BÀI THUYẾT TRÌNH 2 A : GIÁO DỤC BẰNG PHÚC ÂM HÓA VÀ PHÚC ÂM HÓA BẰNG GIÁO DỤC

Thuyết trình viên
Lm Giuse Nguyễn Văn Am SDB

Kính thưa quí Đức Cha, các Linh mục, tu sĩ và hết thảy mọi người tham dự Đại hội Giáo Lý toàn quốc hôm nay,

Trước hết, xin cho con được nói lên lời tri ân với tất cả mọi người, nhất là với ban tổ chức, đã dành cho con vinh dự này: được tham dự Đại hội Giáo Lý toàn quốc, và còn được vinh dự chia sẻ những nghĩ suy và quan tâm của mình với Đại hội.

Con được kêu gọi để trình bày đề tài: Giáo dục bằng phúc âm hóa và phúc âm hóa bằng giáo dục. Đây là một đề tài vốn sẽ mang đến những trực giác mục vụ có thể canh tân việc huấn giáo của chúng ta, vì mục tiêu tối hậu của huấn giáo chính là được biến đổi nên giống Đức Kitô, con người hoàn hảo. Nhưng con cũng phải nói ngay sự giới hạn của mình. Con không thể đóng được nhiều vai trò. Trong Thân Mình Đức Kitô, mỗi chi thể đều có phận vụ của mình, và không thể làm công việc của chi thể khác. Thiên Chúa đã muốn con trở thành một người con của Don Bosco, và trong đoàn sủng ấy, con được nuôi dưỡng, suy tư, lớn lên và trưởng thành. Chính vì thế dù muốn dù không, suy tư của con một cách tự nhiên và tự phát mặc lấy hướng chiều thiêng liêng của vị Thánh đó trong Giáo Hội. Con xác tín rằng khi càng là một người Salêdiêng chân chính, con lại càng có thể đóng góp phong phú hơn cho Giáo Hội địa phương, bởi vì đoàn sủng, phương pháp mục vụ và sự thánh thiện của Don Bosco thuộc về toàn Giáo Hội. Các dòng tu đóng góp cách chuyên biệt cho Giáo Hội qua chính đoàn sủng của mình. Đó là xác tín của Vatican II. Trong bài suy tư này, con sẽ cố gắng dựa trên nguồn liệu và kinh nghiệm đa dạng. Tuy nhiên, nếu đôi lúc con có qui chiếu đến Don Bosco để minh họa, xin anh chị em cũng hiểu đây không phải là một thứ tô son đánh phấn cho vị Sáng lập của mình. Nhưng thực sự hướng mục vụ-giáo dục-tông đồ của Ngài là thế, như lịch sử Giáo Hội nói lên.

Để khai triển đề tài, con xin tất cả cùng lắng nghe tiếng còi hụ báo động của giáo dục, để chọn được thái độ khởi từ những kẻ thấp nhất. Nơi họ ta lắng nghe được niềm khao khát một nền nhân học toàn diện và thống nhất, với mối liên hệ chặt chẽ đến độ bất khả phân giữa giáo dục và loan báo Tin Mừng: Giáo dục bằng rao giảng Tin Mừng và Rao giảng Tin Mừng bằng giáo dục. Hướng đi này mang lại những hệ quả thiết thực cho một tổng hợp thiêng liêng và mục vụ. Để thấy những suy tư trên không chỉ trên bàn giấy, con xin ghi lại một vài kinh nghiệm huấn giáo của chính mình như một minh họa rất nhạt và giới hạn, dưới mối tương quan giáo dục và rao giảng Tin Mừng. Nhờ đó, con sẽ kết luận về một con người lớn lên chỉ có một trái tim với nhịp đập liên kết của tĩnh mạch và động mạch, khác biệt, không lẫn lộn nhưng lại không phân chia. Nhịp đập của trái tim tin cậy mến nơi người tín hữu đưa ân sủng của Thiên Chúa vào trong thực tại trần thế và đưa những cặn bã của trần thế vào ân sủng để được biến đổi nên hoàn thiện, vì sự sống hạnh phúc của người con Thiên Chúa.

I. Hồi còi báo động giáo dục đức tin để tìm hướng mục vụ

1. Nỗi lo có thực

Âu lo trước tiền đồ của cha ông, Đại hội Dân Chúa vừa qua rõ ràng gióng lên một hồi còi báo động giáo dục của đất nước. Chạm tới tận sâu thẳm, những môn đệ của Đức Giêsu tại Việt Nam muốn đặt giáo dục thành một trong những ưu tiên trong kế hoạch mục vụ của mình trong những năm tới. Tiêu chuẩn “tiên học lễ hậu học văn” của các bậc cha anh đang đối diện với thực tại “bạo lực học đường”, “những bệnh thành tích giáo dục”, “những lợi dụng uy danh nhà giáo”, v.v. Truyền thống đất Việt luôn quan tâm đến giáo dục, đào tạo những nhân hiền cho dân tộc, vì biết rõ vận mạng quê hương tùy ở đây, tùy vào “trăm năm trồng người.” Thế nhưng, ngày nay chúng ta đang nhận rõ sự xuống cấp của giáo dục, với nhiều tiếng gióng lớn. Hẳn nhiên chúng ta vẫn quan tâm đến giáo dục, nên mới gióng tiếng. Vấn đề ở đây chính là nền giáo dục đang mất phương hướng, hay nói đúng hơn, đang đặt sai các bậc thang giá trị.[1] Đó là điều được phản ánh trong Đại hội Dân Chúa vừa qua.[2] Bậc thang giá trị phải dẫn dắt giáo dục là tiên vàn giáo dục thành người, rồi thành công dân, sau cùng mới thành chuyên viên. Thế mà giáo dục hiện nay thường được hiểu đáp ứng nhu cầu sản xuất. Báo động giáo dục là đấy.

Nhưng còn nữa:
“Thế hệ trẻ em hỏi xem họ có thể tiến vào một vũ trụ chân thiện mỹ hay không, đang khi đó thế hệ phụ huynh trở nên xa lạ trước một vũ trụ ý nghĩa. . . . Báo động giáo dục là sự ngắt quãng đối với câu chuyện mà một thế hệ kể cho thế hệ khác: phía thế hệ phụ huynh nó thì mất trí nhớ còn thế hệ con cái thiếu khả năng ngay cả nói rõ vấn nạn nảy sinh trong tâm hồn chúng. Cha mẹ không cống hiến truyền thống nào, bởi vì họ mất trí nhớ về nó, và họ trở thành chứng nhân cho hư vô và chỉ chuyển giao luật lệ. Trẻ em lại thấy mình lang thang trong một sa mạc không có lối đi, không còn biết họ từ đâu đến và đang đi đâu.”[3]

Điều vừa được nói có lẽ phản ánh đúng tâm trạng chúng ta dẫu chúng ta không diễn đạt được cách bóng bảy như thế. Chúng ta nhìn nhận rõ những cơ cấu truyền thống (như gia đình, trường học, giáo xứ) với những sinh hoạt truyền thống (kinh tối gia đình, các kinh quen thuộc, ngắm thương khó, v.v.) đang ngày một lạc lõng hơn với thế hệ trẻ.[4] Chúng không đến với chúng ta và nhiều người đến chỉ để cho xong một bó buộc nào đó. Cùng lúc đó, chúng ta đang loay hoay chưa tìm được những cơ cấu mới để chuyển giao giá trị chúng ta thâm tín. Thế hệ trẻ có những cấu trúc sinh hoạt mà chúng ta chưa thể vào được vì chóng mặt (chẳng hạn, chúng ta xem các trẻ bấm các phím chơi game hay phím điện thoại di động mà chóng mặt). Chính Đại hội Dân Chúa cũng nhìn thấy trào lưu duy tục, tiêu thụ và hưởng lạc đang tàn phá nhiều tâm hồn thanh thiếu niên, tạo cho chúng những thế giới ảo của anh hùng, của tình yêu.[5] Rõ ràng, “bị nhổ rễ khỏi truyền thống vĩ đại vốn cho chúng sự sống, giới trẻ tìm được một vị khách gây phiền muộn nhất đến sống với mình: chủ thuyết hư vô. Chúng ta đừng dối mình: đây là tình trạng cho nhiều người trẻ hôm nay.”[6] Thách đố này đòi buộc Giáo Hội, nhất là các giáo lý viên được hiểu là những nhà giáo dục đức tin, tìm ra lời đáp trả giáo dục có thể nảy sinh một nền văn hóa của chân thiện mỹ.

Hồi còi báo động giáo dục khiến Giáo Hội tại Việt Nam phải nhìn về chính mình ngay và chọn thái độ: cứ như cũ, vì giáo lý là không đổi thay, hay an phận, mặc kệ thế hệ trẻ, hay cùng nhau tìm phương cách mới, vì Thiên Chúa luôn luôn lớn hơn và con người luôn đổi mới? Thật vậy, nếu Giáo Hội vẫn là nhà giáo dục của nhân loại, thì Giáo Hội tại Việt Nam buộc phải tìm cách thực thi sứ vụ ấy, vào lúc thuận cũng như lúc nghịch. Nếu Giáo Hội vẫn nắm giữ những truyền thống lên tới thời Tông đồ thì Giáo Hội tại Việt Nam phải kiếm tìm được một lối đi mới để rao giảng Tin Mừng, để phúc âm hóa con người và các nền văn hóa của họ. Nếu Giáo Hội là thầy dạy chân lý, cột trụ nâng đỡ thuần phong mỹ tục, thì Giáo Hội tại Việt Nam phải để cho mầu nhiệm nhập thể của Ngôi Lời khởi hứng mình trong phương hướng mục vụ.[7] Có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử Giáo Hội tại Việt Nam lại nhấn mạnh đến giáo dục đức tin đến thế. Giáo Hội này đang kêu gọi các gia đình, các giáo lý viên, các mục tử hiến mình cho giáo dục dẫn tới trưởng thành đức tin làm lẽ sống cho mình, làm ưu tiên số một. Bởi lẽ đó là cách Giáo Hội sẽ đóng góp vào tiền đồ của quê hương cách ý nghĩa nhất.

2. Khởi đi từ những kẻ thấp nhất

Đứng trước một thế giới giầu có về mọi mặt, nhưng lại đang phân hóa thành Nam-Bắc với khối khổng lồ của những kẻ nghèo khổ thậm chí tới mức không xứng với nhân phẩm sánh vai với số rất ít người bơi trong bể dư dật, Vatican II cho thấy GH phải khởi đi từ những ưu sầu, vui tươi, kỳ vọng, phiền sầu và hy vọng của những người thấp kém nhất;[8] lối đi này không phản ánh gì khác hơn lối đi của Thiên Chúa: Thiên Chúa đã trở nên một người trong những kẻ hèn kém, bị bỏ rơi nhất và hơn nữa, đã đồng nhất chính mình với họ. Những kẻ thấp hèn nhất này không chỉ thuộc diện vật chất. Họ thật đa dạng, có thể ở diện tri thức, luân lý, tâm linh, vì “sự ngu dốt tôn giáo đang gia tăng nơi những thế hệ mới”, thực hành tôn giáo chân chính ngày càng giảm; chính giữa các thanh thiếu niên mang danh Kitô hữu, vị Thiên Chúa Kitô hữu hình như đã mất vị trí trung tâm cho Thiên Chúa của đa phương tiện vốn tôn thần thể thao, âm nhạc, tài tử.[9]

Chọn lựa này hoàn toàn là mục vụ.[10] Dầu vậy, thật đúng, “những kẻ nhỏ bé nhất là dấu chỉ sâu sắc của cuộc khủng hoảng ngày nay,” vì lẽ xét cho cùng nghèo khổ của thế giới hôm nay đã chuyển thành vấn đề luân lý.[11] Nhãn quan mục vụ, nghĩa là xuất phát từ đức ái mục tử, khiến các nhà giáo dục đức tin chúng ta “hủy bỏ những ngẫu tượng chúng ta dựng lên: tiền tài, quyền bính, tiêu thụ, phung phí và khuynh hướng sống vượt quá những phương tiện và khả thể của mình. Rồi chúng ta sẽ tái khám phá giá trị cố hữu trong thiện ích chung, vì đất nước sẽ tăng trưởng trừ phi tất cả chúng ta cùng tăng trưởng.”[12]

Đường nét tiếp cận này “kích thích một sự thay đổi não trạng trong cách thức chúng ta tri nhận những điểm chiến lược của việc rao giảng Tin Mừng.”[13] Chúng ta đã quá quen khởi từ tư cách người ban phát. Chỉ cần cho, thế là đủ rồi. Cho luôn luôn là tốt. Không cần hay ít để ý xem tặng phẩm ta mang lại cho có thích hợp, có đáp ứng nhu cầu, có được mong chờ, cung cách ta trao ra sao.[14] Không lượng giá những góc cạnh trên khiến có thể xẩy ra là những lối mục vụ của chúng ta trở thành không hiệu quả, gây chán ngán tẻ nhạt và bị coi thường. Đã đến lúc, “khởi từ những kẻ thấp nhất cho chúng ta hiểu tốt đẹp hơn những vấn đề của mọi người.”[15]

Hướng đi từ những kẻ thấp hèn nhất luôn phải trả giá. Ở giữa những người đó, chúng ta chợt bừng tỉnh, thoát khỏi căn bệnh cố hữu của những vị ngôn sứ buồn bã thất vọng, tưởng chừng như Thiên Chúa chỉ làm nên những tai ương. Không phải thế. Chúng ta dần dần học ra bài học khó nuốt trôi: Thiên Chúa canh tân bộ mặt trái đất nhờ những người nghèo.[16]

“Nếu GH tập trung vào những kẻ thấp hèn nhất thì không chỉ bởi vì họ bị bỏ rơi, thiếu thốn, không chỉ bởi vì họ nghèo và ở bền lề xã hội, không chỉ bởi vì họ ở cuối của đường nét và nạn nhân của những cơ cấu không thích đáng, nhưng còn bởi vì GH tri nhận ở giá trị thật của họ những phẩm tính giầu có của cõi lòng vốn hứa hẹn niềm hy vọng mới cho tương lai.”[17]

Rõ ràng, chúng ta học xác tín rằng không có một tạo vật nào hoàn toàn là xấu xa dơ bẩn. Nếu thế, Thiên Chúa đã chẳng bao giờ sáng tạo nó.

II. Một nhân học toàn diện

Khởi từ những kẻ thấp kém nhất, chúng ta bắt gặp sự thật rằng trước khi họ cần cơm bánh, họ cần được kính trọng và yêu thương;[18] Thực thế, giới trẻ cần sân chơi để triển nở tình bạn. Họ cần được kiến thức để biết chân lý, họ cần được học hành tử tế. Họ cần tình yêu gia đình.Trên hết, họ cần Thiên Chúa để làm cho tự do của họ trở nên đích thực và tròn đầy. Rõ ràng, giới trẻ cần được đóng góp phần mình để xây dựng chứ không phải để phá hoại.[19] Nếu Giáo Hội không thể trao ban điều mà các ý thức hệ không thể cho (sự kính trọng nhân vị, tình yêu và lòng thương mến) thì Giáo Hội chẳng khác nào một cơ chế lạnh lùng, nếu không nói là bóc lột. Nói theo góc cạnh giáo dục, khát vọng trên có thể diễn đạt như sau: Ở tận nền tảng của tất cả suy tư chúng ta, có một hoài nghi xem chúng ta đạt được phẩm chất giáo dục là kiến tạo những con người mới theo đòi hỏi của văn hóa mới hay không. “Chúng ta phải ưu tiên hướng đến đào tạo những người tự do chân thật, có óc phê phán, cam kết cho xã hội, có thể phục vụ anh chị em mình, tìm thấy động lực của mình từ Tin Mừng, nơi đức tin của họ vào Chúa Kitô, Con Người mới.”[20] Hay “giáo dục sẽ thường hằng hóa hệ thống cạnh tranh cũ kỹ hay sẽ mở ra những con lộ đi tới tham gia, chia sẻ trách nhiệm, tình liên đới và công bằng xã hội?”[21] Đấy không phải là hướng đi của giáo dục bằng rao giảng Tin Mừng và rao giảng Tin Mừng bằng giáo dục hay sao?

