năm Thánh 2010 của Giáo Hội Việt Nam.

Tiếp tục đọc