Soi sáng từ nhân học toàn diện, Giáo Hội và cách riêng những nhà giáo dục đức tin phải đặt lên hàng đầu thiện ích và hạnh phúc của những con người, chứ không phải vận hành một cơ cấu hay nhồi nhét một số kiến thức. Mà điều ấy chẳng thể xẩy ra được khi chúng ta chú ý rất ít hoặc chẳng mảy may đặt thành vấn đề:
“những khó khăn và đau khổ mà thanh thiếu niên phải đối diện trong việc hình thành nhân cách của chúng […] Đời sống của thanh thiếu niên cùng một lúc là khởi điểm bó buộc cho một hành trình đức tin, là điểm qui chiếu liên tục trong việc phát triển của nó, và là mục tiêu của chính hành trình, một khi nó được biến đổi và được đặt trên con đường tới sự sung mãn trong Đức Kitô Giêsu. Cũng thế, việc loan báo Đức Kitô, được canh tân liên tục, là khía cạnh căn bản của toàn hành trình; nó không phải là một cái gì xa lạ hay chỉ tiếp giáp với kinh nghiệm của tuổi trẻ. Trong kinh nghiệm đó nó trở thành con đường, sự thật và sự sống viên mãn.”[22]

Đoạn văn trích dẫn khiến chúng ta giật mình. Chúng ta rất dễ quên: thanh thiếu niên chưa có một nhân cách hoàn thành. Chúng đang hình thành nhân cách. Vậy mà nhiều khi chúng ta đòi hỏi chúng phải là những người trưởng thành, có nhân cách tuyệt vời và chững chạc. Đồng thời, rất nhiều lần chúng ta đến với lớp giáo lý hay lớp học với những mớ kiến thức tín điều đã có sẵn từ bao năm (tôi đã dạy giáo lý cả năm năm rồi, đám thanh thiếu niên này có gì khác đâu) mà chẳng cần hỏi hay áy náy “các thiếu niên của tôi đang thao thức gì”. Chúng ta thường xa lạ với thế giới của tuổi trẻ; không phải sao, chúng ta thường khoanh tay đứng nhìn chúng từ đàng xa hơn là đến gần, chơi, để được chúng chấp nhận và ngồi xuống lắng nghe chúng? Chúng ta muốn nói cho chúng điều phải làm trong những nỗi buồn, gian khổ, hay niềm vui của chúng. Chúng ta đóng vai ông thầy hơn là những người bạn, hay đúng hơn, những người bạn-ông thầy của chúng. Một thầy cô hòa mình làm bạn với trẻ trong giờ chơi, chỉ dạy chúng phải chơi ngay thật, không ăn lận vì háo thắng thì đang là người bạn dạy chúng bài giáo lý sống. (Chúng ta sẽ trở lại điều này). Và như thế, khi trình bày giáo lý, chúng ta dễ dàng nghĩ rằng Đức Kitô đã xong rồi, một lần cho tất cả, không cần phải liên kết với những vấn nạn và ưu tư của con người hôm nay. Con người thời nào mà chẳng giống nhau, mà Đức Kitô lại là Đấng cứu chuộc con người.

Suy nghĩ như thế vô tình chúng ta hành xử như đã đạt đích hơn là đang đi một hành trình, đang lữ hành. Chúng ta xác tín Thiên Chúa cũng là Thiên Chúa của hôm nay và lịch sử và xã hội ngày nay không giống với bất kỳ lịch sử và xã hội nào. Điều ấy có nghĩa rằng không bao giờ có một giới trẻ chung chung. Chỉ có giới trẻ ở đây và lúc này. Chỉ có giới trẻ của Việt Nam hôm nay, tại Thủ đô, hay tại Thành phố Hồ Chí Minh, hay tại Lạng sơn, giới trẻ của xã hội tiêu thụ tân tiến, hay giới trẻ của thế kỷ 19 mà thôi. Cũng thế, chẳng có một tương lai của Đức Kitô đã xong hoặc làm sẵn. Và hệ quả là khởi sự lại với Đức Kitô không chỉ có nghĩa là trở về với Đức Kitô trong Tin Mừng mà thôi, nhưng còn là trở về với những người bạn hôm nay của Ngài. Như thế, trở về với các em trong lớp tôi phụ trách thực sự quả là cần thiết khi khởi đầu tiến trình giáo dục đức tin. Rõ ràng, hai cực thanh thiếu niên và Đức Kitô trong ánh sáng trên mời gọi giáo lý viên chúng ta hoán cải, được Tin Mừng hóa đang khi loan báo Tin Mừng; nếu nói theo khía cạnh giáo dục, họ hãy để mình được giáo dục đang khi giáo dục (nếu việc “là” người luôn là năng động và luôn lên đường, theo Gabriel Marcel).[23]

Chúng ta nhấn mạnh đến một con người toàn diện,[24] vì đó chính là một khóe nhìn rất thực về con người. Rất có thể một ai đó trong chúng ta vẫn chấp nhận nhân chi sơ tính bổn thiện. Nhưng ngay cả như thế, họ cũng đồng ý rằng một người lớn lên phải học từng chút một, học ăn, học nói, học gói, học viết, học đọc, v.v.. Ai nấy đều phải học để làm người. Nghĩa là học để hòa hợp năng lực lý trí, ý chí, tình cảm theo một bậc thang giá trị để thành một người có trách nhiệm, biết sử dụng tự do, khao khát chân lý, sống công bằng và yêu thương, tha thứ, v.v. Kinh nghiệm đã cho chúng ta hay: có những người rất giỏi và thông minh, nhưng sự giỏi giang và thông minh đó, họ sử dụng để hại người. Chúng ta sợ sự thông minh đó. Khi sự thông minh và cấp độ luân lý không tương xứng thì tạo nên nhiều kinh hoàng hơn là bình an và hạnh phúc cho mọi người. Tất cả điều đó cho chúng ta một sự thật này: để tự nhiên, sống ích kỷ, ghen tuông, cáu kỉnh, hận thù, bừa phứa thì dễ dàng hơn sống quảng đại, nhân hậu, hiền lành, tha thứ và có kỷ luật. Hãy cho tôi dùng vài sự kiện như một minh họa chân lý trên. Những nhà vệ sinh công cộng, khu nhà thờ đầy rác do các tín hữu. Tất cả nói lên rằng: một cách tự nhiên, xả rác và bỏ mặc không thu dọn những gì bẩn thỉu của mình thì dễ hơn là bỏ rác vào đúng chỗ và dọn dẹp sạch sẽ đồ của mình để kính trọng người đến sau.

Khóe nhìn về con người toàn diện sẽ giúp tôn trọng được bậc thang giá trị trong giáo dục. Điều chúng ta đang chứng kiến trong đất nước là sự đảo lộn các giá trị. Chuẩn bị cho học sinh nghề nghiệp bước vào đời không thể là xấu. Thế nhưng thật sai lầm khi coi đấy là mục tiêu cao nhất. Lối nhìn đó đã làm sai lệch cách nguy hại, vì rõ ràng đặt giá trị con người hệ tại ở việc “có” nhiều hơn là ở việc “là” người ngày một hơn.

“Để đạt được mục tiêu là đào tạo nhân vị toàn diện đối với những nguyên lý dân chủ là cùng chung sống, những quyền lợi và những tự do cơ bản, giáo dục sẽ phải bao gồm đào luyện và thông tin, kỹ thuật và giá trị, theo một cách thức là trước tiên đào tạo những con người, rồi các công dân, rồi các chuyên nghiệp. Ba mục tiêu này là linh thánh cho giáo dục: con người, công dân và nghề nghiệp.”[25]

Những lời đó soi sáng cho ta biết lỗ hổng nào chúng ta đang gặp khi nói về thanh thiếu niên chúng ta hôm nay. Thách đố đến liền khi các nhà giáo dục, thầy cô và chính trị gia “không chia sẻ cùng một nhân học xét trên phương diện văn hóa. Làm sao chúng ta giúp thanh thiếu niên nên những người hạnh phúc khi không có lý tưởng và mục tiêu rõ ràng cho nhân loại, mà trong ánh sáng của nó chúng ta mới có thể phân định cái gì là đúng là sai, là chính trực và bất chính, cái gì đem lại phẩm giá và cái gì hạ thấp phẩm giá, nói tắt, cái gì nhân bản và cái gì phi nhân.”[26] Làm sao chúng ta cống hiến nền giáo dục lành mạnh khi chúng ta không biết rõ mục tiêu.[27]

Thế giới và lịch sử đã chứng kiến nhiều quan điểm về con người. Có hình ảnh con người thực dụng (William James), khoa học (David Hume), xã hội (Auguste Comte), chính trị đảng phái (Karl Marx), ích kỷ, quyền lực (Federich Nietzsche). Giáo Hội với mặc khải của Thiên Chúa qua khuôn mẫu Đức Kitô có một khoa nhân học vốn công nhận “sự tiến bộ khoa học và kỹ thuật trong những năm gần đây thật lớn lao; âm vang của chúng trên nhân loại cũng lớn lao, nhưng không bao giờ mang lại câu giải đáp đầy đủ và thỏa mãn cho nhiều vấn nạn của con người. Chỉ mình Đức Kitô mới mạc khải cho con người thực sự con người là gì mà thôi.”[28] Theo khoa nhân học này, dầu bị phơi trần cho sự xấu do nguyên tội, con người có một ơn gọi siêu nhiên. Họ vẫn mang hình ảnh Thiên Chúa tận thâm sâu và hình ảnh ấy đã được khôi phục một cách tuyệt diệu hơn nữa nhờ chính Đấng là Hình Ảnh duy nhất chân thực của Chúa Cha. Con người là tội nhân, nhưng lại là tội nhân được tha thứ, được thánh hóa, được tẩy sạch, được đưa vào lòng của Chúa Cha.

Khoa nhân học toàn diện thống nhất

Theo ánh sáng này, “Nhân loại, mọi con người, có một nền tảng linh thánh mà họ phải khám phá, để đi xa hơn chính mình và nó dẫn xa hơn bản ngã: Thiên Chúa.”[29] Pascal nói rõ “con người vượt trên chính mình” (L’uomo supera infinitamente l’uomo) Đức tin nhìn con người rất mới, ngay cả giữa tội lỗi nữa, vì
“đức tin không phải là một cái gì rời rạc hoặc chỉ liên kết chặt chẽ với cái gì là nhân bản, lịch sử, trần thế (tạm bợ) hoặc thế tục, song đúng hơn là sinh lực bên trong những thứ này; nó cho chúng sự soi sáng và ý nghĩa mới và cũng siêu việt chúng, trải rộng chân trời của chúng ta vượt qua những biên giới của lịch sử.”[30]

Chỗ khác,
“Chúng ta không được tổ chức công cuộc của mình trên nền tảng là sự chia tách giữa điều linh thánh và trần tục. Nhưng đang khi chấp nhận sự kiện là điều linh thánh và trần tục khác biệt nhau, chúng ta cố gắng cho thấy tại sao tất cả công việc đang làm thì đều liên kết và hiệp nhất trong Đức Kitô.”[31]

Con người tốt lành, trưởng thành không phải chỉ là con người có các nhân đức. Đúng hơn, các nhân đức của họ được thống nhất, hòa hợp với nhau quanh một trục chính. Đức tin không để các nhân đức đứng cạnh nhau như trong bản liệt kê các nhân đức trong thần học. Không ít lần, chúng ta trình bày, quan niệm và tập tành các nhân đức tiếp liền theo nhau. Đời sống như thể chất đống các nhân đức. Quả vậy,
“đời sống thiêng liêng không hệ tại ở một bảng liệt kê những nhân đức rời rạc nhau, nhưng đúng hơn hệ tại ở cấu trúc cân xứng hài hòa và hòa điệu với nhau toàn vẹn, trong một sự liên kết hỗ tương và với một vài sự nhấn mạnh vốn tạo thành một diện mạo đặc biệt. Những nhân đức nơi một người đúng hơn là những giá trị và thái độ cốt yếu làm đặc trưng sắc thái một phong cách sống biệt loại nào đó.”[32]

Vậy ra, giáo dục đích thực sẽ là giáo dục đức tin, tức là giáo dục tới đức tin và trong đức tin, mà cốt yếu đưa tới sự thống nhất đời sống. Chắc chắn, các nhà giáo dục sẽ cống hiến cho trẻ cơm ăn áo mặc phần xác, huấn nghệ và cả lương thực nuôi lý trí. Nhưng trên hết, chúng ta giúp rộng mở trước chân lý và kiến tạo sự tự do của chính mình, giúp chúng thưởng nếm những giá trị chân thật sẽ giúp đem chúng đến sự thánh thiện Kitô giáo.[33] Sự thống nhất đời sống này được hiểu là sự thay đổi tận bên trong mà các ngôn sứ nói tới: Thiên Chúa và chỉ một mình Ngài là chủ của tâm hồn mà thôi.

Giáo dục bằng Loan báo Tin Mừng

Hẳn nhiên, giáo dục và loan báo Tin Mừng là hai hoạt động khác nhau. Giáo dục thuộc diện văn hóa, rao giảng Tin Mừng thuộc diện đức tin. Thế nhưng, coi chúng độc lập, hay tệ hơn, tách biệt là một chuyện khác. Chúng ta đang chứng kiến khuynh hướng cắt nghĩa giáo dục thuần túy dưới diện duy tục. Nó giản lược nhà giáo dục thành thuần túy người cho kiến thức mà thôi. Nhưng sai hẳn. Giáo dục liên quan đến tiến trình nhân vị hóa, “qui chiếu đến tiến trình hấp thụ những giá trị nhân bản phức hợp đang tiến hóa, với mục đích biệt loại của chúng và tính hợp pháp nội khởi.”[34] Nó không liên quan nhiều đến
“việc áp đặt những nguyên tắc cho bằng làm cho tự do ngày một trách nhiệm hơn, liên hệ với lương tâm, phẩm chất chân chính của tình yêu và những chiều kích xã hội… nó có điều gì đó chung với tình cha tình mẹ như thể chia sẻ tiến trình khai sinh nhân bản đối với những giá trị nền tảng như lương tâm, chân lý, tình yêu, công việc, công bằng, tình liên đới, phẩm giá sự sống, công ích, quyền lợi cá nhân. Vì lẽ này nó quan tâm tránh bất kỳ cái gì hạ giá và lệch lạc: ngẫu tượng, bạo lực, ích kỷ, v.v. Mục đích của nó là mang đến sự tăng trưởng của người trẻ từ bên trong, hầu họ trở thành một người lớn có trách nhiệm và cư xử như một người công dân chính trực.”[35]

Như thế, ta thấy không thể cổ xúy một sự tách biệt giữa hai thực tại trên được. Đúng hơn, giáo dục phải lấy khởi hứng từ chính khởi đầu của Tin Mừng và loan báo Tin Mừng đòi buộc ngay từ đầu được thích ứng vào những hoàn cảnh thay đổi của đứa trẻ, thiếu niên, thanh niên. Cách chúng ta loan báo Tin Mừng hướng tới đào luyện những người trưởng thành theo mọi nghĩa của hạn từ. Nền giáo dục của chúng ta nhằm rộng mở trước Thiên Chúa và định mệnh đời đời của con người.”[36] Nền giáo dục như thế phải để ý một vài yếu tố:
“nhân vị là ưu tiên đối với những quan tâm thể chế hay ý thức hệ; chăm sóc đến khung cảnh mà phải phong phú trong những giá trị nhân bản và kitô hữu; phẩm chất và tính kiên định Tin Mừng của lời đề nghị văn hóa được trình bày trong các hoạt động và chương trình; tìm thiện ích chung, cam kết đối với những kẻ thiếu thốn nhất; vấn nạn về ý nghĩa đời sống, cảm thức siêu việt và rộng mở cho Thiên Chúa… Là nhà giáo dục Kitô hữu là người đảm trách công việc giáo dục coi nó như cộng tác với Thiên Chúa trong sự tăng trưởng của nhân vị.”[37]

Loan báo Tin Mừng bằng giáo dục

Loan báo Tin Mừng không bao giờ bị giản lược vào huấn giáo hay phụng vụ mà thôi, nhưng tìm được chỗ của mình trong tất cả những hoàn cảnh sư phạm/văn hóa của giới trẻ. Chúng ta đang nói về đức ái phúc âm được làm thành cụ thể… trong việc cổ xúy và giải phóng người trẻ bị bỏ rơi và để mặc chính mình.

“Loan báo Tin Mừng bằng giáo dục” có nghĩa là biết làm thế nào để cống hiến Tin tuyệt hảo (con người Đức Giêsu) bằng cách thích ứng nó và kính trọng những hoàn cảnh tiến hóa của một người. Người trẻ tìm hạnh phúc, niềm vui sống, quảng đại làm những hy sinh để đạt được điều này, nếu chúng ta tỏ cho chúng một con đường thuyết phục và nếu chúng ta dâng mình như những người bạn có uy tín trên đường. Chúng ta phải là nhà giáo dục và loan báo Tin Mừng. Là người loan báo Tin Mừng chúng ta biết và tìm ra mục tiêu: đem người trẻ tới với Đức Kitô; như nhà giáo dục, chúng ta phải biết làm thế nào bắt đầu từ những hoàn cảnh cụ thể của thanh thiếu niên và thành công trong việc tìm ra phương pháp thích hợp để đồng hành với họ trong tiến trình trở nên trưởng thành. Nếu như mục tử đối với chúng ta không thừa nhận mục tiêu thật là xấu hổ, thì như nhà giáo dục, cũng sẽ xấu hổ nếu chúng ta không thể tìm phương pháp thích hợp để thúc đẩy họ khởi sự trên hành trình và để đồng hành với họ cách khả tín.[38]

III. Những Hệ Quả

1. Những biên cương mới kéo theo những viễn cảnh mới

Không ai nghi ngờ xã hội ngày nay đổi thay phức tạp. Biên cương nghèo đói trải ra xa hơn nhiều. Ngày nay đang nói tới một thứ sa mạc hóa xã hội nhân loại. Quả là từ một xã hội tĩnh sang một xã hội động. Động như thế nào? Xã hội hôm nay “đề cao phẩm giá con người, quyền sống bất khả xâm phạm, tự do tôn giáo, gia đình ở đó bổn phận với xã hội bắt đầu; tình liên đới ở những bình diện khác nhau; sự cam kết chính trị vì một lối sống xã hội dân chủ; những vấn đề xã hội và kinh tế phức tạp; cuối cùng như tổng hợp của tất cả những cái khác, văn hóa (hay những nền văn hóa.)”[39] Cùng với nó, những viễn cảnh mới đang lộ rõ: tiến trình xã hội hóa, giải phóng, trần tục hóa, thăng tiến phụ nữ, Hồi giáo cực đoan, những đòi hỏi những mô hình mới song lệch lạc về gia đình, hôn nhân, v.v. “Các ý thức hệ tuyên bố cần phải thay đổi ngay, kể cả với giá của những phương thế phi nhân và tàn bạo.”[40] Chính con người hoạch định và thực hiện lịch sử. Tương lai liên kết với vị trí trung tâm dành cho thực tiễn, thực hành. Đó là “cách nhìn mới vào những trạng huống và quyết định những ưu tiên, đưa ra những quyết định và giải đáp độc đáo, dẫn tới sự giải phóng xã hội và cá nhân.”[41] Con người muốn mở ra sự chiến thắng của chủ thuyết trần tục (secularism). Viễn cảnh mới đang mở ra cùng với những biên cương mới của sự nghèo túng nhân loại không chỉ là chủ thuyết vô thần, nhưng là vô thần thực tiễn. Tức là con người sống như thể không có Thiên Chúa, không có Ý Nghĩa, không có Chân Lý, Sự Thiện. Mà khi không có Thiên Chúa, thì con người sẽ làm mình thành Thiên Chúa (Dostoevsky). Vậy, đó không là ngẫu tượng sao? Ngẫu tượng không phải là giải thích rằng bất kỳ yếu tố riêng rẽ nào của đời sống con người là tự lập (autonomous) với lề luật Thiên Chúa sao?[42]

2. Những nhấn mạnh mới của tổng hợp đức tin – thiêng liêng – mục vụ

Trước hiện trạng này, Giáo Hội với Vatican II kiên quyết hướng tới con người. “Con người là con đường của Giáo Hội.” Bi quan và lo sợ, có thể là thế, nếu chúng ta thiếu chuẩn bị. Nhưng Vatican II nói cho ta không được quên rằng “các tín hữu đang sống trong một thế giới phát triển không ngừng và chiều kích thế tục của Giáo Hội gắn liền với thân phận lữ hành của mình trong thế giới. Đàng khác giới trẻ phải được đào luyện trong khung cảnh lịch sử của chúng và có thể làm chứng cho ơn gọi Kitô hữu của mình trong những bổn phận nảy sinh từ tính chất trần thế của chúng.”[43] Như vậy, hiểm nguy lớn nhất cho mọi tín hữu là sự chia tách giữa đức tin và đời sống.

Tầm nhìn này cho ta biết phải canh tân huấn giáo ra sao. Với thời gian, khía cạnh nhiệm huấn khi các giáo phụ dạy giáo lý dường như trở nên nhạt dần để thay bằng góc cạnh tri thức. Nếu cần chúng ta đốt giai đoạn để trình bày cho xong các tín điều. Ta có thể thấy điều ấy trong nhiều huấn giáo dự tòng. Chúng ta trình bày giáo lý dưới góc cạnh suy lý hơn là một tri thức sống, kết hiệp và dẫn đến cầu nguyện. Vô tình, đức tin biến thành một trang hoàng đánh bóng cho đời sống con người. Khía cạnh biến đổi, hoán cải ít được để ý tới hơn khía cạnh tòng đạo. Nhưng trong bối cảnh xã hội hiện đại, hài hòa và thống nhất giữa đức tin và lý trí, khát vọng về Thiên Chúa và khát vọng nhân bản đích thực, giữa khoa học kỹ thuật và luân lý chân thật mới mang đến câu trả lời mà con người hôm nay cần. “Mỗi Kitô hữu hãy theo gương Đức Kitô Đấng lao động như một người thợ; họ hãy hãnh diện về cơ hội để thực thi hoạt động trần thế theo một cách thức đến nỗi hòa hợp những sự nghiệp nhân bản, gia đình, nghề nghiệp, khoa học và kỹ thuật với những giá trị tôn giáo, dưới sự hướng dẫn tối cao của chúng mọi sự được sắp đặt cho vinh quang Thiên Chúa.”[44] Đó là chương trình Thiên Chúa muốn hiện thực cho con người.

Vatican II đã cho thấy ơn gọi làm người đích thực và sung mãn là ơn gọi được trở thành con cái Thiên Chúa, đầy tràn Thần khí và được Đức Giêsu phục sinh chiếu soi. Và ngược lại. Đức Giêsu Kitô không là con người hoàn hảo, là Đấng nối kết tuyệt vời nơi chính bản thân mình điều thuộc về con người và điều thuộc về Thiên Chúa sao? “Ngài đã yêu bằng trái tim con người, suy nghĩ bằng khối óc con người, và lao động với đôi tay con người.” Bằng cách đó, Giáo Hội hôm nay tìm được một trực giác thật phong phú: chiều kích phát triển nhân bản trở thành một cấu tố bất khả phân của việc rao giảng Tin Mừng.[45] Đức Gioan Phaolô II đã tóm tắt điều này bằng một lối nói đã trở thành cổ điển: “Con người là con đường mà Giáo Hội phải đi.”

Theo ánh sáng này, sứ vụ rao giảng Tin Mừng không chỉ đóng khung ở việc cải đạo hay trồng Giáo Hội mà thôi.[46] Nó không hệ ở bình diện địa dư, hoặc ngay cả những con số đông đảo hơn.[47]

“Rao giảng Tin Mừng có nghĩa là mang Tin Mừng vào trong tất cả các giai tầng của nhân loại, và qua ảnh hưởng của nó biến đổi nhân loại từ bên trong và làm nó nên mới […] Nhưng không có nhân loại mới nếu trước tiên không có những con người mới được canh tân bởi phép Thánh Tẩy và bằng những cuộc đời, sống theo Tin Mừng.”[48]

Đoạn văn trên cho ta chìa khóa: Tin Mừng đi vào mọi tầng lớp của nhân loại. Nó không hệ ở việc đem lại nhiều thông tin hay kiến thức. Tin Mừng làm đảo lộn “những tiêu chuẩn phán đoán, những giá trị quyết định, những điểm quan tâm, những đường nét tư duy, những nguồn cảm hứng và những khuôn mẫu đời sống của nhân loại, vốn trái nghịch với Lời Chúa và kế hoạch cứu rỗi.”[49] Như thế, thật đúng khi nói rằng rao giảng Tin Mừng là cách giáo dục mới, và ngược lại, giáo dục tìm được ý nghĩa phong phú nhất của mình dưới diện phúc âm hóa.[50]

Suy tư trên làm cho thần học về tạo dựng phải có những dấu nhấn mới ở đó chiều kích nhân học và đặc tính trần thế như tiến bộ khoa học, quyền lợi nhân vị, giá trị của tự do, giá trị của gia đình, công ích, v.v phải được đánh giá đúng. Cũng vậy, thần học đức cậy không còn giới hạn vào những sự sau cùng. Nhưng nay nó chiếu sáng Giáo Hội nhận ra Ađam mới là khuôn mẫu đích thực của nhân loại, là Chúa lịch sử. Giáo Hội không tiến vào một tương lai chung chung và tạm bợ, nhưng vào tương lai siêu việt và dứt khoát của Đức Kitô. Thánh Thần quyền năng đang xây dựng vương quốc trong lịch sử với dấu ấn Đức Kitô phục sinh, cả trong trật tự trần thế của văn hóa và chính trị lẫn trong công việc mục vụ.[51] Hơn nữa, thần học về Giáo Hội nhận rõ tính năng động mầu nhiệm của mình như Thân mình Đức Kitô, Đền thờ Thánh Thần trong lịch sử, Bí tích cứu độ phổ quát, Dân Thiên Chúa trong đó mọi người lãnh nhận ơn gọi nên thánh và cam kết cho cùng một sứ vụ rao giảng Tin Mừng, với những dạng thái chứng nhân khác nhau và phục vụ khác nhau, theo như bậc sống của họ. Theo đó, chân trời của giáo dân trong lãnh vực trần thế và hoạt động mục vụ của Giáo Hội mở rộng thật sự. Lối nhìn về Giáo Hội hiển nhiên phải tập trung đến sự hiệp thông các lực lượng để hiện thực Vương quốc Thiên Chúa.

3. Bốn chiều kích cơ bản trong liên hệ giáo dục-rao giảng Tin Mừng

Chiều kích nhân bản
Đời sống và đức tin gợi nhắc nhau. Khóe nhìn “đức tin là thuốc phiện ru ngủ con người” chẳng thể hiểu đức tin thực sự là gì. Dù đầy đủ và được toại nguyện mọi sự, con người sẽ có lúc phải đối diện trạng huống giới hạn và thiếu thốn. Lúc đó, ta hiểu mình không chỉ nghèo trong nhiều khía cạnh và dưới nhiều hình thức, nhưng nhất là nhận ra cái nghèo tột cùng của con người là gì: nghèo Thiên Chúa.[52] Nhưng kinh nghiệm tôn giáo không có thể trồi hiện mãi đến khi đời sống được khám phá trong ý nghĩa chân thật của nó. Tất cả kinh nghiệm chân thật về đời sống đều làm nổi bật chiều kích tôn giáo. Nó cho thấy giữa tạo dựng và cứu chuộc có sự tiếp nối, chứ không phải rạn nứt.[53] Chính vì thế, các giai đoạn tuổi trẻ có giá trị nhưng cũng bày ra những thách đố cho một người để thành một nhân cách trưởng thành. Chăm chú đến những vấn nạn nảy sinh từ đời sống cá nhân và từ thế giới, ý thức về mầu nhiệm bao quanh mình và cố gắng dò thấu ý nghĩa của nó qua nỗ lực và suy tư quả là cần thiết.[54]

Điều này dẫn tới việc tiếp nhận cuộc sống, chấp nhận chính mình. Không ít người trẻ nghĩ rằng đời của mình không đáng sống vì thiếu những nhu cầu cơ bản. Chính lúc này họ cần nhà giáo dục đức tin ở bên với trí minh mẫn và cõi lòng, giúp họ nhận biết giá trị khôn sánh của cuộc đời như tặng phẩm và như bổn phận. Tầm nhìn đó khiến thiếu niên rộng mở cộng tác với tha nhân, chấp nhận đa nguyên cũng như giới hạn của nhau. Không có nhà giáo dục đức tin, thanh thiếu niên khó lắng nghe tiếng nói nội tâm và học để giải thích những hiện tượng của đời sống xã hội nhân loại, mở rộng tâm trí đến những nguyên tắc luân lý liên hệ mà theo đó họ sẽ thành kẻ ích kỷ hay có trách nhiệm và chia sẻ với tha nhân. Bằng cách đó, câu hỏi về ý nghĩa đời sống và việc tìm kiếm ý nghĩa tối hậu của đời sống bắt đầu hình thành, một cách hiện sinh. Điều này không thể không cần tới nhà giáo dục đức tin, mặc dù cách thức có thể là trang trọng hay tự phát.

“Nơi người trẻ vấn nạn và tìm kiếm ý nghĩa trở thành một lời cầu khấn, nghĩa là ước muốn về một lời đáp trả, một viễn cảnh hay một cách nhìn sẽ giúp giải đáp vấn nạn đặt ra do đời sống, về khởi đầu và kết thúc, về điều cá nhân phải làm để đời sống nên tròn đầy. Đây phải là mục đích của mọi tiến trình giáo dục. Người ta đi qua một kinh nghiệm nhân bản trưởng thành, mà cũng là một kinh nghiệm “tôn giáo” hầu cá nhân có thể thành công đi vào kế hoạch TC cách sung mãn.”[55]

Chiều kích Kitô học
Tăng trưởng nhân bản mà thôi thì không đủ, dù được những nguyên tắc kitô hữu gợi hứng. Giáo dục đức tin đi liền với xác quyết chỉ nơi Đức Giêsu Kitô cuộc sống nhân bản đạt được sự sung mãn. Gặp gỡ cá vị với Đức Giêsu trong đức tin dưới hình thức “khẩn cầu” sẽ đưa đến hoán cải.[56] Bằng không, kiến thức sẽ hời hợt, mau qua, trừu tượng hay như ý thức hệ chi tiết của một nhóm tôn giáo nào. Nó chẳng phải là lời công bố và lời hứa cứu độ.[57] Để gặp gỡ Đức Kitô, con đường phải theo là qua chứng từ của cộng đoàn đức tin, qua kinh nghiệm Tin Mừng chân chính. Dù muốn dù không, Đức Kitô muốn gặp chúng ta qua những dấu chỉ nơi những người tạo nên cộng đoàn, nơi những thái độ làm ra nơi họ do hoài niệm (tưởng nhớ) về Đức Kitô, nơi việc cử hành lòng sùng mộ kitô hữu.[58]

Do đó, những cử chỉ nhân bản và bộc lộ đức tin của những người gần gũi giới trẻ tạo thành tiếng gọi đầu tiên tới đức tin.[59] Chứng từ này bộc lộ cho người trẻ giá trị phổ quát của đức tin, khi họ học từ những khuôn mẫu rõ ràng của đức ái hay sự cam kết vốn kích thích những động lực của họ và sức mạnh của tình yêu họ đối với Đức Kitô. Đức Kitô dần trở thành nhân vật trung tâm soi sáng cuộc tìm kiếm của người trẻ, trở thành sự sống kích thích những năng lực làm tốt của họ, và như con đường dẫn tới sự hoàn thành chính mình. Đức Kitô trở thành đấng được yêu mến, chiêm ngắm và được theo đuổi với thái độ của người môn đệ. Theo đó, giáo lý phải được đi theo bằng một sự đối diện của đức tin với những vấn đề văn hóa. Ta cảm nghiệm mạnh mẽ và cơ bản những điều này để não trạng đức tin được chín muồi thật sự, một đức tin vốn đòi hỏi sự nhất quán giữa tư duy và đời sống. “Đức tin nhìn nhận sự hiện diện và tình yêu của Cha nở rộ trong một thái độ hiền thảo đối với Ngài (“đạo đức” theo nghĩa đen). Cầu nguyện là ngôn ngữ được Thần khí ban cho ta để đến gần Cha và được khai triển trong nhiều hình thức khác nhau mà truyền thống Kitô giáo bày ra.”[60]

Chiều kích Giáo Hội
Tin vào Đức Kitô đi liền với chiều kích Giáo Hội. Không tin nơi Giáo Hội, đức tin sẽ rất èo uột. Chính vì vậy đòi buộc phải giúp giới trẻ sống kinh nghiệm Giáo Hội, phát triển cảm thức thuộc về Giáo Hội như Dân Thiên Chúa và Thân Mình Đức Kitô ngày một mạnh mẽ hơn. Chúng ta mời gọi người trẻ tích cực thể hiện tư cách thành viên của Giáo Hội trong những nhóm nhỏ (giống như cộng đoàn Giáo Hội cơ bản) để cảm nhận tình bạn và những tương giao liên vị sâu xa của chia sẻ và tình liên đới.

Không chỉ thế, người trẻ cử hành ơn cứu độ nơi các bí tích, nơi Lời Chúa, nơi cầu nguyện. Không thể coi nhẹ điều này. Thách đố chính là chỗ giúp cho người trẻ cử hành các thực tại này như biến cố cứu độ. Thật vậy, “giáo dục để cử hành và giáo dục trong cử hành đều cần thiết ngang nhau.”

Chiều kích vương quốc
Dần dần người trẻ học để chọn ơn gọi. Ở đây, ta không nói chọn nghề nghiệp. Đây là bước trưởng thành không thể thiếu được trong sự tăng trưởng nhân bản và Kitô hữu. Ơn gọi Kitô hữu chỉ được hiểu đúng trong viễn cảnh của Nước Thiên Chúa trong đó Thiên Chúa là nhân vật chính. Thiên Chúa muốn con người hạnh phúc và con người được “mời gọi chấp nhận tặng phẩm này với tất cả sự sẵn sàng và đặt cược đời mình cho kế hoạch Thiên Chúa.” Theo đó, cần thiết giúp người trẻ khám phá chỗ đứng của mình trong việc xây dựng vương quốc. Nhãn quan ơn gọi khiến người trẻ đi vào nghề nghiệp hay bậc sống một cách năng động và đa dạng. Làm việc ở nhà thương như một nghiệp vụ và như một ơn gọi là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Và như thế, ơn gọi không được phép hiểu hạn hẹp như trước Vatican II, dù vẫn luôn quan tâm hơn đến ơn gọi linh mục, tu sĩ.

III. Như một kinh nghiệm huấn giáo

Đến đây, xin cho phép con dùng kinh nghiệm huấn giáo của mình như một đóng góp rất khiêm tốn trong việc cùng nhau xây dựng định hướng giáo lý trên quê hương đất Việt hôm nay. Khi ở Đalat, con phụ trách về sinh hoạt thanh thiếu niên và giới trẻ của giáo sở Don Bosco. Thời gian đó, các em vừa học giáo lý vừa sinh hoạt giải trí lành mạnh với những phong trào thi đua. Dưới sự dẫn dắt của các huynh trưởng và giáo lý viên, các em cử hành Thánh Lễ theo phong cách trẻ trung đơn sơ của các em mà vẫn giữ được nghi thức và bầu khí phụng vụ. Phong trào thi đua với những cao điểm theo chu kỳ năm phụng vụ dẫn các em nỗ lực cùng nhau học hành, giao lưu, chơi đùa, đi dạo, pinic, cầu nguyện và cả Chầu Thánh Thể nữa. Những phong trào đó “được đỡ đầu” bằng các hội đoàn trong giáo xứ, như một gia đình lo cho con em của mình. Giáo sở mang nặng bầu khí gia đình tươi vui hơn là một cơ cấu. Trong bầu khí đó, các thiếu niên đã trưởng thành một cách độc đáo và hiện nay, nhiều người vẫn còn là những hạt nhân nòng cốt của giáo lý tại địa phương.

Trong những năm tháng du học, con cũng được kêu gọi để phụ trách giúp các thanh thiếu niên trong cộng đồng tín hữu Việt Nam về giáo lý. Con cũng tiếp tục dành thời gian ở giữa thanh thiếu niên đủ mọi kiểu tóc, áo quần. Được một thời gian, cộng đoàn mời gọi con cộng tác lo cho thanh thiếu niên. Tổng quát, chương trình diễn tiến như sau: sau Thánh Lễ, các em có giờ giáo lý. Giờ ra chơi của các em là giờ sinh hoạt chung với nhau, với những phong trào thi đua về trò chơi. Sau đó các em có giờ học Việt ngữ. Chương trình đó chiếm trọn cả buổi chiều ngày Chúa Nhật. Mãi đến 4 giờ chiều mới tan sinh hoạt. Và ít nhất một tháng một lần, các thầy cô trong ban Việt Ngữ, giáo lý viên, và các huynh trưởng phụ trách các phong trào, đều ngồi lại với nhau để lượng giá các vấn đề. Các thầy cô lúc đầu chống đối rất mạnh, vì như vậy họ sẽ phải ở trường lâu giờ hơn, sẽ không được đi shopping và khi chiều về thi thấm mệt. Họ viện lẽ giáo lý đâu có cần sinh hoạt và họ cũng cần có giờ nghỉ ngơi để hôm sau đi làm.

Lắng nghe những yêu cầu thực tiễn và chính đáng của họ, con bình thản trao đổi với họ. Con mời gọi họ xác định một diện mạo “người” nào cho tương lai: một mẫu người toàn diện, hay một mẫu người dị dạng, có đầu rất to, nhưng tay chân và trái tim rất nhỏ. Từ mục tiêu đó, con cho họ thấy rằng không được đánh giá thấp những sinh hoạt vui chơi kia. Chắc chắn, Thánh Lễ là tối ưu. Giờ Giáo lý là bất khả thế. Nhưng khi các em chơi, các em mới học trên thực tế thế nào là yêu người, thế nào là chân thật, thế nào là tình bạn. Khi gặp những va chạm không cố ý, các em mới học biết xin lỗi cũng như biết tha thứ. Bằng không, các bài giáo lý và giảng lễ vẫn chỉ nằm gọn trong trí óc và không thực tiễn. Giờ chơi như vậy không còn chỉ là giờ xả hơi. Đó chính là giờ tập cầu nguyện, tập sống nhân đức bằng hành động. Cũng chính trong giờ chơi đó, thầy cô hòa mình với những giải trí, trò chơi của em. Họ trở thành không chỉ là một thầy cô trên bục giảng trong lớp, nhưng là người bạn, người chỉ dẫn của thanh thiếu niên trong cuộc đời. Lời nhủ khuyên của họ cho các em trong giờ chơi trở thành lời giáo lý thực hành. Trong giờ chơi đó, tất cả làm thành một gia đình. Thầy cô không chỉ lo cho con cái của mình mà thôi, nhưng cho tất cả, không thiên tư. Tuy nhiên, cũng chính trong giờ đó, thầy cô cũng học biết chính mình; đôi khi vì ham thắng, các thầy cô lại bày cho chúng “ăn gian”, “mánh lới”, “luồn lách” luật chơi, và như thế, rõ ràng họ có thể thấy Lời Chúa và giới răn của Chúa thấm vào cuộc đời mình đến mức độ nào. Khi hiểu được như thế, các thầy cô đã chấp nhận. Họ hiểu rằng để tiếp thu một giá trị, để xây dựng một nhân cách toàn diện, không thể nào không trả giá. Chúng ta đầu tư bao nhiêu, chúng ta gặt hái bấy nhiêu. Sau một thời gian, ai ai cũng nhận thấy các thanh thiếu niên của cộng đoàn lớn lên một cách đặc biệt. Và điều đó đã là phần thưởng khôn sánh cho những mệt nhọc của họ. Dần dần, họ bằng lòng trả giá các hy sinh ấy để được những thanh thiếu niên cho tương lai của cộng đồng.

IV. Như lời kết luận

Xin cho phép tôi dùng bài thơ của Gabriella Mistral để hiểu tại sao ta phải hú còi cấp cứu giáo dục.
Tên của nó là “Hôm Nay”
Chúng ta phạm nhiều sai lầm và lầm lỡ.
Nhưng tội tệ nhất ta phạm là bỏ mặc trẻ em,
Là lãng quên nguồn mạch sự sống.
Nhiều điều chúng ta cần có thể đợi chờ.
Nhưng trẻ em lại không thể.
Ngay giờ này từng thớ xương của em đang được hình thành,
Máu của em đang được tạo nên và
Những giác quan của em đang được phát triển.
Với trẻ em ta không thể trả lời “Ngày Mai.”

Đúng thế, trẻ em có tên là “Hôm Nay” đấy. Và ta hãy nghe: Đừng nói với một người ngày mai anh hãy đến lại và tôi sẽ cho anh, nếu con có thể cho nó hôm nay. Dù chúng ta đang gặp khó khăn đến mấy, chúng ta đừng bao giờ nói với trẻ em “ngày mai” tôi sẽ cho em nền giáo dục chân chính.

Đúng là Thiên Chúa muốn từng người và mọi người hạnh phúc. Hạnh phúc ấy hệ tại ở sự hiệp nhất mật thiết giữa thiên quốc và trần thế. Trong vương quốc Thiên Chúa, những giá trị nhân bản không bị phá hủy, nhưng được thánh hóa và nên hoàn hảo. Ước muốn ấy, Ngài thực hiện ngay trong lịch sử hôm qua và hôm nay, chứ không phải trong tương lai bất định. Đức Giêsu hôm qua, hôm nay và cho đến muôn đời. Thiên Chúa không ban cho nhân loại Con Ngài như một trang hoàng hay như một khách du lịch thăm trái đất. Trái lại, Thiên Chúa định cho Đức Giêsu là Khuôn mẫu và Trưởng tử của chúng ta. Người Con ấy lại hòa hợp nơi chính mình thần tính và nhân tính. Nếu vậy, không thống nhất đời sống, chúng ta có nguy cơ trình bày một hình ảnh méo mó về Thiên Chúa, khiến con người ngày nay chống báng và tẩy chay.

Chính vì thế, chiều hướng huấn giáo của chúng ta phải hòa hợp được chiều kích nhân bản, Chúa Kitô, Giáo Hội và vương quốc. Huấn giáo không còn chỉ trình bày tín lý, cách giáo điều, nhưng phải mang tính cách mục vụ cũng như giáo dục hướng tới Con Người Hoàn Hảo.

Lời kêu xin “Maranatha” của sách Khải huyền, của toàn Giáo Hội xưa và nay, của Giáo Hội Việt Nam có lẽ phải chuyển thành lời cầu xin Chúa Giêsu đến và làm chủ tâm hồn giới trẻ chúng ta. Ngài là NHÀ GIÁO DỤC VÀ LOAN BÁO TIN MỪNG DUY NHẤT MÀ GIỚI TRẺ VIỆT NAM KHAO KHÁT TẬN SÂU THẲM.

________________________________________
[1]X. GS 31. “Trước hết cần phải tổ chức việc giáo dục ngừoi trẻ thuộc bất cứ thành phần nào trong xã hội, làm sao để đào tạo được những người nam và nữ không những tài giỏi về văn hóa mà còn có một tâm hồn cao thượng, bởi vì thời đại chúng ta đang khẩn thiết đòi phải có những người như vậy”; cũng x. Giovanni Mottini, cuộc phỏng vấn của Zenit, “Saving the Africa of the Future” đăng trong Zenit ngày 21.06.2011.
[2]X. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, số 37; cũng xem Đề cương Giáo Hội tại Việt Nam, số 35-37; Tài liệu làm việc, số 26.
[3]Hồng y Cafarra “Education Emergency. Commitment, beauty and the attempt to educate” ngày 6.11, 2007; được P. Chavez trích lại trong diễn từ kết thúc Salesian Family Spirituality Days 2008, “Educating with the Heart of Don Bosco”.
[4]X.Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, số 43;
[5]X. HĐGMVN, Đề cương Giáo Hội tại VN, số 2-6;Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, số 4-9.
[6]Hồng y Cafarra, Education Emergency. Commitment, beauty and the attempt to educate” ngày 6.11, 2007; được P. Chavez trích lại trong diễn từ kết thúc Salesian Family Spirituality Days 2008, “Educating with the Heart of Don Bosco”; cũng x. Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng Thánh lễ ở Olympic Stadium ngày 2011-06-19.
[7]X. LG 8; Đức Gioan Phaolô II, RH 18, 21.
[8]X. GS 1; 31;
[9]X.Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, số 5; Bruno Forte, “What a Theologian-Pope Tells Theology”, cuộc phỏng vấn do Mirko Testa thực hiện, đăng trên Zenit ngày 25.01.2010.
[10]X. Đức Bênêđictô XVI, SS 4; DCE 28; Đề cương Giáo Hội tại Việt Nam, số 29; Tài liệu làm việc, số 17-19;Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, số 3, 4.
[11]X. Đức Gioan Phaolô II, RH 12-17; Bênêđictô XVI, CV 21-33;Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, số 9.
[12]Vigano, “Don Bosco: Iuventutis pater et magister”, Acts, p. 16.
[13]Vigano, ibid., p. 16.
[14]X.Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, số 36.
[15]Vigano, ibid., p. 16.
[16]X. FABC II; Aloysius Pieris, God’s Reign for God’s Poor, Tulana Research Centre, Sri Lanka, 1999.
[17]Vigano, ibid., p. 16-17.
[18]X. Bênêđictô XVI, DCE 18, 29;Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, số 41.
[19]X. GS 35, 29.
[20]P. Chavez, “Educating with the heart of Don Bosco”.
[21]P. Chavez, “Educating with the heart of Don Bosco”.
[22]P. Chavez, Giáo dục đức tin cho thanh thiếu niên; cũng x.Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, số 44.
[23]X. P. Chavez, “Education and Citizenship, Forming the Citizen in a Salesian Way”
[24]X.Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, số 32, 37-38; Đề cương Giáo Hội tại Việt Nam, 25.
[25]P. Chavez, “Education and Citizenship. . .”
[26]P. Chavez, ibid.,
[27]X. Đức Bênêđictô XVI.
[28]Vigano, The New Evangelization, p. 12-13.
[29]P. Chavez, “Education and Citizenship…”
[30]Vigano, Salesian Spirituality for the New Evangelization, p. 12.
[31]FSDB 15.
[32]Cẩm nang giám đốc, chương 6
[33]X. Cẩm nang Giám đốc, chương 5.
[34]P. Chavez, “Educating with the heart of Don Bosco”
[35]P. Chavez, ibid.,
[36]P. Chavez, ibid.,
[37]P. Chavez, ibid.
[38]P. Chavez, ibid.
[39]Vigano, the New Evangelization, p. 7.
[40]Vigano, ibid, p. 9.
[41]Vigano, ibid. p. 9.
[42]Gioan Phaolô II, Oss. Rom. 28-29 Aug. 1989.
[43]Vigano, ibid. p. 8.
[44]GS 43.
[45]Synod 1975; 1980
[46]X. Đức Bênêđictô XVI, DCE 31; Đề cương Giáo Hội tại Việt Nam, số 26; Tài liệu làm việc, số 18.
[47]X. Đức Phaolô VI, EN 19.
[48]Đức Phaolô VI, EN 18; Cũng x. Pontifical Council for Culture, Towards a Pastoral Approach to Cutlure, số 2-4.
[49]Đức Phaolô VI, EN 19; cũng x. Đức Bênêđictô XVI, SS 4.
[50]X. Đức Gioan Phaolô II; Đức Bênêđictô XVI, Bài nói chuyện ở Pontifical Roman Major Seminary tại Chapel Of The Seminary, ngày thứ sáu, 12 tháng Hai, 2010.
[51]Vigano, op. cit., p. 16.
[52]X. GS 19-21.
[53]X. Các Kinh tiền tụng mùa Phục sinh
[54]X. GS 18; Đức Bênêđictô XVI, Diễn từ cho Roman Ecclesial Congress, “May There Be a Growing Commitment to a Renewed Season of Evangelization”, đăng trên Zenit ngày 14.06.2011.
[55]GC23 148.
[56]X. Hướng dẫn tổng quát việc dạy giáo lý, số 142-145.
[57]X. Gioan Phaolô II, RH 8; Đức Bênêđictô XVI, SS 16-23.
[58]X. Đức Phaolô VI, MF 35-38; SC 7.
[59]Đức Gioan XXIII nói rằng ngài học được mọi điều cần thiết từ trên gối của mẹ mình.
[60]Công hội 23 của Tu hội Salêdiêng Don Bosco.

BÀI THUYẾT TRÌNH 2 A : GIÁO DỤC BẰNG PHÚC ÂM HÓA VÀ PHÚC ÂM HÓA BẰNG GIÁO DỤC (09/08/11, 4:48 pm)

Thuyết trình viên
Lm Giuse Nguyễn Văn Am SDB

Kính thưa quí Đức Cha, các Linh mục, tu sĩ và hết thảy mọi người tham dự Đại hội Giáo Lý toàn quốc hôm nay,

Trước hết, xin cho con được nói lên lời tri ân với tất cả mọi người, nhất là với ban tổ chức, đã dành cho con vinh dự này: được tham dự Đại hội Giáo Lý toàn quốc, và còn được vinh dự chia sẻ những nghĩ suy và quan tâm của mình với Đại hội.

Con được kêu gọi để trình bày đề tài: Giáo dục bằng phúc âm hóa và phúc âm hóa bằng giáo dục. Đây là một đề tài vốn sẽ mang đến những trực giác mục vụ có thể canh tân việc huấn giáo của chúng ta, vì mục tiêu tối hậu của huấn giáo chính là được biến đổi nên giống Đức Kitô, con người hoàn hảo. Nhưng con cũng phải nói ngay sự giới hạn của mình. Con không thể đóng được nhiều vai trò. Trong Thân Mình Đức Kitô, mỗi chi thể đều có phận vụ của mình, và không thể làm công việc của chi thể khác. Thiên Chúa đã muốn con trở thành một người con của Don Bosco, và trong đoàn sủng ấy, con được nuôi dưỡng, suy tư, lớn lên và trưởng thành. Chính vì thế dù muốn dù không, suy tư của con một cách tự nhiên và tự phát mặc lấy hướng chiều thiêng liêng của vị Thánh đó trong Giáo Hội. Con xác tín rằng khi càng là một người Salêdiêng chân chính, con lại càng có thể đóng góp phong phú hơn cho Giáo Hội địa phương, bởi vì đoàn sủng, phương pháp mục vụ và sự thánh thiện của Don Bosco thuộc về toàn Giáo Hội. Các dòng tu đóng góp cách chuyên biệt cho Giáo Hội qua chính đoàn sủng của mình. Đó là xác tín của Vatican II. Trong bài suy tư này, con sẽ cố gắng dựa trên nguồn liệu và kinh nghiệm đa dạng. Tuy nhiên, nếu đôi lúc con có qui chiếu đến Don Bosco để minh họa, xin anh chị em cũng hiểu đây không phải là một thứ tô son đánh phấn cho vị Sáng lập của mình. Nhưng thực sự hướng mục vụ-giáo dục-tông đồ của Ngài là thế, như lịch sử Giáo Hội nói lên.

Để khai triển đề tài, con xin tất cả cùng lắng nghe tiếng còi hụ báo động của giáo dục, để chọn được thái độ khởi từ những kẻ thấp nhất. Nơi họ ta lắng nghe được niềm khao khát một nền nhân học toàn diện và thống nhất, với mối liên hệ chặt chẽ đến độ bất khả phân giữa giáo dục và loan báo Tin Mừng: Giáo dục bằng rao giảng Tin Mừng và Rao giảng Tin Mừng bằng giáo dục. Hướng đi này mang lại những hệ quả thiết thực cho một tổng hợp thiêng liêng và mục vụ. Để thấy những suy tư trên không chỉ trên bàn giấy, con xin ghi lại một vài kinh nghiệm huấn giáo của chính mình như một minh họa rất nhạt và giới hạn, dưới mối tương quan giáo dục và rao giảng Tin Mừng. Nhờ đó, con sẽ kết luận về một con người lớn lên chỉ có một trái tim với nhịp đập liên kết của tĩnh mạch và động mạch, khác biệt, không lẫn lộn nhưng lại không phân chia. Nhịp đập của trái tim tin cậy mến nơi người tín hữu đưa ân sủng của Thiên Chúa vào trong thực tại trần thế và đưa những cặn bã của trần thế vào ân sủng để được biến đổi nên hoàn thiện, vì sự sống hạnh phúc của người con Thiên Chúa.

I. Hồi còi báo động giáo dục đức tin để tìm hướng mục vụ

1. Nỗi lo có thực

Âu lo trước tiền đồ của cha ông, Đại hội Dân Chúa vừa qua rõ ràng gióng lên một hồi còi báo động giáo dục của đất nước. Chạm tới tận sâu thẳm, những môn đệ của Đức Giêsu tại Việt Nam muốn đặt giáo dục thành một trong những ưu tiên trong kế hoạch mục vụ của mình trong những năm tới. Tiêu chuẩn “tiên học lễ hậu học văn” của các bậc cha anh đang đối diện với thực tại “bạo lực học đường”, “những bệnh thành tích giáo dục”, “những lợi dụng uy danh nhà giáo”, v.v. Truyền thống đất Việt luôn quan tâm đến giáo dục, đào tạo những nhân hiền cho dân tộc, vì biết rõ vận mạng quê hương tùy ở đây, tùy vào “trăm năm trồng người.” Thế nhưng, ngày nay chúng ta đang nhận rõ sự xuống cấp của giáo dục, với nhiều tiếng gióng lớn. Hẳn nhiên chúng ta vẫn quan tâm đến giáo dục, nên mới gióng tiếng. Vấn đề ở đây chính là nền giáo dục đang mất phương hướng, hay nói đúng hơn, đang đặt sai các bậc thang giá trị.[1] Đó là điều được phản ánh trong Đại hội Dân Chúa vừa qua.[2] Bậc thang giá trị phải dẫn dắt giáo dục là tiên vàn giáo dục thành người, rồi thành công dân, sau cùng mới thành chuyên viên. Thế mà giáo dục hiện nay thường được hiểu đáp ứng nhu cầu sản xuất. Báo động giáo dục là đấy.

Nhưng còn nữa:
“Thế hệ trẻ em hỏi xem họ có thể tiến vào một vũ trụ chân thiện mỹ hay không, đang khi đó thế hệ phụ huynh trở nên xa lạ trước một vũ trụ ý nghĩa. . . . Báo động giáo dục là sự ngắt quãng đối với câu chuyện mà một thế hệ kể cho thế hệ khác: phía thế hệ phụ huynh nó thì mất trí nhớ còn thế hệ con cái thiếu khả năng ngay cả nói rõ vấn nạn nảy sinh trong tâm hồn chúng. Cha mẹ không cống hiến truyền thống nào, bởi vì họ mất trí nhớ về nó, và họ trở thành chứng nhân cho hư vô và chỉ chuyển giao luật lệ. Trẻ em lại thấy mình lang thang trong một sa mạc không có lối đi, không còn biết họ từ đâu đến và đang đi đâu.”[3]

Điều vừa được nói có lẽ phản ánh đúng tâm trạng chúng ta dẫu chúng ta không diễn đạt được cách bóng bảy như thế. Chúng ta nhìn nhận rõ những cơ cấu truyền thống (như gia đình, trường học, giáo xứ) với những sinh hoạt truyền thống (kinh tối gia đình, các kinh quen thuộc, ngắm thương khó, v.v.) đang ngày một lạc lõng hơn với thế hệ trẻ.[4] Chúng không đến với chúng ta và nhiều người đến chỉ để cho xong một bó buộc nào đó. Cùng lúc đó, chúng ta đang loay hoay chưa tìm được những cơ cấu mới để chuyển giao giá trị chúng ta thâm tín. Thế hệ trẻ có những cấu trúc sinh hoạt mà chúng ta chưa thể vào được vì chóng mặt (chẳng hạn, chúng ta xem các trẻ bấm các phím chơi game hay phím điện thoại di động mà chóng mặt). Chính Đại hội Dân Chúa cũng nhìn thấy trào lưu duy tục, tiêu thụ và hưởng lạc đang tàn phá nhiều tâm hồn thanh thiếu niên, tạo cho chúng những thế giới ảo của anh hùng, của tình yêu.[5] Rõ ràng, “bị nhổ rễ khỏi truyền thống vĩ đại vốn cho chúng sự sống, giới trẻ tìm được một vị khách gây phiền muộn nhất đến sống với mình: chủ thuyết hư vô. Chúng ta đừng dối mình: đây là tình trạng cho nhiều người trẻ hôm nay.”[6] Thách đố này đòi buộc Giáo Hội, nhất là các giáo lý viên được hiểu là những nhà giáo dục đức tin, tìm ra lời đáp trả giáo dục có thể nảy sinh một nền văn hóa của chân thiện mỹ.

Hồi còi báo động giáo dục khiến Giáo Hội tại Việt Nam phải nhìn về chính mình ngay và chọn thái độ: cứ như cũ, vì giáo lý là không đổi thay, hay an phận, mặc kệ thế hệ trẻ, hay cùng nhau tìm phương cách mới, vì Thiên Chúa luôn luôn lớn hơn và con người luôn đổi mới? Thật vậy, nếu Giáo Hội vẫn là nhà giáo dục của nhân loại, thì Giáo Hội tại Việt Nam buộc phải tìm cách thực thi sứ vụ ấy, vào lúc thuận cũng như lúc nghịch. Nếu Giáo Hội vẫn nắm giữ những truyền thống lên tới thời Tông đồ thì Giáo Hội tại Việt Nam phải kiếm tìm được một lối đi mới để rao giảng Tin Mừng, để phúc âm hóa con người và các nền văn hóa của họ. Nếu Giáo Hội là thầy dạy chân lý, cột trụ nâng đỡ thuần phong mỹ tục, thì Giáo Hội tại Việt Nam phải để cho mầu nhiệm nhập thể của Ngôi Lời khởi hứng mình trong phương hướng mục vụ.[7] Có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử Giáo Hội tại Việt Nam lại nhấn mạnh đến giáo dục đức tin đến thế. Giáo Hội này đang kêu gọi các gia đình, các giáo lý viên, các mục tử hiến mình cho giáo dục dẫn tới trưởng thành đức tin làm lẽ sống cho mình, làm ưu tiên số một. Bởi lẽ đó là cách Giáo Hội sẽ đóng góp vào tiền đồ của quê hương cách ý nghĩa nhất.

2. Khởi đi từ những kẻ thấp nhất

Đứng trước một thế giới giầu có về mọi mặt, nhưng lại đang phân hóa thành Nam-Bắc với khối khổng lồ của những kẻ nghèo khổ thậm chí tới mức không xứng với nhân phẩm sánh vai với số rất ít người bơi trong bể dư dật, Vatican II cho thấy GH phải khởi đi từ những ưu sầu, vui tươi, kỳ vọng, phiền sầu và hy vọng của những người thấp kém nhất;[8] lối đi này không phản ánh gì khác hơn lối đi của Thiên Chúa: Thiên Chúa đã trở nên một người trong những kẻ hèn kém, bị bỏ rơi nhất và hơn nữa, đã đồng nhất chính mình với họ. Những kẻ thấp hèn nhất này không chỉ thuộc diện vật chất. Họ thật đa dạng, có thể ở diện tri thức, luân lý, tâm linh, vì “sự ngu dốt tôn giáo đang gia tăng nơi những thế hệ mới”, thực hành tôn giáo chân chính ngày càng giảm; chính giữa các thanh thiếu niên mang danh Kitô hữu, vị Thiên Chúa Kitô hữu hình như đã mất vị trí trung tâm cho Thiên Chúa của đa phương tiện vốn tôn thần thể thao, âm nhạc, tài tử.[9]

Chọn lựa này hoàn toàn là mục vụ.[10] Dầu vậy, thật đúng, “những kẻ nhỏ bé nhất là dấu chỉ sâu sắc của cuộc khủng hoảng ngày nay,” vì lẽ xét cho cùng nghèo khổ của thế giới hôm nay đã chuyển thành vấn đề luân lý.[11] Nhãn quan mục vụ, nghĩa là xuất phát từ đức ái mục tử, khiến các nhà giáo dục đức tin chúng ta “hủy bỏ những ngẫu tượng chúng ta dựng lên: tiền tài, quyền bính, tiêu thụ, phung phí và khuynh hướng sống vượt quá những phương tiện và khả thể của mình. Rồi chúng ta sẽ tái khám phá giá trị cố hữu trong thiện ích chung, vì đất nước sẽ tăng trưởng trừ phi tất cả chúng ta cùng tăng trưởng.”[12]

Đường nét tiếp cận này “kích thích một sự thay đổi não trạng trong cách thức chúng ta tri nhận những điểm chiến lược của việc rao giảng Tin Mừng.”[13] Chúng ta đã quá quen khởi từ tư cách người ban phát. Chỉ cần cho, thế là đủ rồi. Cho luôn luôn là tốt. Không cần hay ít để ý xem tặng phẩm ta mang lại cho có thích hợp, có đáp ứng nhu cầu, có được mong chờ, cung cách ta trao ra sao.[14] Không lượng giá những góc cạnh trên khiến có thể xẩy ra là những lối mục vụ của chúng ta trở thành không hiệu quả, gây chán ngán tẻ nhạt và bị coi thường. Đã đến lúc, “khởi từ những kẻ thấp nhất cho chúng ta hiểu tốt đẹp hơn những vấn đề của mọi người.”[15]

Hướng đi từ những kẻ thấp hèn nhất luôn phải trả giá. Ở giữa những người đó, chúng ta chợt bừng tỉnh, thoát khỏi căn bệnh cố hữu của những vị ngôn sứ buồn bã thất vọng, tưởng chừng như Thiên Chúa chỉ làm nên những tai ương. Không phải thế. Chúng ta dần dần học ra bài học khó nuốt trôi: Thiên Chúa canh tân bộ mặt trái đất nhờ những người nghèo.[16]

“Nếu GH tập trung vào những kẻ thấp hèn nhất thì không chỉ bởi vì họ bị bỏ rơi, thiếu thốn, không chỉ bởi vì họ nghèo và ở bền lề xã hội, không chỉ bởi vì họ ở cuối của đường nét và nạn nhân của những cơ cấu không thích đáng, nhưng còn bởi vì GH tri nhận ở giá trị thật của họ những phẩm tính giầu có của cõi lòng vốn hứa hẹn niềm hy vọng mới cho tương lai.”[17]

Rõ ràng, chúng ta học xác tín rằng không có một tạo vật nào hoàn toàn là xấu xa dơ bẩn. Nếu thế, Thiên Chúa đã chẳng bao giờ sáng tạo nó.

II. Một nhân học toàn diện

Khởi từ những kẻ thấp kém nhất, chúng ta bắt gặp sự thật rằng trước khi họ cần cơm bánh, họ cần được kính trọng và yêu thương;[18] Thực thế, giới trẻ cần sân chơi để triển nở tình bạn. Họ cần được kiến thức để biết chân lý, họ cần được học hành tử tế. Họ cần tình yêu gia đình.Trên hết, họ cần Thiên Chúa để làm cho tự do của họ trở nên đích thực và tròn đầy. Rõ ràng, giới trẻ cần được đóng góp phần mình để xây dựng chứ không phải để phá hoại.[19] Nếu Giáo Hội không thể trao ban điều mà các ý thức hệ không thể cho (sự kính trọng nhân vị, tình yêu và lòng thương mến) thì Giáo Hội chẳng khác nào một cơ chế lạnh lùng, nếu không nói là bóc lột. Nói theo góc cạnh giáo dục, khát vọng trên có thể diễn đạt như sau: Ở tận nền tảng của tất cả suy tư chúng ta, có một hoài nghi xem chúng ta đạt được phẩm chất giáo dục là kiến tạo những con người mới theo đòi hỏi của văn hóa mới hay không. “Chúng ta phải ưu tiên hướng đến đào tạo những người tự do chân thật, có óc phê phán, cam kết cho xã hội, có thể phục vụ anh chị em mình, tìm thấy động lực của mình từ Tin Mừng, nơi đức tin của họ vào Chúa Kitô, Con Người mới.”[20] Hay “giáo dục sẽ thường hằng hóa hệ thống cạnh tranh cũ kỹ hay sẽ mở ra những con lộ đi tới tham gia, chia sẻ trách nhiệm, tình liên đới và công bằng xã hội?”[21] Đấy không phải là hướng đi của giáo dục bằng rao giảng Tin Mừng và rao giảng Tin Mừng bằng giáo dục hay sao?

Soi sáng từ nhân học toàn diện, Giáo Hội và cách riêng những nhà giáo dục đức tin phải đặt lên hàng đầu thiện ích và hạnh phúc của những con người, chứ không phải vận hành một cơ cấu hay nhồi nhét một số kiến thức. Mà điều ấy chẳng thể xẩy ra được khi chúng ta chú ý rất ít hoặc chẳng mảy may đặt thành vấn đề:
“những khó khăn và đau khổ mà thanh thiếu niên phải đối diện trong việc hình thành nhân cách của chúng […] Đời sống của thanh thiếu niên cùng một lúc là khởi điểm bó buộc cho một hành trình đức tin, là điểm qui chiếu liên tục trong việc phát triển của nó, và là mục tiêu của chính hành trình, một khi nó được biến đổi và được đặt trên con đường tới sự sung mãn trong Đức Kitô Giêsu. Cũng thế, việc loan báo Đức Kitô, được canh tân liên tục, là khía cạnh căn bản của toàn hành trình; nó không phải là một cái gì xa lạ hay chỉ tiếp giáp với kinh nghiệm của tuổi trẻ. Trong kinh nghiệm đó nó trở thành con đường, sự thật và sự sống viên mãn.”[22]

Đoạn văn trích dẫn khiến chúng ta giật mình. Chúng ta rất dễ quên: thanh thiếu niên chưa có một nhân cách hoàn thành. Chúng đang hình thành nhân cách. Vậy mà nhiều khi chúng ta đòi hỏi chúng phải là những người trưởng thành, có nhân cách tuyệt vời và chững chạc. Đồng thời, rất nhiều lần chúng ta đến với lớp giáo lý hay lớp học với những mớ kiến thức tín điều đã có sẵn từ bao năm (tôi đã dạy giáo lý cả năm năm rồi, đám thanh thiếu niên này có gì khác đâu) mà chẳng cần hỏi hay áy náy “các thiếu niên của tôi đang thao thức gì”. Chúng ta thường xa lạ với thế giới của tuổi trẻ; không phải sao, chúng ta thường khoanh tay đứng nhìn chúng từ đàng xa hơn là đến gần, chơi, để được chúng chấp nhận và ngồi xuống lắng nghe chúng? Chúng ta muốn nói cho chúng điều phải làm trong những nỗi buồn, gian khổ, hay niềm vui của chúng. Chúng ta đóng vai ông thầy hơn là những người bạn, hay đúng hơn, những người bạn-ông thầy của chúng. Một thầy cô hòa mình làm bạn với trẻ trong giờ chơi, chỉ dạy chúng phải chơi ngay thật, không ăn lận vì háo thắng thì đang là người bạn dạy chúng bài giáo lý sống. (Chúng ta sẽ trở lại điều này). Và như thế, khi trình bày giáo lý, chúng ta dễ dàng nghĩ rằng Đức Kitô đã xong rồi, một lần cho tất cả, không cần phải liên kết với những vấn nạn và ưu tư của con người hôm nay. Con người thời nào mà chẳng giống nhau, mà Đức Kitô lại là Đấng cứu chuộc con người.

Suy nghĩ như thế vô tình chúng ta hành xử như đã đạt đích hơn là đang đi một hành trình, đang lữ hành. Chúng ta xác tín Thiên Chúa cũng là Thiên Chúa của hôm nay và lịch sử và xã hội ngày nay không giống với bất kỳ lịch sử và xã hội nào. Điều ấy có nghĩa rằng không bao giờ có một giới trẻ chung chung. Chỉ có giới trẻ ở đây và lúc này. Chỉ có giới trẻ của Việt Nam hôm nay, tại Thủ đô, hay tại Thành phố Hồ Chí Minh, hay tại Lạng sơn, giới trẻ của xã hội tiêu thụ tân tiến, hay giới trẻ của thế kỷ 19 mà thôi. Cũng thế, chẳng có một tương lai của Đức Kitô đã xong hoặc làm sẵn. Và hệ quả là khởi sự lại với Đức Kitô không chỉ có nghĩa là trở về với Đức Kitô trong Tin Mừng mà thôi, nhưng còn là trở về với những người bạn hôm nay của Ngài. Như thế, trở về với các em trong lớp tôi phụ trách thực sự quả là cần thiết khi khởi đầu tiến trình giáo dục đức tin. Rõ ràng, hai cực thanh thiếu niên và Đức Kitô trong ánh sáng trên mời gọi giáo lý viên chúng ta hoán cải, được Tin Mừng hóa đang khi loan báo Tin Mừng; nếu nói theo khía cạnh giáo dục, họ hãy để mình được giáo dục đang khi giáo dục (nếu việc “là” người luôn là năng động và luôn lên đường, theo Gabriel Marcel).[23]

Chúng ta nhấn mạnh đến một con người toàn diện,[24] vì đó chính là một khóe nhìn rất thực về con người. Rất có thể một ai đó trong chúng ta vẫn chấp nhận nhân chi sơ tính bổn thiện. Nhưng ngay cả như thế, họ cũng đồng ý rằng một người lớn lên phải học từng chút một, học ăn, học nói, học gói, học viết, học đọc, v.v.. Ai nấy đều phải học để làm người. Nghĩa là học để hòa hợp năng lực lý trí, ý chí, tình cảm theo một bậc thang giá trị để thành một người có trách nhiệm, biết sử dụng tự do, khao khát chân lý, sống công bằng và yêu thương, tha thứ, v.v. Kinh nghiệm đã cho chúng ta hay: có những người rất giỏi và thông minh, nhưng sự giỏi giang và thông minh đó, họ sử dụng để hại người. Chúng ta sợ sự thông minh đó. Khi sự thông minh và cấp độ luân lý không tương xứng thì tạo nên nhiều kinh hoàng hơn là bình an và hạnh phúc cho mọi người. Tất cả điều đó cho chúng ta một sự thật này: để tự nhiên, sống ích kỷ, ghen tuông, cáu kỉnh, hận thù, bừa phứa thì dễ dàng hơn sống quảng đại, nhân hậu, hiền lành, tha thứ và có kỷ luật. Hãy cho tôi dùng vài sự kiện như một minh họa chân lý trên. Những nhà vệ sinh công cộng, khu nhà thờ đầy rác do các tín hữu. Tất cả nói lên rằng: một cách tự nhiên, xả rác và bỏ mặc không thu dọn những gì bẩn thỉu của mình thì dễ hơn là bỏ rác vào đúng chỗ và dọn dẹp sạch sẽ đồ của mình để kính trọng người đến sau.

Khóe nhìn về con người toàn diện sẽ giúp tôn trọng được bậc thang giá trị trong giáo dục. Điều chúng ta đang chứng kiến trong đất nước là sự đảo lộn các giá trị. Chuẩn bị cho học sinh nghề nghiệp bước vào đời không thể là xấu. Thế nhưng thật sai lầm khi coi đấy là mục tiêu cao nhất. Lối nhìn đó đã làm sai lệch cách nguy hại, vì rõ ràng đặt giá trị con người hệ tại ở việc “có” nhiều hơn là ở việc “là” người ngày một hơn.

“Để đạt được mục tiêu là đào tạo nhân vị toàn diện đối với những nguyên lý dân chủ là cùng chung sống, những quyền lợi và những tự do cơ bản, giáo dục sẽ phải bao gồm đào luyện và thông tin, kỹ thuật và giá trị, theo một cách thức là trước tiên đào tạo những con người, rồi các công dân, rồi các chuyên nghiệp. Ba mục tiêu này là linh thánh cho giáo dục: con người, công dân và nghề nghiệp.”[25]

Những lời đó soi sáng cho ta biết lỗ hổng nào chúng ta đang gặp khi nói về thanh thiếu niên chúng ta hôm nay. Thách đố đến liền khi các nhà giáo dục, thầy cô và chính trị gia “không chia sẻ cùng một nhân học xét trên phương diện văn hóa. Làm sao chúng ta giúp thanh thiếu niên nên những người hạnh phúc khi không có lý tưởng và mục tiêu rõ ràng cho nhân loại, mà trong ánh sáng của nó chúng ta mới có thể phân định cái gì là đúng là sai, là chính trực và bất chính, cái gì đem lại phẩm giá và cái gì hạ thấp phẩm giá, nói tắt, cái gì nhân bản và cái gì phi nhân.”[26] Làm sao chúng ta cống hiến nền giáo dục lành mạnh khi chúng ta không biết rõ mục tiêu.[27]

Thế giới và lịch sử đã chứng kiến nhiều quan điểm về con người. Có hình ảnh con người thực dụng (William James), khoa học (David Hume), xã hội (Auguste Comte), chính trị đảng phái (Karl Marx), ích kỷ, quyền lực (Federich Nietzsche). Giáo Hội với mặc khải của Thiên Chúa qua khuôn mẫu Đức Kitô có một khoa nhân học vốn công nhận “sự tiến bộ khoa học và kỹ thuật trong những năm gần đây thật lớn lao; âm vang của chúng trên nhân loại cũng lớn lao, nhưng không bao giờ mang lại câu giải đáp đầy đủ và thỏa mãn cho nhiều vấn nạn của con người. Chỉ mình Đức Kitô mới mạc khải cho con người thực sự con người là gì mà thôi.”[28] Theo khoa nhân học này, dầu bị phơi trần cho sự xấu do nguyên tội, con người có một ơn gọi siêu nhiên. Họ vẫn mang hình ảnh Thiên Chúa tận thâm sâu và hình ảnh ấy đã được khôi phục một cách tuyệt diệu hơn nữa nhờ chính Đấng là Hình Ảnh duy nhất chân thực của Chúa Cha. Con người là tội nhân, nhưng lại là tội nhân được tha thứ, được thánh hóa, được tẩy sạch, được đưa vào lòng của Chúa Cha.

Khoa nhân học toàn diện thống nhất

Theo ánh sáng này, “Nhân loại, mọi con người, có một nền tảng linh thánh mà họ phải khám phá, để đi xa hơn chính mình và nó dẫn xa hơn bản ngã: Thiên Chúa.”[29] Pascal nói rõ “con người vượt trên chính mình” (L’uomo supera infinitamente l’uomo) Đức tin nhìn con người rất mới, ngay cả giữa tội lỗi nữa, vì
“đức tin không phải là một cái gì rời rạc hoặc chỉ liên kết chặt chẽ với cái gì là nhân bản, lịch sử, trần thế (tạm bợ) hoặc thế tục, song đúng hơn là sinh lực bên trong những thứ này; nó cho chúng sự soi sáng và ý nghĩa mới và cũng siêu việt chúng, trải rộng chân trời của chúng ta vượt qua những biên giới của lịch sử.”[30]

Chỗ khác,
“Chúng ta không được tổ chức công cuộc của mình trên nền tảng là sự chia tách giữa điều linh thánh và trần tục. Nhưng đang khi chấp nhận sự kiện là điều linh thánh và trần tục khác biệt nhau, chúng ta cố gắng cho thấy tại sao tất cả công việc đang làm thì đều liên kết và hiệp nhất trong Đức Kitô.”[31]

Con người tốt lành, trưởng thành không phải chỉ là con người có các nhân đức. Đúng hơn, các nhân đức của họ được thống nhất, hòa hợp với nhau quanh một trục chính. Đức tin không để các nhân đức đứng cạnh nhau như trong bản liệt kê các nhân đức trong thần học. Không ít lần, chúng ta trình bày, quan niệm và tập tành các nhân đức tiếp liền theo nhau. Đời sống như thể chất đống các nhân đức. Quả vậy,
“đời sống thiêng liêng không hệ tại ở một bảng liệt kê những nhân đức rời rạc nhau, nhưng đúng hơn hệ tại ở cấu trúc cân xứng hài hòa và hòa điệu với nhau toàn vẹn, trong một sự liên kết hỗ tương và với một vài sự nhấn mạnh vốn tạo thành một diện mạo đặc biệt. Những nhân đức nơi một người đúng hơn là những giá trị và thái độ cốt yếu làm đặc trưng sắc thái một phong cách sống biệt loại nào đó.”[32]

Vậy ra, giáo dục đích thực sẽ là giáo dục đức tin, tức là giáo dục tới đức tin và trong đức tin, mà cốt yếu đưa tới sự thống nhất đời sống. Chắc chắn, các nhà giáo dục sẽ cống hiến cho trẻ cơm ăn áo mặc phần xác, huấn nghệ và cả lương thực nuôi lý trí. Nhưng trên hết, chúng ta giúp rộng mở trước chân lý và kiến tạo sự tự do của chính mình, giúp chúng thưởng nếm những giá trị chân thật sẽ giúp đem chúng đến sự thánh thiện Kitô giáo.[33] Sự thống nhất đời sống này được hiểu là sự thay đổi tận bên trong mà các ngôn sứ nói tới: Thiên Chúa và chỉ một mình Ngài là chủ của tâm hồn mà thôi.

Giáo dục bằng Loan báo Tin Mừng

Hẳn nhiên, giáo dục và loan báo Tin Mừng là hai hoạt động khác nhau. Giáo dục thuộc diện văn hóa, rao giảng Tin Mừng thuộc diện đức tin. Thế nhưng, coi chúng độc lập, hay tệ hơn, tách biệt là một chuyện khác. Chúng ta đang chứng kiến khuynh hướng cắt nghĩa giáo dục thuần túy dưới diện duy tục. Nó giản lược nhà giáo dục thành thuần túy người cho kiến thức mà thôi. Nhưng sai hẳn. Giáo dục liên quan đến tiến trình nhân vị hóa, “qui chiếu đến tiến trình hấp thụ những giá trị nhân bản phức hợp đang tiến hóa, với mục đích biệt loại của chúng và tính hợp pháp nội khởi.”[34] Nó không liên quan nhiều đến
“việc áp đặt những nguyên tắc cho bằng làm cho tự do ngày một trách nhiệm hơn, liên hệ với lương tâm, phẩm chất chân chính của tình yêu và những chiều kích xã hội… nó có điều gì đó chung với tình cha tình mẹ như thể chia sẻ tiến trình khai sinh nhân bản đối với những giá trị nền tảng như lương tâm, chân lý, tình yêu, công việc, công bằng, tình liên đới, phẩm giá sự sống, công ích, quyền lợi cá nhân. Vì lẽ này nó quan tâm tránh bất kỳ cái gì hạ giá và lệch lạc: ngẫu tượng, bạo lực, ích kỷ, v.v. Mục đích của nó là mang đến sự tăng trưởng của người trẻ từ bên trong, hầu họ trở thành một người lớn có trách nhiệm và cư xử như một người công dân chính trực.”[35]

Như thế, ta thấy không thể cổ xúy một sự tách biệt giữa hai thực tại trên được. Đúng hơn, giáo dục phải lấy khởi hứng từ chính khởi đầu của Tin Mừng và loan báo Tin Mừng đòi buộc ngay từ đầu được thích ứng vào những hoàn cảnh thay đổi của đứa trẻ, thiếu niên, thanh niên. Cách chúng ta loan báo Tin Mừng hướng tới đào luyện những người trưởng thành theo mọi nghĩa của hạn từ. Nền giáo dục của chúng ta nhằm rộng mở trước Thiên Chúa và định mệnh đời đời của con người.”[36] Nền giáo dục như thế phải để ý một vài yếu tố:
“nhân vị là ưu tiên đối với những quan tâm thể chế hay ý thức hệ; chăm sóc đến khung cảnh mà phải phong phú trong những giá trị nhân bản và kitô hữu; phẩm chất và tính kiên định Tin Mừng của lời đề nghị văn hóa được trình bày trong các hoạt động và chương trình; tìm thiện ích chung, cam kết đối với những kẻ thiếu thốn nhất; vấn nạn về ý nghĩa đời sống, cảm thức siêu việt và rộng mở cho Thiên Chúa… Là nhà giáo dục Kitô hữu là người đảm trách công việc giáo dục coi nó như cộng tác với Thiên Chúa trong sự tăng trưởng của nhân vị.”[37]

Loan báo Tin Mừng bằng giáo dục

Loan báo Tin Mừng không bao giờ bị giản lược vào huấn giáo hay phụng vụ mà thôi, nhưng tìm được chỗ của mình trong tất cả những hoàn cảnh sư phạm/văn hóa của giới trẻ. Chúng ta đang nói về đức ái phúc âm được làm thành cụ thể… trong việc cổ xúy và giải phóng người trẻ bị bỏ rơi và để mặc chính mình.

“Loan báo Tin Mừng bằng giáo dục” có nghĩa là biết làm thế nào để cống hiến Tin tuyệt hảo (con người Đức Giêsu) bằng cách thích ứng nó và kính trọng những hoàn cảnh tiến hóa của một người. Người trẻ tìm hạnh phúc, niềm vui sống, quảng đại làm những hy sinh để đạt được điều này, nếu chúng ta tỏ cho chúng một con đường thuyết phục và nếu chúng ta dâng mình như những người bạn có uy tín trên đường. Chúng ta phải là nhà giáo dục và loan báo Tin Mừng. Là người loan báo Tin Mừng chúng ta biết và tìm ra mục tiêu: đem người trẻ tới với Đức Kitô; như nhà giáo dục, chúng ta phải biết làm thế nào bắt đầu từ những hoàn cảnh cụ thể của thanh thiếu niên và thành công trong việc tìm ra phương pháp thích hợp để đồng hành với họ trong tiến trình trở nên trưởng thành. Nếu như mục tử đối với chúng ta không thừa nhận mục tiêu thật là xấu hổ, thì như nhà giáo dục, cũng sẽ xấu hổ nếu chúng ta không thể tìm phương pháp thích hợp để thúc đẩy họ khởi sự trên hành trình và để đồng hành với họ cách khả tín.[38]

III. Những Hệ Quả

1. Những biên cương mới kéo theo những viễn cảnh mới

Không ai nghi ngờ xã hội ngày nay đổi thay phức tạp. Biên cương nghèo đói trải ra xa hơn nhiều. Ngày nay đang nói tới một thứ sa mạc hóa xã hội nhân loại. Quả là từ một xã hội tĩnh sang một xã hội động. Động như thế nào? Xã hội hôm nay “đề cao phẩm giá con người, quyền sống bất khả xâm phạm, tự do tôn giáo, gia đình ở đó bổn phận với xã hội bắt đầu; tình liên đới ở những bình diện khác nhau; sự cam kết chính trị vì một lối sống xã hội dân chủ; những vấn đề xã hội và kinh tế phức tạp; cuối cùng như tổng hợp của tất cả những cái khác, văn hóa (hay những nền văn hóa.)”[39] Cùng với nó, những viễn cảnh mới đang lộ rõ: tiến trình xã hội hóa, giải phóng, trần tục hóa, thăng tiến phụ nữ, Hồi giáo cực đoan, những đòi hỏi những mô hình mới song lệch lạc về gia đình, hôn nhân, v.v. “Các ý thức hệ tuyên bố cần phải thay đổi ngay, kể cả với giá của những phương thế phi nhân và tàn bạo.”[40] Chính con người hoạch định và thực hiện lịch sử. Tương lai liên kết với vị trí trung tâm dành cho thực tiễn, thực hành. Đó là “cách nhìn mới vào những trạng huống và quyết định những ưu tiên, đưa ra những quyết định và giải đáp độc đáo, dẫn tới sự giải phóng xã hội và cá nhân.”[41] Con người muốn mở ra sự chiến thắng của chủ thuyết trần tục (secularism). Viễn cảnh mới đang mở ra cùng với những biên cương mới của sự nghèo túng nhân loại không chỉ là chủ thuyết vô thần, nhưng là vô thần thực tiễn. Tức là con người sống như thể không có Thiên Chúa, không có Ý Nghĩa, không có Chân Lý, Sự Thiện. Mà khi không có Thiên Chúa, thì con người sẽ làm mình thành Thiên Chúa (Dostoevsky). Vậy, đó không là ngẫu tượng sao? Ngẫu tượng không phải là giải thích rằng bất kỳ yếu tố riêng rẽ nào của đời sống con người là tự lập (autonomous) với lề luật Thiên Chúa sao?[42]

2. Những nhấn mạnh mới của tổng hợp đức tin – thiêng liêng – mục vụ

Trước hiện trạng này, Giáo Hội với Vatican II kiên quyết hướng tới con người. “Con người là con đường của Giáo Hội.” Bi quan và lo sợ, có thể là thế, nếu chúng ta thiếu chuẩn bị. Nhưng Vatican II nói cho ta không được quên rằng “các tín hữu đang sống trong một thế giới phát triển không ngừng và chiều kích thế tục của Giáo Hội gắn liền với thân phận lữ hành của mình trong thế giới. Đàng khác giới trẻ phải được đào luyện trong khung cảnh lịch sử của chúng và có thể làm chứng cho ơn gọi Kitô hữu của mình trong những bổn phận nảy sinh từ tính chất trần thế của chúng.”[43] Như vậy, hiểm nguy lớn nhất cho mọi tín hữu là sự chia tách giữa đức tin và đời sống.

Tầm nhìn này cho ta biết phải canh tân huấn giáo ra sao. Với thời gian, khía cạnh nhiệm huấn khi các giáo phụ dạy giáo lý dường như trở nên nhạt dần để thay bằng góc cạnh tri thức. Nếu cần chúng ta đốt giai đoạn để trình bày cho xong các tín điều. Ta có thể thấy điều ấy trong nhiều huấn giáo dự tòng. Chúng ta trình bày giáo lý dưới góc cạnh suy lý hơn là một tri thức sống, kết hiệp và dẫn đến cầu nguyện. Vô tình, đức tin biến thành một trang hoàng đánh bóng cho đời sống con người. Khía cạnh biến đổi, hoán cải ít được để ý tới hơn khía cạnh tòng đạo. Nhưng trong bối cảnh xã hội hiện đại, hài hòa và thống nhất giữa đức tin và lý trí, khát vọng về Thiên Chúa và khát vọng nhân bản đích thực, giữa khoa học kỹ thuật và luân lý chân thật mới mang đến câu trả lời mà con người hôm nay cần. “Mỗi Kitô hữu hãy theo gương Đức Kitô Đấng lao động như một người thợ; họ hãy hãnh diện về cơ hội để thực thi hoạt động trần thế theo một cách thức đến nỗi hòa hợp những sự nghiệp nhân bản, gia đình, nghề nghiệp, khoa học và kỹ thuật với những giá trị tôn giáo, dưới sự hướng dẫn tối cao của chúng mọi sự được sắp đặt cho vinh quang Thiên Chúa.”[44] Đó là chương trình Thiên Chúa muốn hiện thực cho con người.

Vatican II đã cho thấy ơn gọi làm người đích thực và sung mãn là ơn gọi được trở thành con cái Thiên Chúa, đầy tràn Thần khí và được Đức Giêsu phục sinh chiếu soi. Và ngược lại. Đức Giêsu Kitô không là con người hoàn hảo, là Đấng nối kết tuyệt vời nơi chính bản thân mình điều thuộc về con người và điều thuộc về Thiên Chúa sao? “Ngài đã yêu bằng trái tim con người, suy nghĩ bằng khối óc con người, và lao động với đôi tay con người.” Bằng cách đó, Giáo Hội hôm nay tìm được một trực giác thật phong phú: chiều kích phát triển nhân bản trở thành một cấu tố bất khả phân của việc rao giảng Tin Mừng.[45] Đức Gioan Phaolô II đã tóm tắt điều này bằng một lối nói đã trở thành cổ điển: “Con người là con đường mà Giáo Hội phải đi.”

Theo ánh sáng này, sứ vụ rao giảng Tin Mừng không chỉ đóng khung ở việc cải đạo hay trồng Giáo Hội mà thôi.[46] Nó không hệ ở bình diện địa dư, hoặc ngay cả những con số đông đảo hơn.[47]

“Rao giảng Tin Mừng có nghĩa là mang Tin Mừng vào trong tất cả các giai tầng của nhân loại, và qua ảnh hưởng của nó biến đổi nhân loại từ bên trong và làm nó nên mới […] Nhưng không có nhân loại mới nếu trước tiên không có những con người mới được canh tân bởi phép Thánh Tẩy và bằng những cuộc đời, sống theo Tin Mừng.”[48]

Đoạn văn trên cho ta chìa khóa: Tin Mừng đi vào mọi tầng lớp của nhân loại. Nó không hệ ở việc đem lại nhiều thông tin hay kiến thức. Tin Mừng làm đảo lộn “những tiêu chuẩn phán đoán, những giá trị quyết định, những điểm quan tâm, những đường nét tư duy, những nguồn cảm hứng và những khuôn mẫu đời sống của nhân loại, vốn trái nghịch với Lời Chúa và kế hoạch cứu rỗi.”[49] Như thế, thật đúng khi nói rằng rao giảng Tin Mừng là cách giáo dục mới, và ngược lại, giáo dục tìm được ý nghĩa phong phú nhất của mình dưới diện phúc âm hóa.[50]

Suy tư trên làm cho thần học về tạo dựng phải có những dấu nhấn mới ở đó chiều kích nhân học và đặc tính trần thế như tiến bộ khoa học, quyền lợi nhân vị, giá trị của tự do, giá trị của gia đình, công ích, v.v phải được đánh giá đúng. Cũng vậy, thần học đức cậy không còn giới hạn vào những sự sau cùng. Nhưng nay nó chiếu sáng Giáo Hội nhận ra Ađam mới là khuôn mẫu đích thực của nhân loại, là Chúa lịch sử. Giáo Hội không tiến vào một tương lai chung chung và tạm bợ, nhưng vào tương lai siêu việt và dứt khoát của Đức Kitô. Thánh Thần quyền năng đang xây dựng vương quốc trong lịch sử với dấu ấn Đức Kitô phục sinh, cả trong trật tự trần thế của văn hóa và chính trị lẫn trong công việc mục vụ.[51] Hơn nữa, thần học về Giáo Hội nhận rõ tính năng động mầu nhiệm của mình như Thân mình Đức Kitô, Đền thờ Thánh Thần trong lịch sử, Bí tích cứu độ phổ quát, Dân Thiên Chúa trong đó mọi người lãnh nhận ơn gọi nên thánh và cam kết cho cùng một sứ vụ rao giảng Tin Mừng, với những dạng thái chứng nhân khác nhau và phục vụ khác nhau, theo như bậc sống của họ. Theo đó, chân trời của giáo dân trong lãnh vực trần thế và hoạt động mục vụ của Giáo Hội mở rộng thật sự. Lối nhìn về Giáo Hội hiển nhiên phải tập trung đến sự hiệp thông các lực lượng để hiện thực Vương quốc Thiên Chúa.

3. Bốn chiều kích cơ bản trong liên hệ giáo dục-rao giảng Tin Mừng

Chiều kích nhân bản
Đời sống và đức tin gợi nhắc nhau. Khóe nhìn “đức tin là thuốc phiện ru ngủ con người” chẳng thể hiểu đức tin thực sự là gì. Dù đầy đủ và được toại nguyện mọi sự, con người sẽ có lúc phải đối diện trạng huống giới hạn và thiếu thốn. Lúc đó, ta hiểu mình không chỉ nghèo trong nhiều khía cạnh và dưới nhiều hình thức, nhưng nhất là nhận ra cái nghèo tột cùng của con người là gì: nghèo Thiên Chúa.[52] Nhưng kinh nghiệm tôn giáo không có thể trồi hiện mãi đến khi đời sống được khám phá trong ý nghĩa chân thật của nó. Tất cả kinh nghiệm chân thật về đời sống đều làm nổi bật chiều kích tôn giáo. Nó cho thấy giữa tạo dựng và cứu chuộc có sự tiếp nối, chứ không phải rạn nứt.[53] Chính vì thế, các giai đoạn tuổi trẻ có giá trị nhưng cũng bày ra những thách đố cho một người để thành một nhân cách trưởng thành. Chăm chú đến những vấn nạn nảy sinh từ đời sống cá nhân và từ thế giới, ý thức về mầu nhiệm bao quanh mình và cố gắng dò thấu ý nghĩa của nó qua nỗ lực và suy tư quả là cần thiết.[54]

Điều này dẫn tới việc tiếp nhận cuộc sống, chấp nhận chính mình. Không ít người trẻ nghĩ rằng đời của mình không đáng sống vì thiếu những nhu cầu cơ bản. Chính lúc này họ cần nhà giáo dục đức tin ở bên với trí minh mẫn và cõi lòng, giúp họ nhận biết giá trị khôn sánh của cuộc đời như tặng phẩm và như bổn phận. Tầm nhìn đó khiến thiếu niên rộng mở cộng tác với tha nhân, chấp nhận đa nguyên cũng như giới hạn của nhau. Không có nhà giáo dục đức tin, thanh thiếu niên khó lắng nghe tiếng nói nội tâm và học để giải thích những hiện tượng của đời sống xã hội nhân loại, mở rộng tâm trí đến những nguyên tắc luân lý liên hệ mà theo đó họ sẽ thành kẻ ích kỷ hay có trách nhiệm và chia sẻ với tha nhân. Bằng cách đó, câu hỏi về ý nghĩa đời sống và việc tìm kiếm ý nghĩa tối hậu của đời sống bắt đầu hình thành, một cách hiện sinh. Điều này không thể không cần tới nhà giáo dục đức tin, mặc dù cách thức có thể là trang trọng hay tự phát.

“Nơi người trẻ vấn nạn và tìm kiếm ý nghĩa trở thành một lời cầu khấn, nghĩa là ước muốn về một lời đáp trả, một viễn cảnh hay một cách nhìn sẽ giúp giải đáp vấn nạn đặt ra do đời sống, về khởi đầu và kết thúc, về điều cá nhân phải làm để đời sống nên tròn đầy. Đây phải là mục đích của mọi tiến trình giáo dục. Người ta đi qua một kinh nghiệm nhân bản trưởng thành, mà cũng là một kinh nghiệm “tôn giáo” hầu cá nhân có thể thành công đi vào kế hoạch TC cách sung mãn.”[55]

Chiều kích Kitô học
Tăng trưởng nhân bản mà thôi thì không đủ, dù được những nguyên tắc kitô hữu gợi hứng. Giáo dục đức tin đi liền với xác quyết chỉ nơi Đức Giêsu Kitô cuộc sống nhân bản đạt được sự sung mãn. Gặp gỡ cá vị với Đức Giêsu trong đức tin dưới hình thức “khẩn cầu” sẽ đưa đến hoán cải.[56] Bằng không, kiến thức sẽ hời hợt, mau qua, trừu tượng hay như ý thức hệ chi tiết của một nhóm tôn giáo nào. Nó chẳng phải là lời công bố và lời hứa cứu độ.[57] Để gặp gỡ Đức Kitô, con đường phải theo là qua chứng từ của cộng đoàn đức tin, qua kinh nghiệm Tin Mừng chân chính. Dù muốn dù không, Đức Kitô muốn gặp chúng ta qua những dấu chỉ nơi những người tạo nên cộng đoàn, nơi những thái độ làm ra nơi họ do hoài niệm (tưởng nhớ) về Đức Kitô, nơi việc cử hành lòng sùng mộ kitô hữu.[58]

Do đó, những cử chỉ nhân bản và bộc lộ đức tin của những người gần gũi giới trẻ tạo thành tiếng gọi đầu tiên tới đức tin.[59] Chứng từ này bộc lộ cho người trẻ giá trị phổ quát của đức tin, khi họ học từ những khuôn mẫu rõ ràng của đức ái hay sự cam kết vốn kích thích những động lực của họ và sức mạnh của tình yêu họ đối với Đức Kitô. Đức Kitô dần trở thành nhân vật trung tâm soi sáng cuộc tìm kiếm của người trẻ, trở thành sự sống kích thích những năng lực làm tốt của họ, và như con đường dẫn tới sự hoàn thành chính mình. Đức Kitô trở thành đấng được yêu mến, chiêm ngắm và được theo đuổi với thái độ của người môn đệ. Theo đó, giáo lý phải được đi theo bằng một sự đối diện của đức tin với những vấn đề văn hóa. Ta cảm nghiệm mạnh mẽ và cơ bản những điều này để não trạng đức tin được chín muồi thật sự, một đức tin vốn đòi hỏi sự nhất quán giữa tư duy và đời sống. “Đức tin nhìn nhận sự hiện diện và tình yêu của Cha nở rộ trong một thái độ hiền thảo đối với Ngài (“đạo đức” theo nghĩa đen). Cầu nguyện là ngôn ngữ được Thần khí ban cho ta để đến gần Cha và được khai triển trong nhiều hình thức khác nhau mà truyền thống Kitô giáo bày ra.”[60]

Chiều kích Giáo Hội
Tin vào Đức Kitô đi liền với chiều kích Giáo Hội. Không tin nơi Giáo Hội, đức tin sẽ rất èo uột. Chính vì vậy đòi buộc phải giúp giới trẻ sống kinh nghiệm Giáo Hội, phát triển cảm thức thuộc về Giáo Hội như Dân Thiên Chúa và Thân Mình Đức Kitô ngày một mạnh mẽ hơn. Chúng ta mời gọi người trẻ tích cực thể hiện tư cách thành viên của Giáo Hội trong những nhóm nhỏ (giống như cộng đoàn Giáo Hội cơ bản) để cảm nhận tình bạn và những tương giao liên vị sâu xa của chia sẻ và tình liên đới.

Không chỉ thế, người trẻ cử hành ơn cứu độ nơi các bí tích, nơi Lời Chúa, nơi cầu nguyện. Không thể coi nhẹ điều này. Thách đố chính là chỗ giúp cho người trẻ cử hành các thực tại này như biến cố cứu độ. Thật vậy, “giáo dục để cử hành và giáo dục trong cử hành đều cần thiết ngang nhau.”

Chiều kích vương quốc
Dần dần người trẻ học để chọn ơn gọi. Ở đây, ta không nói chọn nghề nghiệp. Đây là bước trưởng thành không thể thiếu được trong sự tăng trưởng nhân bản và Kitô hữu. Ơn gọi Kitô hữu chỉ được hiểu đúng trong viễn cảnh của Nước Thiên Chúa trong đó Thiên Chúa là nhân vật chính. Thiên Chúa muốn con người hạnh phúc và con người được “mời gọi chấp nhận tặng phẩm này với tất cả sự sẵn sàng và đặt cược đời mình cho kế hoạch Thiên Chúa.” Theo đó, cần thiết giúp người trẻ khám phá chỗ đứng của mình trong việc xây dựng vương quốc. Nhãn quan ơn gọi khiến người trẻ đi vào nghề nghiệp hay bậc sống một cách năng động và đa dạng. Làm việc ở nhà thương như một nghiệp vụ và như một ơn gọi là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Và như thế, ơn gọi không được phép hiểu hạn hẹp như trước Vatican II, dù vẫn luôn quan tâm hơn đến ơn gọi linh mục, tu sĩ.

III. Như một kinh nghiệm huấn giáo

Đến đây, xin cho phép con dùng kinh nghiệm huấn giáo của mình như một đóng góp rất khiêm tốn trong việc cùng nhau xây dựng định hướng giáo lý trên quê hương đất Việt hôm nay. Khi ở Đalat, con phụ trách về sinh hoạt thanh thiếu niên và giới trẻ của giáo sở Don Bosco. Thời gian đó, các em vừa học giáo lý vừa sinh hoạt giải trí lành mạnh với những phong trào thi đua. Dưới sự dẫn dắt của các huynh trưởng và giáo lý viên, các em cử hành Thánh Lễ theo phong cách trẻ trung đơn sơ của các em mà vẫn giữ được nghi thức và bầu khí phụng vụ. Phong trào thi đua với những cao điểm theo chu kỳ năm phụng vụ dẫn các em nỗ lực cùng nhau học hành, giao lưu, chơi đùa, đi dạo, pinic, cầu nguyện và cả Chầu Thánh Thể nữa. Những phong trào đó “được đỡ đầu” bằng các hội đoàn trong giáo xứ, như một gia đình lo cho con em của mình. Giáo sở mang nặng bầu khí gia đình tươi vui hơn là một cơ cấu. Trong bầu khí đó, các thiếu niên đã trưởng thành một cách độc đáo và hiện nay, nhiều người vẫn còn là những hạt nhân nòng cốt của giáo lý tại địa phương.

Trong những năm tháng du học, con cũng được kêu gọi để phụ trách giúp các thanh thiếu niên trong cộng đồng tín hữu Việt Nam về giáo lý. Con cũng tiếp tục dành thời gian ở giữa thanh thiếu niên đủ mọi kiểu tóc, áo quần. Được một thời gian, cộng đoàn mời gọi con cộng tác lo cho thanh thiếu niên. Tổng quát, chương trình diễn tiến như sau: sau Thánh Lễ, các em có giờ giáo lý. Giờ ra chơi của các em là giờ sinh hoạt chung với nhau, với những phong trào thi đua về trò chơi. Sau đó các em có giờ học Việt ngữ. Chương trình đó chiếm trọn cả buổi chiều ngày Chúa Nhật. Mãi đến 4 giờ chiều mới tan sinh hoạt. Và ít nhất một tháng một lần, các thầy cô trong ban Việt Ngữ, giáo lý viên, và các huynh trưởng phụ trách các phong trào, đều ngồi lại với nhau để lượng giá các vấn đề. Các thầy cô lúc đầu chống đối rất mạnh, vì như vậy họ sẽ phải ở trường lâu giờ hơn, sẽ không được đi shopping và khi chiều về thi thấm mệt. Họ viện lẽ giáo lý đâu có cần sinh hoạt và họ cũng cần có giờ nghỉ ngơi để hôm sau đi làm.

Lắng nghe những yêu cầu thực tiễn và chính đáng của họ, con bình thản trao đổi với họ. Con mời gọi họ xác định một diện mạo “người” nào cho tương lai: một mẫu người toàn diện, hay một mẫu người dị dạng, có đầu rất to, nhưng tay chân và trái tim rất nhỏ. Từ mục tiêu đó, con cho họ thấy rằng không được đánh giá thấp những sinh hoạt vui chơi kia. Chắc chắn, Thánh Lễ là tối ưu. Giờ Giáo lý là bất khả thế. Nhưng khi các em chơi, các em mới học trên thực tế thế nào là yêu người, thế nào là chân thật, thế nào là tình bạn. Khi gặp những va chạm không cố ý, các em mới học biết xin lỗi cũng như biết tha thứ. Bằng không, các bài giáo lý và giảng lễ vẫn chỉ nằm gọn trong trí óc và không thực tiễn. Giờ chơi như vậy không còn chỉ là giờ xả hơi. Đó chính là giờ tập cầu nguyện, tập sống nhân đức bằng hành động. Cũng chính trong giờ chơi đó, thầy cô hòa mình với những giải trí, trò chơi của em. Họ trở thành không chỉ là một thầy cô trên bục giảng trong lớp, nhưng là người bạn, người chỉ dẫn của thanh thiếu niên trong cuộc đời. Lời nhủ khuyên của họ cho các em trong giờ chơi trở thành lời giáo lý thực hành. Trong giờ chơi đó, tất cả làm thành một gia đình. Thầy cô không chỉ lo cho con cái của mình mà thôi, nhưng cho tất cả, không thiên tư. Tuy nhiên, cũng chính trong giờ đó, thầy cô cũng học biết chính mình; đôi khi vì ham thắng, các thầy cô lại bày cho chúng “ăn gian”, “mánh lới”, “luồn lách” luật chơi, và như thế, rõ ràng họ có thể thấy Lời Chúa và giới răn của Chúa thấm vào cuộc đời mình đến mức độ nào. Khi hiểu được như thế, các thầy cô đã chấp nhận. Họ hiểu rằng để tiếp thu một giá trị, để xây dựng một nhân cách toàn diện, không thể nào không trả giá. Chúng ta đầu tư bao nhiêu, chúng ta gặt hái bấy nhiêu. Sau một thời gian, ai ai cũng nhận thấy các thanh thiếu niên của cộng đoàn lớn lên một cách đặc biệt. Và điều đó đã là phần thưởng khôn sánh cho những mệt nhọc của họ. Dần dần, họ bằng lòng trả giá các hy sinh ấy để được những thanh thiếu niên cho tương lai của cộng đồng.

IV. Như lời kết luận

Xin cho phép tôi dùng bài thơ của Gabriella Mistral để hiểu tại sao ta phải hú còi cấp cứu giáo dục.
Tên của nó là “Hôm Nay”
Chúng ta phạm nhiều sai lầm và lầm lỡ.
Nhưng tội tệ nhất ta phạm là bỏ mặc trẻ em,
Là lãng quên nguồn mạch sự sống.
Nhiều điều chúng ta cần có thể đợi chờ.
Nhưng trẻ em lại không thể.
Ngay giờ này từng thớ xương của em đang được hình thành,
Máu của em đang được tạo nên và
Những giác quan của em đang được phát triển.
Với trẻ em ta không thể trả lời “Ngày Mai.”

Đúng thế, trẻ em có tên là “Hôm Nay” đấy. Và ta hãy nghe: Đừng nói với một người ngày mai anh hãy đến lại và tôi sẽ cho anh, nếu con có thể cho nó hôm nay. Dù chúng ta đang gặp khó khăn đến mấy, chúng ta đừng bao giờ nói với trẻ em “ngày mai” tôi sẽ cho em nền giáo dục chân chính.

Đúng là Thiên Chúa muốn từng người và mọi người hạnh phúc. Hạnh phúc ấy hệ tại ở sự hiệp nhất mật thiết giữa thiên quốc và trần thế. Trong vương quốc Thiên Chúa, những giá trị nhân bản không bị phá hủy, nhưng được thánh hóa và nên hoàn hảo. Ước muốn ấy, Ngài thực hiện ngay trong lịch sử hôm qua và hôm nay, chứ không phải trong tương lai bất định. Đức Giêsu hôm qua, hôm nay và cho đến muôn đời. Thiên Chúa không ban cho nhân loại Con Ngài như một trang hoàng hay như một khách du lịch thăm trái đất. Trái lại, Thiên Chúa định cho Đức Giêsu là Khuôn mẫu và Trưởng tử của chúng ta. Người Con ấy lại hòa hợp nơi chính mình thần tính và nhân tính. Nếu vậy, không thống nhất đời sống, chúng ta có nguy cơ trình bày một hình ảnh méo mó về Thiên Chúa, khiến con người ngày nay chống báng và tẩy chay.

Chính vì thế, chiều hướng huấn giáo của chúng ta phải hòa hợp được chiều kích nhân bản, Chúa Kitô, Giáo Hội và vương quốc. Huấn giáo không còn chỉ trình bày tín lý, cách giáo điều, nhưng phải mang tính cách mục vụ cũng như giáo dục hướng tới Con Người Hoàn Hảo.

Lời kêu xin “Maranatha” của sách Khải huyền, của toàn Giáo Hội xưa và nay, của Giáo Hội Việt Nam có lẽ phải chuyển thành lời cầu xin Chúa Giêsu đến và làm chủ tâm hồn giới trẻ chúng ta. Ngài là NHÀ GIÁO DỤC VÀ LOAN BÁO TIN MỪNG DUY NHẤT MÀ GIỚI TRẺ VIỆT NAM KHAO KHÁT TẬN SÂU THẲM.

________________________________________
[1]X. GS 31. “Trước hết cần phải tổ chức việc giáo dục ngừoi trẻ thuộc bất cứ thành phần nào trong xã hội, làm sao để đào tạo được những người nam và nữ không những tài giỏi về văn hóa mà còn có một tâm hồn cao thượng, bởi vì thời đại chúng ta đang khẩn thiết đòi phải có những người như vậy”; cũng x. Giovanni Mottini, cuộc phỏng vấn của Zenit, “Saving the Africa of the Future” đăng trong Zenit ngày 21.06.2011.
[2]X. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, số 37; cũng xem Đề cương Giáo Hội tại Việt Nam, số 35-37; Tài liệu làm việc, số 26.
[3]Hồng y Cafarra “Education Emergency. Commitment, beauty and the attempt to educate” ngày 6.11, 2007; được P. Chavez trích lại trong diễn từ kết thúc Salesian Family Spirituality Days 2008, “Educating with the Heart of Don Bosco”.
[4]X.Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, số 43;
[5]X. HĐGMVN, Đề cương Giáo Hội tại VN, số 2-6;Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, số 4-9.
[6]Hồng y Cafarra, Education Emergency. Commitment, beauty and the attempt to educate” ngày 6.11, 2007; được P. Chavez trích lại trong diễn từ kết thúc Salesian Family Spirituality Days 2008, “Educating with the Heart of Don Bosco”; cũng x. Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng Thánh lễ ở Olympic Stadium ngày 2011-06-19.
[7]X. LG 8; Đức Gioan Phaolô II, RH 18, 21.
[8]X. GS 1; 31;
[9]X.Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, số 5; Bruno Forte, “What a Theologian-Pope Tells Theology”, cuộc phỏng vấn do Mirko Testa thực hiện, đăng trên Zenit ngày 25.01.2010.
[10]X. Đức Bênêđictô XVI, SS 4; DCE 28; Đề cương Giáo Hội tại Việt Nam, số 29; Tài liệu làm việc, số 17-19;Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, số 3, 4.
[11]X. Đức Gioan Phaolô II, RH 12-17; Bênêđictô XVI, CV 21-33;Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, số 9.
[12]Vigano, “Don Bosco: Iuventutis pater et magister”, Acts, p. 16.
[13]Vigano, ibid., p. 16.
[14]X.Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, số 36.
[15]Vigano, ibid., p. 16.
[16]X. FABC II; Aloysius Pieris, God’s Reign for God’s Poor, Tulana Research Centre, Sri Lanka, 1999.
[17]Vigano, ibid., p. 16-17.
[18]X. Bênêđictô XVI, DCE 18, 29;Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, số 41.
[19]X. GS 35, 29.
[20]P. Chavez, “Educating with the heart of Don Bosco”.
[21]P. Chavez, “Educating with the heart of Don Bosco”.
[22]P. Chavez, Giáo dục đức tin cho thanh thiếu niên; cũng x.Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, số 44.
[23]X. P. Chavez, “Education and Citizenship, Forming the Citizen in a Salesian Way”
[24]X.Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, số 32, 37-38; Đề cương Giáo Hội tại Việt Nam, 25.
[25]P. Chavez, “Education and Citizenship. . .”
[26]P. Chavez, ibid.,
[27]X. Đức Bênêđictô XVI.
[28]Vigano, The New Evangelization, p. 12-13.
[29]P. Chavez, “Education and Citizenship…”
[30]Vigano, Salesian Spirituality for the New Evangelization, p. 12.
[31]FSDB 15.
[32]Cẩm nang giám đốc, chương 6
[33]X. Cẩm nang Giám đốc, chương 5.
[34]P. Chavez, “Educating with the heart of Don Bosco”
[35]P. Chavez, ibid.,
[36]P. Chavez, ibid.,
[37]P. Chavez, ibid.
[38]P. Chavez, ibid.
[39]Vigano, the New Evangelization, p. 7.
[40]Vigano, ibid, p. 9.
[41]Vigano, ibid. p. 9.
[42]Gioan Phaolô II, Oss. Rom. 28-29 Aug. 1989.
[43]Vigano, ibid. p. 8.
[44]GS 43.
[45]Synod 1975; 1980
[46]X. Đức Bênêđictô XVI, DCE 31; Đề cương Giáo Hội tại Việt Nam, số 26; Tài liệu làm việc, số 18.
[47]X. Đức Phaolô VI, EN 19.
[48]Đức Phaolô VI, EN 18; Cũng x. Pontifical Council for Culture, Towards a Pastoral Approach to Cutlure, số 2-4.
[49]Đức Phaolô VI, EN 19; cũng x. Đức Bênêđictô XVI, SS 4.
[50]X. Đức Gioan Phaolô II; Đức Bênêđictô XVI, Bài nói chuyện ở Pontifical Roman Major Seminary tại Chapel Of The Seminary, ngày thứ sáu, 12 tháng Hai, 2010.
[51]Vigano, op. cit., p. 16.
[52]X. GS 19-21.
[53]X. Các Kinh tiền tụng mùa Phục sinh
[54]X. GS 18; Đức Bênêđictô XVI, Diễn từ cho Roman Ecclesial Congress, “May There Be a Growing Commitment to a Renewed Season of Evangelization”, đăng trên Zenit ngày 14.06.2011.
[55]GC23 148.
[56]X. Hướng dẫn tổng quát việc dạy giáo lý, số 142-145.
[57]X. Gioan Phaolô II, RH 8; Đức Bênêđictô XVI, SS 16-23.
[58]X. Đức Phaolô VI, MF 35-38; SC 7.
[59]Đức Gioan XXIII nói rằng ngài học được mọi điều cần thiết từ trên gối của mẹ mình.
[60]Công hội 23 của Tu hội Salêdiêng Don Bosco.

Nguon: http://giaolyductin.org/newsview/vn/233/BAI-THUYET-TRINH-2–GIAO-DUC-BANG-PHUC-AM-HOA-VA-PHUC-AM-HOA-BANG-GIAO-DUC.html

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: