Thần Học Đại Kết

 

TUẦN CẦU NGUYỆN CHO HIỆP NHẤT KITÔ HỮU

18 đến 25 tháng 01

  I. THẦN HỌC VỀ ĐẠI KẾT

(Lm Giuse Phan Tấn Thành op)

1. Thần Học Đại Kết

2. Lịch Sử Phong Trào Đại Kết.

3. Giáo Hội Công Giáo Từ Vaticano II Với Công Cuộc Đại Kết

4. Những Hướng Đi Của Phong Trào Đại Kết

 II. Sắc Lệnh về Hiệp Nhất

(Công đồng Vaticanô II)

1. Lời Mở

2. Các Nguyên Tắc Công Giáo Về Hiệp Nhất

3. Cách Tham Dự Phong Trào Hiệp Nhất

4. Các Giáo Hội Và Cộng Ðoàn Giáo Hội Ly Khai Với Tông Tòa Roma

 III. Tuyên Ngôn Chung

      Đức Bênêdictô XVI và Đức Bathôlômêô I

        (ngày 30-11-  2006)

1. Thần Học Đại Kết 

 Sự Ly Khai Đông Phương (Chính Thống)

Sự ly khai Tây Phương (Tin Lành)

 Kính thưa quý vị và các bạn,

 Hằng năm, tuần lễ từ 18 đến 25 tháng 1 được dành để cầu nguyện cho các Kitô hữu được hợp nhất. Đây là một cơ hội thuận tiện để trình bày về thần học đại kết, đặc biệt là vì trong năm 1995 vừa qua, đã có vài biến cố đánh dấu những bước tiến của công cuộc đối thoại đại kết, trong số đó cần phải kể đến: 1) Đức Gioan Phaolô 2 đã ban hành thông điệp Ut Unum sint (ngày 25/5). 2) Trước đó, ngày 2/5, tông thư Orientale Lumen được ban hành nhân dịp kỷ niệm 100 năm đức Lêo XIII viết tông thư “Orientalium Dignitas”, khuyến khích việc tìm hiểu truyền thống của các Giáo hội Đông phương. 3) Đức thượng phụ Bartholomêo I, giáo chủ chính thống đã đến viếng thăm Đức Thánh Cha tại Vaticano (27-30/6). 4) Cuộc viếng thăm Tòa thánh của Mục sư Konrad Kaiser, Tổng thư ký Hội đồng thế giới các Giáo hội (6-10/4).

 Trong bài hôm nay, chúng ta sẽ tìm hiểu những lý do gì đã gây ra sự chia rẽ giữa các Kitô hữu. Trong bài tới, chúng ta sẽ theo dõi những chặng đường tiến triển của phong trào đại kết. Kế đó, chúng ta sẽ nghiên cứu những văn kiện của Hội thánh công giáo bàn về đại kết từ công đồng Vaticano II đến nay. Sau cùng, dựa theo thông điệp “Ut unum sint”, chúng ta sẽ kiểm điểm những thành quả đã đạt được cũng như những gì còn phải làm để cho tất cả các tín hữu được nên một.

 Ut unum sint : đây là lời nguyện của Chúa Giêsu trong nhà tiệc ly mà chúng ta đọc thấy trong Phúc âm theo thánh Gioan (17,21). Khi thánh sử cầm bút ghi lại những lời ấy thì Hội thánh đã được thành lập hơn nửa thế kỷ, và đã chứng kiến nhiều mầm mống chia rẽ. Thí dụ đọc thư nhất của thánh Phaolô gửi Corintô (1,12), ta thấy trong giáo đoàn này đã nảy ra bốn phe. Qua dòng lịch sử, nạn bè phái không bao giờ vắng bóng, dưới đủ mọi hình thức: khi thì vì tham vọng quyền hành, có lúc vì bất đồng ý kiến về đạo lý hay về đường lối mục vụ. Tuy nhiên, vết thương nặng nề hơn cả gây ra cho thân thể đức Kitô không phải là những xích mích chia rẽ giữa vài cá nhân mà là những sự ly khai của cả từng cộng đoàn to lớn, đến nỗi ra như họp thành một Giáo hội khác nếu chưa dám nói là một tôn giáo khác. Thường thì lịch sử nói đến hai cuộc ly khai lớn trong lịch sử: (1) cuộc ly khai Đông phương (giữa Rôma và Constantinôpôli) vào giữa thế kỷ thứ 11, và (2) cuộc ly khai Tây phương (giữa Công giáo với Tin lành) vào thế kỷ thứ 16. Tuy thực tế không hoàn toàn đúng như vậy, nhưng chúng ta tạm dùng đó làm hai cái mốc để phân tích những cuộc ly khai trong lịch sử Giáo hội.

I. Sự ly khai Đông phương

Trong tháng trước, khi trình bày lịch sử các công đồng, chúng tôi đã lưu ý là các Giáo hội chính thống chỉ nhìn nhận 7 công đồng đầu tiên, gọi là những công đồng của Hội thánh bất phân ly! Nhưng đó chỉ là một hình ảnh lý tưởng. Sự thực thì ra như cứ mỗi công đồng bế mạc thời lại nảy ra một nhóm ly khai.

Thực vậy, chúng ta biết rằng công đồng đầu tiên, Nixêa I được triệu tập năm 325 để chống lại lạc giáo Ariô. Lạc giáo này đã lôi cuốn rất nhiều giám mục và dầu bị công đồng Constantinôpôli I năm 381 lên án lần nữa, nhưng không những họ vẫn sống sót mà còn đi truyền giáo cho các dân Gothô.

Tuy nhiên, những sự rạn nứt lớn hơn trong Giáo hội xảy ra kể từ công đồng Ephêsô năm 431. Một số giáo hội bên Siria và Calđêa theo Nestôriô không chấp nhận công đồng, đã tách thành nhóm riêng (quen gọi là “assiriano”,nay còn độ hơn 1 trăm ngàn người sống tại Iran, Irak). Nên biết là họ đã đi giảng đạo bên Trung quốc vào năm 635 (Sizanfu?).

Hai mươi năm sau đó, vì không chấp nhận công đồng Calxêđônia (451), đến lượt các giáo hội bên Ai cập (coptô), Etiôpia và Armênia ly khai, họp thành các giáo hội “monophysit” (đức Kitô chỉ có một bản tính). Ngày nay, các giáo hội này chỉ còn là một thiểu số khiêm nhường giữa vùng lãnh thổ Hồi giáo ở Trung đông. Tuy nhiên, các sử gia cho rằng nguyên nhân của các cuộc ly khai không thuộc lãnh vực đức tin cho bằng vì những động lực văn hóa chính trị. Về văn hóa:  ngôn ngữ thần học hồi đó chưa được chỉnh lắm khiến cho các bản dịch không thiếu lần đã gây ngộ nhận. Về chính trị: Ai cập, Siria, Calđêa, Armênia là những trung tâm văn hóa và đế quốc từ lâu đời; vì thế họ không chịu khuất phục hoàng triều ở Constantinôpôli chỉ chú trọng văn hóa Hy lạp. (Ngày nay các giáo đoàn này mệnh danh là “siro-orthodox”, bành trướng sang tận Ấn độ: malankar).

Sau những cuộc ly khai của phái Nestôriô và Nhất tính, những giáo hội nào chấp nhận giáo lý của công đồng Calxêđônia tự nhận là “chính thống” (giáo lý chân chính. Theo gốc hy lạp, orthodoxia gồm bởi “orthos”: chân chính, trung thực; và “doxa”: phụng tự, ý kiến). Trên thực tế, thì vào cuối thiên niên thứ nhất chỉ còn có hai tòa thượng phụ chính thống: Constantinôpôli và Rôma, bởi vì các tòa khác (Alexanđria, Antiôkia, Armênia, Calđêa) thì hoặc đã lạc đạo hay là đã rơi vào tay của Hồi giáo rồi.

Những lý do đưa đến sự tuyệt thông giữa Constantinôpôli và Rôma vào năm 1054 thì nhiều và phức tạp. Đừng kể sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa (latinh, hy lạp), còn có sự cạnh tranh về quyền thế (nhất là kể từ khi Constantinôpôli được chọn làm thủ đô mới của đế quốc, đang khi mà Rôma cũ dần dần bị rơi vào tay man di). Thêm vào đó là những quan niệm Giáo hội học khác nhau về việc lãnh đạo Giáo hội: Rôma thì đề cao vai trò lãnh đạo của Giáo hoàng; còn Constantinôpôli đòi hỏi rằng những chuyện quan trọng phải được đem bàn ở công đồng, với sự thỏa thuận của tất cả các thượng phụ.

Thực ra, sau năm 1054, hai tòa Rôma và Constantinôpôli vẫn còn giữ liên lạc với nhau. Như chúng ta đã biết, các công đồng Lyon II và Firenze đã cố gắng tìm hợp nhất nhưng không thành. Đàng khác, Constantinôpôli đã rơi vào tay Hồi giáo từ năm 1453. Các giáo hội chính thống bành trướng ở các nước Đông Âu (Serbia, Bulgaria, Rumania..), đặc biệt là Cựu Liên sô cũ (Nga, Gerogia, Ukraina), với tòa thượng phụ Moscơva thường tranh chấp với tòa Constantinôpôli.

II. Sự ly khai Tây phương

Vào thời Trung cổ, Giáo hội công giáo đã có lúc có tới hai ba giáo hoàng. May thay, tình trạng đó không kéo dài lâu cho lắm (1378-1417). Từ thế kỷ 16 mới bắt đầu những sự ly khai lớn với sức tác dụng dây chuyền.

Chắc rằng Lutêrô (1483-1546), nguyên là một linh mục dòng Augustinô, không hề có ý định thành lập một Giáo hội ly khai. Ông chỉ muốn đề ra một cuộc cải cách Giáo hội. Sự cải cách này không những chỉ nằm trong phạm vi kỷ luật nhưng còn đi vào những điểm căn bản của đức tin, tựa như khi chỉ chấp nhận Kinh thánh như là nguồn duy nhất của mạc khải (sola Scriptura), khi nhấn mạnh tới đạo lý về sự cứu rỗi duy nhờ đức tin (sola fides), khi đề cao sự siêu việt tuyệt đối của Thiên Chúa (soli Deo gloria); họ cũng đặt sự giảng thuyết và nghe Lời Chúa lên trên việc phụng tự bí tích. Nói chung thì phong trào do Lutêrô xướng lên được gọi là Cải cách (Réforme; có nơi dịch là: cải lương, cảnh giáo, tân giáo). Họ cũng được mệnh danh là Protestant.

Trước đây, danh từ này được dịch là “thệ phản”, với nghĩa xấu là những người đã phản bội lời thề. Sự thực không phải như vậy: nguyên gốc của nó có nghĩa là “phản đối” (hay: phản kháng), được áp dụng cho những ông hoàng theo phe Lutêrô phản đối những quyết nghị của quốc hội họp ở Speyer năm 1529. Hội nghị này với đa số theo công giáo đã biểu quyết rằng những ai theo Lutêrô thì phải rút ra khỏi các vùng do những ông hoàng công giáo kiểm soát. (Như vậy có nghĩa là người dân phải theo đạo của ông lãnh chúa). Vì muốn bảo vệ tự do của lương tâm mỗi người, 6 ông hoàng và 14 thành phố phản đối quyết định đó, chấm dứt tình trạng sống chung giữa đôi bên. Từ đó, những ai trung thành với Rôma thì gọi là Công giáo (Catholique. Nguyên ngữ hy lạp có nghĩa là: phổ quát, bao gồm tất cả); đối lại là nhóm Cải cách. Thế rồi, dần dần phe Cải cách, do những lý do khác nhau, lại bị phân tách ra các ngành biệt lập. Ta có thể phân biệt ra ba ngành chính sau đây: Lutêrô, Calvinô, Anh giáo.

1) Những người theo Lutêrô, đa số bên Đức, họp thành các Giáo hội Tin lành (Evangelische Kirche). Ở Việt Nam, tiếng “Tin lành” có thể gây hiểu lầm. Theo nguyên ngữ, tiếng “Evangelium” có thể dịch là: Phúc âm, Tin mừng, Tin vui hay Tin lành. Những người theo Lutêrô gọi mình là évangelist vì muốn trở về với Tin mừng nguyên tuyền. Thế nhưng các “Hội thánh Tin lành” ở Việt nam thì chỉ có họ hàng rất xa xôi với các giáo hội Lutêrô. Nguồn gốc gần hơn của các nhóm Tin lành Việt nam là các phong trào evangelicals phát xuất từ bên Anh hồi thế kỷ 19 như sẽ nói sau. (Hiện nay các giáo đoàn theo Lutêrô trên thế giới họp thành: “Lutheran World Federation”)

2) Những nhóm người theo Ulrich Zwingli (1484-1531) và Jean Calvin (1509-1564) thì đội tên là Giáo hội Cải cách (Eglise Réformée); sang bên Anh và Hoa kỳ thì họ mang tên là Giáo hội trưởng lão (Presbyterians). Danh từ này ám chỉ cơ chế đặc biệt đó là  mỗi cộng đoàn được cai quản do hội đồng các “presbyter” (:nguyên lão, kỳ mục. Từ ngữ này lấy từ Tân ước, theo Tđcv 14,23) do dân bầu. (Ngày nay họ họp nhau thành: “World Alliance of Reformed Churches”).

3) Nhóm thứ ba là Anh giáo. Tuy ra đời vào thời Cải cách, nhưng họ không chấp nhận các đạo lý của Lutêrô. Sự ly khai khỏi Rôma bắt đầu từ việc Tòa thánh không chấp nhận cho vua Henry VIII (1509-47) ly dị. Nhà vua tuyên bố mình là giáo chủ của Giáo hội bên Anh (supreme head of the Church of England). Lúc đầu sự ly khai chỉ có tính cách chính trị, nhưng dần dần cũng mang thêm tính cách đạo lý khi du nhập các tư tưởng của Lutêrô và Calvinô. Thực ra gọi là “Anh giáo” thì không đúng, bởi vì đây không phải là một tôn giáo riêng biệt. Tên gọi chính thức là Giáo hội Anh quốc (Church of England) và từ khi được bành trướng qua các nước thuộc địa, họ mang danh là “Sự thông hiệp Anh” (Anglican Communion”; bên Mỹ, họ được gọi là “Episcopalians”). Nội bộ của họ gồm có ba khuynh hướng: a) Low Church (giáo hội thấp), khuynh hướng theo nhóm Cải cách; b) High Church (giáo hội cao), gần gũi với Công giáo; c) Broad Church (Giáo hội rộng), khuynh hướng rất tự do.

Chính nhờ sự đa dạng đó, mà Giáo hội Anh quốc đã nhiều lần muốn đứng ra bắt cầu môi giới giữa Công giáo và Cải cách. Nhưng cũng cần phải thêm rằng cũng vì sự đa dạng đó mà đã nảy ra bao nhiêu phe phái khác, nhất là tại Hoa kỳ, cựu thuộc địa của Anh. Chúng ta có thể kể:

– Methodists. Tên này được đặt ra để chế nhạo cái “method” mà họ dùng khi cầu nguyện và học Kinh thánh, khởi đầu do hai anh em John Wesley (1703-91) và Charles Wesley (1707-88). Từ nhóm Methodist tách ra Đạo quân cứu rỗi (Salvation Army) năm 1865.

– Baptists : họ chủ trương chỉ rửa tội cho người lớn bằng việc dìm mình. Từ nhóm này tách ra nhóm Cơ đốc Phục lâm (Adventists) năm 1844 (E.G. White), những người chờ đức Kitô quang lâm vào ngày thứ 7 (Seventh-Day Adventists; Sabbatists).

– Evangelicals. Một từ rất rộng, bao gồm rất nhiều phái. Nói chung, các tín điều của họ rất đơn giản; về cơ cấu tổ chức cũng vậy. Xem ra một đặc tính chung của họ là giải thích Kinh thánh theo nghĩa đen (cứ chữ, không đếm xỉa tới khung cảnh lịch sử văn chương) và họ không tham gia các phong trào đại kết. Như đã nói trên, các nhóm Tin lành được truyền sang Việt Nam thuộc ngành này chứ không phải thuộc giáo hội Lutêrô. (Hội thánh Tin lành Việt Nam là chi nhánh của “The Christian and Missionary Alliance” do A.B. Simpson khởi xướng năm 1887).

2. Lịch Sử Phong Trào Đại Kết. 

Phong Trào Đại Kết: những bước hình thành

Giáo Hội Công Giáo với Phong Trào Đại Kết

Kính thưa quý vị và các bạn,

Trong bài trước, chúng ta đã đi ngược lại dòng lịch sử để tìm hiểu những lý do đã đưa các tín đồ của đức Kitô đền chỗ phân rẽ trong 20 thế kỷ qua. Trong bài hôm nay thì chúng ta quan sát một hiện tượng ngược lại, đó là lịch sử của những nỗ lực để tái lập sự hiệp nhất.

Chúng tôi đã có dịp nhắc đến hai công đồng Lyon II (1274) và Firenze (1439) đã gắng tìm ra những công thức thỏa hiệp giữa Rôma và Constantinôpôli; nhưng sự hợp nhất không được bền lâu. Vào thời Cải cách, nhiều cuộc gặp gỡ giữa Lutêrô với Tòa thánh đã diễn ra trước và trong công đồng Trentô. Hồi triệu tập công đồng Vaticano I, đức Piô IX đã mời các Giáo hội chính thống đến dự, nhưng thư mời bị gửi trả lại. Thực ra, thì cho tới đầu thế kỷ 20, Giáo Hội Công giáo hiểu sự hợp nhất theo nghĩa là các phe phái kia hãy ăn năn trở lại phục tùng đức Giáo hoàng: đó là hình ảnh lý tưởng của một đàn chiên với một chủ chiên. Công tác hợp nhất được ủy thác cho bộ Truyền giáo: cơ quan này phải tìm cách để cho người ngoại giáo lẫn người lạc giáo trở lại với chính đạo. Dưới viễn ảnh đó, không có chuyện “đối thoại đại kết”. Danh từ này được đặt lên do một phong trào bắt nguồn từ các nhóm Cải cách. Chúng ta hãy theo dõi lịch sử của nó, trước tiên là ở ngoài Giáo hội công giáo, và sau đó trong Giáo hội Công giáo.

I. Phong trào đại kết

Tiếng “đại kết” dịch  bởi từ ngữ oecumenismus. Thực ra, thì  từ này trong nguyên ngữ Hy lạp và Latinh mang rất nhiều nghĩa. Trong tiếng Hy lạp, từ “oikouméne” (bởi danh từ “oikos”: nhà) lúc đầu có nghĩa là những vùng đất đã có người cư ngụ (đã xây cất nhà cửa), rồi dần dần mở rộng ra đến toàn thể thế giới. Cách riêng hoàng đế Rôma mang tước là “oikumêne”, nghĩa là bá chủ khắp thế giới (chỉ trừ những vùng đất hoang dã của quân man di, barbaroi). Từ đó mà sinh ra tính từ “oecumenicus” (thí dụ: “concilium oecumenicum”: công đồng do hoàng đế triệu tập, hay là công đồng quy tụ hàng giám mục thế giới). – Khi phong trào hợp nhất các Kitô hữu ra đời vào thế kỷ 20, người ta muốn lấy lại tiếng “oecumenismus” để biểu lộ niềm khát khao được thấy Giáo hội mang chiều kích hoàn vũ, vượt qua hết mọi hình thức phân ly chia rẽ.

Có thể lấy năm 1910 như khởi điểm của phong trào đại kết cận đại.  Vào năm ấy một Đại Hội của các Hội truyền giáo Tin lành (World Missionary Conference) được tổ chức Edinburgh, (Scotland). Lý do đưa tới việc tổ chức Đại hội là thực trạng chua chát của các xứ truyền giáo, khi mà các giáo đoàn trẻ chất vấn những nhóm thừa sai: “Tại sao các ông đều rao giảng một đức Kitô như nhau, mà các ông lại chia rẽ thành bao nhiêu là phe nhóm, nào là metodist, nào là luteranist, nào là episcopalist? Tại sao các ông vừa mang cho chúng tôi Tin mừng của đức Kitô mà vừa mang theo các sự phân hóa từ Âu Mỹ sang đây làm gì?” . Chính vì ý thức rằng sự chia rẽ giữa các Kitô hữu là một chướng ngại cho việc Truyền giáo, cho nên các Hội Truyền giáo mới quyết định nhóm họp lại để tìm cách thức giải quyết. Cuộc gặp gỡ giữa các Hội Truyền giáo đã dần dần đưa tới sự gặp gỡ giữa các Giáo hội dưới danh nghĩa của Hội đồng quốc tế truyền giáo (International Missionary Council) ra đời năm 1921.

Từ kinh nghiệm gặp gỡ vừa nói, dần dần nảy ra hai cơ quan khác, biểu lộ cho hai đường lối để tiến tới sự hiệp nhất: một đàng về đạo lý, một đàng về hoạt động. Cơ quan thứ nhất mang tên là Faith and Order (Pháp: Foi et Constitution. “Đức tin và Định chế) chuyên về các vấn đề đức tin và thể chế của Giáo hội. Họ đã tổ chức hai Hội nghị quốc tế ở Lausanne (1927) và Edinburgh (1937). Cơ quan thứ hai mang danh là Life and Work (Pháp: Vie et Action. “Đời sống và Hành động”) được thành hình ngay từ năm 1925 tại Hội nghị Stockholm (Thụy điển). Phương châm của họ là: “đạo lý năng gây chia rẽ, còn hành động thì sẽ gây đoàn kết”. Vì vậy việc hợp tác vào các công tác phụng sự xây dựng xã hội sẽ dần dần đưa các giáo hội xích lại với nhau.

Tuy nhiên sau hội nghị lần thứ hai tại Oxford năm 1937, họ nhận thấy rằng sự chia rẽ về đạo lý cũng mang theo những chia rẽ về quan điểm hành động. Do đó mà hai cơ quan đã đồng ý sát nhập lại thành một Tổ chức mang danh là “Hội đồng thế giới các Giáo hội” (World Council of Churches), với quy chế tạm thời được biểu quyết tại Utrecht năm 1938. (Lưu ý: dựa theo Pháp ngữ, Conseil Oecuménique des Églises trong tiếng Việt thường hay dịch là “Hội đồng đại kết các Giáo hội”, nhưng có lẽ không chỉnh lắm; có thể đối chiếu với tiếng Tây ban nha Consejo Mundial de las Iglesias). Tiếc rằng thế chiến thứ hai bùng nổ, cho nên phải chờ tới năm 1948 thì mới có thể triệu tập Đại hội đầu tiên tại Amsterdam (Hòa lan) từ ngày 22/8 tới 4/9. Tiêu chuẩn đạo lý căn bản để gia nhập Hội đồng là chấp nhận đức Kitô là Chúa Cứu thế.

Phải chờ tới năm 1961, Đại hội New Delhi mới hoàn chỉnh công thức phát biểu đạo lý căn bản như sau: “Hội đồng thế giới các Giáo hội là một hội nghị của các Giáo hội tuyên xưng đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa và là Đấng Cứu thế theo Kinh thánh; do đó họ nỗ lực thể hiện ơn gọi chung hầu làm vinh danh Thiên Chúa duy nhất, Cha, Con và Thánh Thần”. Đúng ra đây không phải là một tín biểu mới, nhưng chỉ muốn đặt ra một cơ sở tối thiểu cho các cuộc đối thoại giữa các thành viên. Thực vậy, trong quá khứ cũng như trong hiện tại, không thiếu lần có những nhóm tự xưng là Kitô hữu nhưng lại không chấp nhận thiên tính của đức Kitô hoặc không chấp nhận tín điều Chúa Ba Ngôi. Hội đồng thế giới các Giáo hội không phải là một thứ siêu Giáo hội, cũng chẳng phải là Giáo hội duy nhất mà phong trào đại kết mong đạt đến. Tổ chức này chỉ là nơi để các Giáo hội đến gặp gỡ học hỏi lẫn nhau, và tương trợ nhau trong sứ mạng truyền giáo. Trụ sở của Hội đồng đặt tại Genève.

Từ ngày thành lập tại Amsterdam năm 1948 đến nay, Hội đồng đã tổ chức các Đại hội sau đây: Evanston (1954), New Delhi (1961), Uppsala (1968), Nairobi (1975), Vancouver (1983) Canberra (1991). Đại hội lần tới được dự trù sẽ họp vào năm 1998 tại Harare (Zimbabwe).

Hiện nay có tới hơn 300 Giáo Hội đã làm thành viên của Hội đồng, trong đó có cả các Giáo hội chính thống. Giáo hội Công giáo không gia nhập Hội đồng, vì quan điểm khác nhau về Giáo hội học. Tuy nhiên, từ năm 1961, Giáo hội Công giáo gửi quan sát viên tham dự các Đại hội, và nhất là từ năm 1965 đã thành lập một nhóm làm việc chung với Hội đồng. Ngoài ra, Giáo hội Công giáo còn cử 12 đại biểu làm thành viên chính thức của Ủy ban “Đức Tin và Định chế”. Như đã nói trên đây, vai trò của ủy ban này là nghiên cứu những khía cạnh thần học nhằm tiến tới sự hợp nhất các Kitô hữu. Theo quan điểm của ủy ban, sự hợp nhất các Kitô hữu có nghĩa là sự thông hiệp trong đức tin, trong đời sống làm chứng tá Phúc âm và trong sứ mạng truyền giáo. Để tiến tới sự hiệp nhất đó, càn phải qua 3 chặng sau đây:

1/ Cùng nhau tuyên xưng một đức tin tông truyền;

2/ Nhìn nhận nơi các Giáo hội cùng có chung những yếu tố tông truyền, đặc biệt là bí tích rửa tội, Thánh thể và các tác vụ;

3/ Thiết lập những cơ chế chung nhằm bảo đảm việc chung nhau làm chứng tá, cũng như những cơ quan có thẩm quyền quyết định đường lối hành động và giảng dạy.

Chặng thứ nhất được đánh dấu với văn kiện “Tuyên xưng một niềm tin” (Confessing the One Faith) được hoàn chỉnh vào năm 1993 trong phiên họp tại Santiago de Compostela. Chặng thứ hai được tiến hành với việc tham khảo lược đồ mang tên “Rửa tội – Thánh thể – Tác vụ” (Baptism, Eucharist, Ministry, gọi tắt bằng 3 chữ đầu là BEM, soạn tại Lima năm 1982).

II. Giáo hội công giáo với Phong trào đại kết

Trong số các nhân vật mở đường cho phong trào đại kết về phía công giáo, ta có thể đến Hồng y John Henry Newman (1801-90) hồi cuối thế kỷ 19. Khi còn là phần tử của Giáo hội Anh quốc, cha Newman đã mở những cuộc hội thảo để xích lại gần Giáo hội công giáo. Ý nguyện đó vẫn tiếp tục sau khi cha gia nhập công giáo. Sang thế kỷ 20, vào những năm 1921-26, tại Malines đã có những cuộc đối thoại giữa Lord Halifax, một giáo dân Anh giáo với linh mục Portal người Pháp, dưới sự điều động của Hồng y Mercier.

Năm 1925, cha Lambert Beauduin (1873-1960) thành lập đan viện Biển đức tại Chevretogne và năm 1926, cha C.J. Dumont mở trung tâm “Istina” hướng tới việc học hỏi và đối thoại với các Giáo hội Đông phương. Năm 1933, cha Paul Couturier (1881-1953) đã mở trung tâm công giáo đại kết ở Lyon, cổ động việc cầu nguyện cho các Kito hữu được hợp nhất. Năm 1937, cha Yves Congar (1904-95) xuất bản quyển sách Chrétiens désunis. Principes d’un “oecuménisme catholique”, một tác phẩm thần học công giáo đầu tiên về đại kết.

Thế nhưng đó chỉ là những sáng kiến cá nhân. Tòa thánh tỏ ra dè dặt đối với phong trào đại kết: thông điệp Mortalium animos của đức Piô XI (6/1/1928) chấp nhận một đường lối hợp nhất duy nhất là các nhóm ly khai phải trở về với Giáo hội công giáo.

Dưới thời đức Piô XII, huấn thị De motione ecumenica của Bộ Thánh vụ (20/12/1949) hé mở cho người công giáo được phép tham gia vào các hội nghị đại kết với một số điều kiện.

Phải chờ tới khi đức Gioan XXIII đắc cử Giáo hoàng thì lập trường của Tòa thánh mới thay đổi. Sau khi loan báo triệu tập công đồng Vaticano II, vào ngày lễ Hiện xuống năm 1960 (5/6), ngài đã cho thành lập Văn phòng cổ võ sự hợp nhất các Kitô hữu do đức Hồng y Augustinô Bea (1881-1968) làm chủ tịch. Việc đối thoại đại kết trở thành một điểm then chốt trong chương trình của công đồng.

3. Giáo Hội Công Giáo Từ Vaticano II

Với Công Cuộc Đại Kết

Công Đồng Vaticano II

Sau Công Đồng Vaticano II

Những huấn thị áp dụng

Bộ giáo luật 1983

Kính thưa quý vị và các bạn,

Như đã có dịp trình bày, Văn phòng cổ võ sự hợp nhất các Kitô hữu được thiết lập ngày 5/6/1960 trong thời gian chuẩn bị công đồng Vaticano II. Cơ quan này lo tiếp xúc với các Giáo hội ngoài công giáo, để gởi các đại biểu làm quan sát viên tại công đồng (từ 40 vị vào lúc khai mạc lên tới hơn 100 vào ngày bế mạc). Văn phòng cũng đảm trách việc soạn thảo sắc lệnh của công đồng về vấn đề hợp nhất và những văn kiện chấp hành kế tiếp. Ngoài ra, cũng nên biết là Văn phòng đã chịu trách nhiệm soạn thảo tuyên ngôn về tự do tín ngưỡng.

I. Công đồng Vaticano II

Văn kiện căn bản là sắc lệnh về đại kết (Unitatis redintegratio) được ban hành ngày 21/11/1964. Tuy nhiên, vấn đề đại kết được đề cập tới ở nhiều văn kiện khác của công đồng. Chúng ta chỉ ghi nhận vài bản văn chính:

– Hiến chế về Mặc khải không những nhằm giải quyết vấn đề tương quan giữa Thánh kinh với Thánh Truyền mà Lutêrô đã gợi lên, nhưng còn nói tới việc hợp tác trong việc dịch Kinh thánh (số 22).

– Hiến chế về Hội thánh nhìn nhận rằng các Giáo hội ngoài công giáo cũng thuộc về Hội thánh của đức Kitô (số 8 và 15).

– Hiến chế về các Giáo hội Đông phương nhìn nhận rằng sự hợp nhất công giáo không loại trừ những khác biệt về phụng vụ, kỷ luật và truyền thống (số 2-3).

Sắc lệnh về Đại kết gồm có ba chương:

1) Những nguyên tắc công giáo về đại kết.

2) Việc thực hành đại kết.

3) Các Giáo hội và giáo đoàn ly khai với tông tòa Rôma.

A. Trong chương một, công đồng phát biểu những xác tín về ý nghĩa và mục tiêu của phong trào đại kết. Nên biết là trong bản dự thảo đầu tiên, tựa đề của chương một là Những nguyên tắc về việc đại kết công giáo (De oecumenismi catholici principiis); nhưng sau đó, ủy ban soạn thảo đã sửa lại là: Những nguyên tắc công giáo về việc đại kết (De catholicis oecumenismi principiis). Lý do là vì ở đây, công đồng bày tỏ lập trường của Giáo hội công giáo về vấn đề đại kết. Còn việc đại kết thì chỉ có một, chung cho hết tất cả các Kitô hữu, chứ không có chuyện đại kết công giáo, đại kết tin lành, vv.

Điều đáng chú ý là tuy rằng sự chia rẽ giữa các Kitô hữu là một thực trạng không thể chối cãi, nhưng công đồng muốn trình bày một cái nhìn khác về sự hợp nhất, đó là: giữa các Kitô hữu đã có sự hợp nhất rồi, nhưng mà chúng ta còn phải cố gắng tiến tới sự hợp nhất hoàn hảo hơn. Nói khác đi, chúng ta không đi từ chỗ chia rẽ tới chỗ hợp nhất, nhưng là đi từ sự hợp nhất bất toàn sang sự hợp nhất toàn vẹn (communio imperfecta – plena communio). Thực vậy, giữa các Kitô hữu đã có những yếu tố hợp nhất rồi: qua bí tích rửa tội, chúng ta đã đựơc tháp nhập vào thân thể của đức Kitô, đã được trở thành con Thiên Chúa, đã được lãnh nhận ân sủng của Chúa Thánh Thần. Chính những yếu tố thần linh đó thúc đẩy các Kitô hữu tìm cách biểu lộ sự hợp nhất kể cả qua những yếu tố hữu hình nữa.

Tuy vẫn thâm tín rằng Giáo hội công giáo chứa đựng cách sung mãn những yếu tố cấu thành Hội thánh của đức Kitô, nhưng công đồng nhìn nhận rằng các cộng đoàn khác cũng chứa đựng những yếu tố đó nữa. Nên biết là ở đây công đồng không bàn tới các Kitô hữu ngoài công giáo như là những cá nhân riêng rẽ, nhưng công đồng nói tới các cộng đoàn Kitô hữu ở ngoài công giáo. Riêng về trách nhiệm luân lý của hiện tượng chia rẽ, công đồng khiêm tốn nhìn nhận rằng cả hai bên đều có lỗi. Dù sao các Giáo hội ngoài công giáo không bị gọi là phe “ly giáo, lạc giáo” như trước nữa! Con đường tìm về hợp nhất được tiến hành qua sự thống hối và khẩn cầu lòng thương xót của Chúa.

B. Bước sang việc thực hành việc đại kết (trong chương hai), sắc lệnh đề ra ba hình thức: tinh thần; thần học, hợp tác. Nên biết là công cuộc đại kết không phải chỉ liên can tới các nhà lãnh đạo các giáo hội, nhưng tất cả các tín hữu cần dấn thân cho việc hợp nhất các Kitô hữu, ít là qua việc cầu nguyện và chứng tá (số 5).

1) Đại kết về tinh thần (Spiritual Ecumenism). Cuộc đối thoại đại kết giả thiết hai điều kiện tiên quyết để có thể tiến hành đó là: a/ sự canh tân hay cải cách Hội thánh (số 6); b/ sự cải hoán nội tâm của mỗi tín hữu (số 7). Cả hai đều nhằm tới sự trung thành với đức Kitô. Trong những phương thế hỗ trợ cho việc đại kết tinh thần, công đồng nhắc tới: sự tha thứ cho nhau, sống đời thánh thiện và nhất là cầu nguyện cho việc hợp nhất (số 8).

2) Đại kết về thần học. Nó bao hàm việc tìm hiểu lẫn nhau, qua việc nghiên cứu đạo lý, đối chiếu những tương đồng và khác biệt. Để cho cuộc đối thoại thần học mang lại kết quả, công đồng vạch ra cho các nhà thần học công giáo hai nguyên tác cần lưu ý khi học hỏi và trình bày đạo lý của Hội thánh. a/ Cần phải biết phân biệt đâu là “nội dung” của đạo lý, và đâu là “cách thức diễn đạt” đạo lý. Nội dung đạo lý thì không thay đổi, nhưng cách thức diễn đạt thì lệ thuộc vào những điều kiện văn hóa lịch sử. – b/ Cần phải biết phân biệt hệ cấp các chân lý (hierarchia veritatum), nghĩa là không phải tất cả các đạo lý đều có tầm quan trọng ngang nhau (số 11).  Sự hợp nhất cốt yếu về đức tin có thể bao hàm những khác biệt về nghi thức phụng tự và truyền thống kỷ luật (số 5). Công đồng lấy lại phương châm của đức Gioan XXIII: hơp nhất trong những điều cốt yế, tự do trong những gì chưa chắc, bác ái trong hết mọi trường hợp (in necessariis unitas, in dubiis libertas, in omnibus caritas).

3) Đại kết về hợp tác, nghĩa là cộng tác với nhau trong các công tác bác ái nhằm phục vụ nhân loại (số 12).

C. Sau khi đã nói tới những nguyên tắc tổng quát về lý thuyết cũng như về thực hành, công đồng bước sang phần áp dụng ở chương Ba. Chương này được phân thành hai mục rõ rệt: một đàng dành cho các Giáo hội Đông phương; đàng khác là các Giáo hội và giáo đoàn ly khai bên Tây phương. Sự phân biệt đó không phải chỉ dựa theo diễn tiến của hai giai đoạn chia rẽ trong lịch sử, nhưng nhất là dựa theo căn bản thần học: các Giáo hội Đông phương gần gũi với Công giáo hơn, về tín lý cũng như về các bí tích; còn các nhóm ly khai vào thời Cải cách không còn duy trì tất cả 7 bí tích nữa, đặc biệt là bí tích truyền chức thánh, vì thế không những đã làm thay đổi cơ cấu phẩm trật của Hội thánh mà còn gây ra những khó khăn khi bàn về giá trị của các buổi cử hành Thánh Thể và thống hối.

Chính vì dựa trên cơ cấu phẩm trật mà Sắc lệnh phân biệt giữa giáo hội và giáo đoàn. Tiếng Giáo hội (hay: Hội thánh, ecclesia) dành cho những cộng đoàn nào có chức Giám mục (điển hình là các Giáo hội Đông phương); nếu không có Giám mục thì gọi là giáo đoàn (communitas ecclesiastica). Nên biết các cơ quan đại kết ngoài công giáo không chấp nhận sự phân biệt đó. Dù sao thì trong sắc lệnh này, công đồng muốn đề cao những điểm trùng hợp hơn là nêu lên những dị biệt. Chẳng hạn khi nói tới các giáo đoàn ly khai bên Tây, văn kiện đã trình bày những yếu tố sau đây: việc tuyên xưng đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa và Trung gian giữa Thiên Chúa với loài người (số 20); lòng hâm mộ học hỏi Kinh thánh (số 21); bí tích rửa tội (số 22); sống đạo qua việc cầu nguyện và sinh hoạt xã hội (số 23).

Một cử chỉ có ý nghĩa đại kết không nhỏ vào hôm trước khi bế mạc công đồng (7/12/1965) là việc Đức Giáo hoàng Phaolo VI và đức Thượng phụ Constantinopoli Atenagora I rút lại vạ tuyệt thông từ năm 1054.

II. Sau công đồng Vaticano II

Trong số những văn kiện của Tòa thánh có liên can đến đại kết, chúng ta có thể ghi nhận: 1/ Những huấn thị áp dụng; 2/ Bộ giáo luật.

A. Những huấn thị áp dụng.

Năm 1967, Văn phòng hợp nhất đã xuất bản phần thứ nhất của Kim chỉ nam để áp dụng sắc lệnh của công đồng (Directory for the Application of the Second Vatican Council’s decisions on Ecumenism: AAS 59, 1967, 574-592).

Phần thứ hai ra đời năm 1970 (AAS 62,1970, 705-724). Sự đối thoại đại kết cần được tiến hành qua việc thiết lập những ủy ban cấp giáo phận và cấp toàn quốc, cũng như qua việc đào tạo các thành phần Dân Chúa.

Vào năm 1993, cả hai phần được duyệt lại, và đúc kết thành một tài liệu duy nhất mang tên là Kim chỉ nam áp dụng những nguyên tắc và quy chuẩn của đại kết (Directory for the application of principles and norms on ecumenism, 25/3/1993).

Tài liệu này gồm có 5 chương như sau:

1) Bản chất của việc cổ võ sự hợp nhất các Kitô hữu.

2) Những cơ quan của Giáo hội Công giáo nhằm phục vụ công cuộc đại kết.

3) Việc huấn luyện đối thoại đại kết.

4) Việc chia sẻ các bí tích và kinh nguyện giữa các Kitô hữu.

5) Sự hợp tác trong lãnh vực đối thoại và chứng tá. Chúng tôi sẽ trở lại nội dung của nó trong bài tới.

B. Bộ giáo luật latinh 1983.

Tuy là một văn kiện pháp lý chi phối nội bộ của Giáo hội công giáo, song không vì thế mà bộ giáo luật không cần biết tới chuyện đối thoại đại kết. Thực vậy bộ giáo luật đã dành ra số 755 (trong những điều khoản dẫn nhập vào quyển Ba) để nói về phong trào đại kết. Đúng ra, ở chỗ này nhà lập pháp chỉ xác định thẩm quyền điều hành công cuộc đó. Chúng ta có thể nhận thấy những khoản luật khác có tính cách thực tiễn hơn.

Thí dụ: về việc hợp tác trong việc dịch Kinh thánh (đ.825 $2); về việc tham dự các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, giải tội và xức dầu (đ.844); vấn đề hôn nhân hỗn hợp thì được bàn ở các đ. 1124-1125. Các đại biểu của các Giáo hội ngoài công giáo có thể được mời làm quan sát viên trong các công nghị giáo phận (đ.463 3).

Dù sao ảnh hưởng lớn nhất của phong trào đại kết trong việc soạn thảo bộ giáo luật được nhận thấy ở đ.11. Bộ luật cũ có tính cách bó buộc tất cả các Kitô hữu; còn bộ luật 1983 chỉ bó buộc các tín đồ của giáo hội công giáo. Một thay đổi về từ ngữ cũng được du nhập khi nói về việc gia nhập Giáo hội công giáo: từ nay sẽ không dùng từ trở lại đạo (convertire) cho một người Kitô hữu ngoài công giáo, nhưng phải nói là được đón nhận vào thông hiệp (receptus).

Bộ giáo luật Đông phương thì dành hẳn thiên XVIII cho vấn đề đại kết (de oecumenismo seu de christianorum unitate fovenda), từ đ.902-908.

4. Những Hướng Đi

Của Phong Trào Đại Kết

I. Những thành quả của cuộc đối thoại đại kết.

A. Đại kết về tinh thần.

B. Đối thoại thần học.

C. Đối thoại về hợp tác.

II. Đường còn xa lắm không ?

Kính thưa quý vị và các bạn,

Trong bài hôm nay, trước hết chúng ta hãy kiểm điểm những hướng đi của phong trào đại kết từ công đồng Vaticano II đến nay. Đồng thời, chúng ta thử tìm hiểu xem những dự án tương lai. Chúng tôi dựa trên hai tài liệu được công bố gần đây. Thứ nhất là Kim chỉ nam áp dụng những nguyên tắc và quy chuẩn của đại kết (Directory for the application of principles and norms on ecumenism) do “Hội đồng Tòa thánh cổ võ sự hợp nhất các Kitô hữu” (Pontificium Consilium ad Unitatem Christianorum Christianorum fovendam) xuất bản ngày 25/3/1993. (Nên biết rằng đây là danh xưng mới của Văn phòng Hợp nhất các kitô hữu kể từ khi cuộc cải tổ giáo triều Rôma năm 1988). Văn kiện thứ hai là thông điệp Ut unum sint của đức Gioan Phaolo II ban hành ngày 30/5/1995, (viết tắt UUS) gồm có ba chương với những tựa đề:

1) Sự dấn thân của Giáo hội công giáo vào công cuộc đại kết.

2) Các kết quả của sự đối thoại.

3) Đường còn xa lắm không?

Thông điệp trưng dẫn rất nhiều đoạn văn của công đồng Vaticano II và của Kim chỉ nam. Điểm khác biệt của thông điệp ở chỗ là một đàng kiểm điểm những thành quả do việc đối thoại; và đàng khác, phác họa những bước còn phải tiếp tục.

I. Những thành quả của cuộc đối thoại đại kết.

Khi đánh giá kết quả của công cuộc đối thoại đại kết trong thời gian 30 năm qua, thì nhiều người có cảm giác bi quan bởi vì mỗi phe cứ dậm chân tại chỗ! Thực ra thì cần thành thực thú nhận rằng không dễ gì xóa nhòa trong vòng 30 năm những vết thương và thành kiến đã mang từ bao thế kỷ. Tuy nhiên, chúng ta không nên chỉ đánh giá hậu quả của cuộc đối thoại qua các bản văn thần học hay qua những nghi thức sát nhập các Giáo hội. Chúng ta cần mở rộng tầm nhìn, hướng tới những hình thức khác nhau của cuộc đối thoại mà công đồng đã đề ra. Như chúng ta đã biết, có ba con đường chính: tinh thần; đạo lý, hợp tác.

A. Đại kết về tinh thần.

Bước đầu tiên của việc đại kết là cải hoán nội tâm. So với dĩ vãng, thiết tưởng không phải là chuyện nhỏ khi mà ngày nay các Kitô hữu không còn coi nhau như thù địch nữa nhưng họ đã biết nhìn nhận nhau như anh em. Hơn thế nữa, chúng ta không coi những người công giáo, chính thống, tin lành như là những phần tử thuộc ba tôn giáo khác nhau ! Đâu phải thế: tất cả đều là tín đồ của một tôn giáo mà thôi. Điều này được biểu lộ cách rõ rệt vào dịp các tôn giáo họp nhau để cầu nguyện cho hòa bình tại Assisi vào ngày 27/10/1986. Các tín đồ của mỗi tôn giáo cầu nguyện chung với nhau dựa theo lòng tin của mình: Ấn giáo, Phật giáo, Do thái giáo, Hồi giáo vv. Còn tất cả các Kitô hữu thì chỉ họp thành một nhóm, cho dù là công giáo, chính thống, lutero, Cải cách vv.

Trong lãnh vực thần học đại kết, ngoài việc các tín đồ Kitô giáo nhìn nhận nhau như anh em, người ta cố gắng tiến tới bước nhìn nhận các giáo hội như chị em (églises soeurs). Một dấu hiệu của tình nghĩa huynh đệ được biểu lộ qua các cuộc viếng thăm giữa các vị lãnh đạo tối cao của các Giáo hội, thí dụ các cuộc thăm viếng hỗ tương giữa ĐTC với các Thượng phụ chính thống, các Giáo chủ Cantebury của Anh giáo, hay Luther (UUS 24-25).

Trong lãnh vực đại kết tinh thần, không thể nào bỏ qua việc cầu nguyện. Ngoài những buổi cầu nguyện cho sự hợp nhất được diễn ra giữa lòng mỗi Giáo hội, còn phải kể tới các buổi cầu nguyện chung giữa các Giáo hội. Dù sao thì hằng năm hầu như hết các Giáo hội đều dành ra một tuần để cầu nguyện cho sự hợp nhất. Từ nhiều năm qua, các ý chỉ cầu nguyện được soạn do một tiểu ban hỗn hợp giữa công giáo và Hội đồng thế giới các Giáo hội. Một cử chỉ đáng để ý là năm 1994, đức Thượng phụ Constantinôpôli Bartôlômêo I đã nhận dọn những bài suy niệm các chặng đàng Thánh giá do ĐTC chủ sự ngày thứ 6 tuần thánh ở Rôma. Sang năm 1995 đến lượt của  nữ tu Minke de Vries, thuộc tu viện Tin lành Grandchamp bên Thụy sĩ.

Sự thông hiệp trong kinh nguyện đạt tới mức cao độ khi cử hành các bí tích, nhất là Thánh Thể. Giáo hội công giáo đã ra những quy luật về việc “thông công bí tích” (communicatio in sacris), với những cấp độ khác biệt tùy theo bản tính của từng bí tích cùng như đạo lý đức tin của của mỗi Giáo hội (xem bộ giáo luật latinh, đ.844; Kim chỉ nam số 122-136).

B. Đối thoại thần học.

Trên đường tìm về hợp nhất, sự đối thoại về đức ái phải đi đôi với sự đối thoại về chân lý (UUS 32). Những cuộc đối thoại thần học không phải nhằm vạch bới những điểm sai lầm, nhưng tiên vàn để đánh tan những thiên kiến, và trình bày cho nhau biết những cách thức suy tư hành động của mình. Sau đó cần phải chung nhau xét lại mức độ trung thành với chính chân lý là đức Kitô (xc UUS 33-35).

Các cuộc đối thoại thần học có thể diễn ra song phương hay đa phương.

1) Những cuộc đối thoại song phương đáng kể nhất là

– với các Giáo hội chính thống (ủy ban thần học hỗn hợp được thành lập từ năm 1980). Ba văn kiện đã được thông qua: “Mầu nhiệm Hội thánh và Thánh thể dưới ánh sáng của Chúa Ba ngôi” năm 1982; “Đức tin, bí tích và sự hợp nhất của Hội thánh” năm 1987; “Bí tích Truyền chức trong cơ chế bí tích của Hội thánh” năm 1988; chương trình làm việc dự trù văn kiện kế tiếp là “Quyền bính trong Hội thánh”.

– với các Giáo hội Đông phương đã ly khai từ công đồng Epheso và Calcedonia. Các Giáo hội này đã tuyên xưng thiên tính của đức Kitô theo đạo lý tông truyền (UUS 62).

– với các Giáo hội Luterô. Sau những thỏa thuận đã đạt về Lời Chúa (1972), Thánh Thể (1978), sự hợp nhất Giáo hội (1980; 1984) người ta hy vọng sẽ ký kết thỏa thuận về sự công chính hóa vào năm 1997.

– với Giáo hội Anh quốc: đạo lý về Thánh thể, tác vụ và quyền bính (1968), sự cứu rỗi (1987), sự thông hiệp (1990).

– với các Giáo hội khác, thì sự đối thoại tiến hành chậm hơn; tuy nhiên cũng đã có những thoả thuận với giáo hội cải cách (1984; 1990), metođist, baptist, pentecostalist …

Trên đây là nói sự đối thoại song phương giữa Công giáo và các Giáo Hội khác. Nhưng chúng ta không nên quên rằng giữa các Giáo hội ngoài Công giáo cũng có những đối thoại song phương khác.

2) Những cuộc đối thoại đa phương thường diễn ra nhờ ủy ban “Đức Tin và Định chế” (Faith and Order), với những văn kiện về “Bí tích rửa tội, thánh thể, tác vụ” (BEM), và “Bản giải thích đức tin tông truyền”.

Bên cạnh những cuộc đối thoại ở cấp hoàn cầu, cũng nên biết là còn những cuộc đối thoại ở cấp quốc gia. Đặc biệt tại Âu châu, Liên hiệp các Hội đồng giám mục của công giáo (Conférences épiscopales européennes) có những cuộc gặp gỡ thường xuyên với Hội đồng các Giáo hội Âu châu (Conférence des Eglises européennes).

Thông điệp Ut unum sint (số 79) cho biết còn có 5 điểm phải đào sâu thêm ngõ hầu có thể đạt tới sự nhất trí về đức tin: (1) mối liên hệ giữa Kinh thánh và Thánh truyền. (2) Thánh Thể như là bí tích của Mình Máu Chúa Giêsu, hiến lễ ngợi khen dâng lên Chúa Cha, hy lễ tưởng niệm và sự hiện diện của đức Kitô. (3) Bí tích truyền chức. (4) Huấn quyền của giáo hoàng và các giám mục. (5) Trinh nữ Maria. Thêm vào đó, các tuyên ngôn, kết quả của những cuộc đối thoại, cần phải được các Giáo hội tiếp nhận (receptio) và đem ra áp dụng (UUS số 80-81).

C. Đối thoại về hợp tác.

1. Hợp tác trong chứng tá đức tin. Có lẽ hình thức gây chú ý hơn cả là hợp tác trong việc dịch Kinh thánh. Nhưng đức Gioan Phaolô II muốn lưu ý tới một hình thức hùng hồn hơn nữa, đó là trong những cơn bách hại, các Kitô hữu đã cùng nhau làm chứng cho đức Kitô đến mức đổ máu đào. Các Giáo hội có thể viết chung một cuốn Tử đạo thư  (Martyrologium), (xem số 83-84 của thông điệp).

2. Hợp tác trong việc phụng sự nhân loại, tựa như bảo vệ nhân quyền, bảo vệ môi sinh, các công tác y tế từ thiện, các chương trình cứu trợ chống đói hay khi có thiên tai… (Social ecumenism).

II. Đường còn xa lắm không? (Quanta nobis est via)

Chừng nào các Kitô hữu mới được hợp thông hoàn toàn? Sự hợp thông ấy sẽ diễn ra qua hình thức nào?

Trải qua các cuộc đối thoại đại kết, nhiều đồ án khác nhau đã được đề ra.

1) Đồ án cũ nhất về phía Giáo hội công giáo là tất cả các chiên lạc phải ăn năn trở về tùng phục ĐTC. Mô hình này đã bị khai tử từ công đồng Vaticano II.

2) Một mô hình do các nhà thần học Luther đề  ra là “sát nhập hữu cơ” (organic union).

Trong một Hội thánh hợp nhất, mỗi Giáo hội hiện tại phải nhường nhịn một phần cá tính của mình ngõ hầu hợp thành một cộng đồng mới. Do đó, không phải là các Giáo hội khác phải trở về với Giáo hội công giáo, mà cả Giáo hội công giáo cũng phải nhường nhịn một số yêu sách để tiến tới hợp nhất (unity in reconciled diversity). Nguyên ủy của sự hợp nhất không hẳn là Đức Giáo hoàng.

3) Đối lại với hai mô hình vừa nói (chủ trương một nguyên ủy hợp nhất), mô hình thứ ba cho rằng nguyên ủy ấy không cần. Sự hợp nhất có thể thành hình theo mô thức “liên hiệp” (confederation), nhằm một mục tiêu hợp tác trong những lãnh vực thực tiễn (unity as solidarity). Nói khác đi, mô hình này muốn bảo vệ tính cách đa nguyên của các Giáo hội.

4) Mô hình thứ tư xin phó thác sự hợp nhất cho Chúa quan phòng. Thay vì mơ tưởng những dự án viễn vông lâu dài, một số người chủ trương đi từng bước một, qua sự nhìn nhận đạo lý và tác vụ song phương. Thí dụ tại Âu châu, các Giáo hội Luther và Calvino đã thỏa thuận với nhau về những điểm chính yếu; vì vậy họ chấp nhận cho các tín hữu đôi bên có thể tham dự vào các lễ nghi phụng tự của nhau, và các mục sư có thể đồng tế hay cử hành trong nhà thờ của đôi bên. Đây là hình thức “nhìn nhận hỗ tương” (mutual recognition).

5) Các Giáo hội chính thống thì đưa ra mô hình gọi là “thông hiệp công đồng” (conciliar fellowship): công đồng sẽ đóng vai thẩm quyền tối cao trong Hội thánh, duy trì mối hiệp thông giữa các giáo hội; còn mỗi giáo hội thì sẽ được quyền duy trì sắc thái của mình. Tiếc rằng chính các Giáo hội chính thống cũng chưa triệu tập nổi một công đồng liên chính thống nữa.

6) Về phía công giáo, một yêu sách của sự hiệp nhất là phải có một nguyên ủy ở nơi Giám mục Rôma. Điều này được đức Gioan Phaolo II tái khẳng định ở thông điệp “Ut unum sint” (số 89). Tuy nhiên, ngài cũng thêm rằng vai trò nguyên ủy ấy cần phải được hình dung theo thể thức đã có vào ngàn năm thứ nhất (số 95), trong sự thông hiệp với cộng đoàn Giám mục. Nói thế cũng có nghĩa là một Hội thánh hợp nhất không phải là một dự án tưởng tượng sẽ xảy ra trong tương lai, nhưng nó là một thực tại đã có trong lịch sử rồi. Trong quá khứ, các Giáo hội đã có kinh nghiệm chung sống với nhau, đã duy trì mối dây thông hiệp tuy dù có những khác biệt về truyền thống thần học, phụng vụ, kỷ luật.

Tuy dù mô hình hợp nhất thuộc quá khứ hay thuộc tương lai, sự thực đau thương là các Kitô hữu vẫn còn chia rẽ. Bổn phận của mỗi người chúng ta là nỗ lực góp phần vào việc kiến tạo sự hợp nhất, ít là qua việc cầu nguyện và cải hoán.

&

Tuyên Ngôn Chung

Đức Bênêdictô XVI và Đức Thượng Phụ Bathôlômêô I

(ngày 30-11-2006)

Đây là ngày Chúa đã dựng nên,

chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan trong ngày đó!”

(Tv 117:24)

Cuộc gặp gỡ huynh đệ đã đem chúng tôi, Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI của Rôma và Thượng Phụ Đại Kết Bathôlômêô I, lại với nhau là kỳ công của Thiên Chúa, và trong một nghĩa nào đó là hồng ân của ngài. Chúng tôi tạ ơn Chủ Tể của mọi điều thiện hảo, Đấng đã cho chúng tôi một lần nữa, trong kinh nguyện và trong đối thoại, được bày tỏ niềm vui chúng tôi nhận thấy như anh em với nhau, và canh tân dấn thân của chúng tôi để tiến đến sự hiệp thông hoàn toàn. Dấn thân này phát sinh từ thánh ý Chúa và từ trách nhiệm của chúng tôi như những Mục Tử của Giáo Hội Chúa Kitô. Cầu xin cho cuộc gặp gỡ này là một dấu chỉ và một niềm khích lệ đối với chúng tôi để chia sẻ cùng những cảm nhận và thái độ về tình huynh đệ, sự hợp tác và hiệp thông trong bác ái và sự thật. Thánh Thần Chúa sẽ giúp chúng tôi chuẩn bị cho ngày trọng đại tái lập lại sự hiệp thông hoàn toàn, bất cứ khi nào và theo cách thức ra sao tùy theo Ngài muốn. Khi đó chúng tôi sẽ thực sự có thể mừng rỡ hân hoan.

1. Chúng tôi đã nhắc lại với lòng đầy biết ơn những cuộc gặp gỡ của các vị tiền nhiệm đáng kính, những vị được Thiên Chúa chúc phúc, những vị đã cho thế giới thấy nhu cầu cấp thiết cho sự hiệp nhất và đã vẽ ra các con đường chắc chắn để đạt đến điều đó, qua đối thoại, kinh nguyện và cuộc sống hàng ngày của Giáo Hội. Đức Thánh Cha Phaolô Đệ Lục và Đức Thượng Phụ Athenagoras Đệ Nhất đã đến Giêrusalem như những người hành hương, đến chính nơi Đức Giêsu Kitô đã chết và đã sống lại để cứu độ thế gian, và các ngài đã lại gặp nhau tại Phanar này và tại Rôma. Các ngài để lại cho chúng tôi một tuyên ngôn chung vẫn còn giữ nguyên tất cả giá trị của nó; nhấn mạnh trong tuyên ngôn này là đối thoại thực sự trong tình bác ái cần phải được nuôi dưỡng và khích lệ trong tất cả các tương quan giữa cá nhân và giữa các Giáo Hội, và cuộc đối thoại này “phải bắt nguồn từ một lòng trung tín hoàn toàn với cùng một Chúa Giêsu Kitô và trong niềm kính trọng các truyền thống của nhau” (“Sắc chỉ Agapis”, 195). Chúng tôi cũng không quên những cuộc viếng thăm qua lại của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II và Đức Thượng Phụ Dimitrios Đệ Nhất. Chính trong chuyến viếng thăm của Đức Gioan Phaolô II, chuyến viếng thăm đại kết đầu tiên của ngài mà việc hình thành Ủy Ban Hỗn Hợp về đối thoại thần học giữa Giáo Hội Công Giáo Rôma và Giáo Hội Chính Thống đã được loan báo. Điều này đã mang các Giáo Hội của chúng tôi lại với nhau trong mục tiêu đã được tuyên bố là tái lập sự hiệp thông hoàn toàn.

Liên quan đến quan hệ giữa Giáo Hội Rôma và Giáo Hội Constantinople, chúng tôi không thể không nhắc đến cử chỉ tôn giáo long trọng thanh tẩy khỏi ký ức vạ tuyệt thông xa xưa là điều trong nhiều thế kỷ đã có tác dụng tiêu cực trên các Giáo Hội chúng tôi. Chúng ta vẫn chưa kín múc từ cử chỉ này tất cả các hệ quả tích cực có thể tuôn đổ từ đó trong tiến trình hướng đến sự hiệp nhất hoàn toàn, là điều Ủy Ban Hỗn Hợp đã được triệu tập hầu đem lại một đóng góp quan yếu. Chúng tôi hô hào các tín hữu đóng một vai trò tích cực trong tiến trình này thông qua cầu nguyện và các nghĩa cử quan trọng.

2. Khi xảy ra phiên họp khoáng đại của Ủy Ban Hỗn Hợp về đối thoại thần học được tổ chức gần đây tại Belgrade, nhờ lòng hiếu khách quảng đại của Giáo Hội Chính Thống Giáo Serbi, chúng tôi đã bày tỏ niềm vui sâu xa trước việc tái tục cuộc đối thoại thần học. Cuộc đối thoại này đã bị gián đoạn trong nhiều năm vì những khó khăn khác nhau, nhưng giờ đây Ủy Ban đã có thể hoạt động cách mới mẻ trong tình huynh đệ và hợp tác. Trong khi bàn thảo đề tài “Quyền Bính và Thẩm Quyền trong Giáo Hội” ở các cấp địa phương, miền và toàn cầu, Ủy Ban đã dành một thời gian để suy tư những hệ quả giáo hội học và giáo luật liên quan đến bản chất bí tích của Giáo Hội. Điều này sẽ cho phép chúng ta đề cập đến một số vấn nạn chủ yếu vẫn chưa được giải quyết. Chúng tôi cam kết đưa ra sự ủng hộ không ngừng, như đã làm trong quá khứ, cho công việc đã được trao phó cho Ủy Ban và chúng tôi đồng hành với các thành viên của Ủy Ban trong lời cầu nguyện của chúng tôi.

3. Trong tư cách là những Mục Tử, chúng tôi trước hết đã suy tư về sứ vụ loan báo Tin Mừng trong thế giới ngày nay. Sứ vụ “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28:19) ngày nay có tính thời sự và cần thiết hơn bao giờ, ngay cả trong các quốc gia có truyền thống Kitô Giáo. Hơn thế nữa, chúng ta không thể lơ là trước sự gia tăng của chủ nghĩa thế tục, chủ nghĩa tương đối, và ngay cả chủ nghĩa hư vô, đặc biệt trong thế giới Tây Phương. Tất cả điều này đòi hỏi một sự loan báo Tin Mừng mới mẻ và mạnh mẽ, thích hợp với những nền văn hóa của thời đại chúng ta. Các truyền thống của chúng ta đem lại cho chúng ta một gia sản cần được liên tục chia sẻ, đề nghị, và diễn dịch mới mẻ. Vì thế chúng ta cần tăng cường sự hợp tác và chứng tá chung của chúng ta trước thế giới.

4. Chúng tôi đã xem xét cách tích cực tiến trình dẫn đến sự hình thành Liên Hiệp Âu Châu. Những ai dự phần trong đề án vĩ đại này không thể không tính đến tất cả các khía cạnh đang ảnh hưởng đến những quyền bất khả nhượng của con người, đặc biệt là quyền tự do tôn giáo, là chứng tá và là bảo chứng cho sự tôn trọng các quyền tự do khác. Trong mỗi bước đi hướng đến sự hiệp nhất, những nhóm thiểu số cần được bảo vệ, với truyền thống văn hóa và những đặc thù tôn giáo của họ. Tại Âu Châu, trong khi cởi mở với mọi tôn giáo và các đóng góp văn hóa của các tôn giáo này, chúng ta phải hiệp nhất trong nỗ lực bảo tồn những căn cội, truyền thống và các giá trị Kitô Giáo, để bảo đảm sự tôn trọng lịch sử, và như vậy là đóng góp cho văn hóa Âu Châu tương lai và cho phẩm chất các mối quan hệ giữa con người với nhau ở mọi cấp. Trong bối cảnh này làm sao chúng ta lại có thể không nêu lên chính những chứng tá cổ kính và gia sản Kitô Giáo huy hoàng của miền đất nơi đang diễn ra cuộc gặp gỡ này, bắt đầu với điều Sách Công Vụ Tông Đồ nói với chúng ta về hình ảnh Thánh Phaolô, vị Tông Đồ Dân Ngoại? Trong miền đất này, sứ điệp Tin Mừng và truyền thống văn hóa cổ gặp gỡ nhau. Liên kết này, điều đã đóng góp rất nhiều cho gia sản Kitô Giáo mà chúng ta chia sẻ, vẫn còn tính thời sự và sẽ mang lại thêm nhiều hoa trái trong tương lai cho công cuộc truyền bá Tin Mừng và cho sự hiệp nhất của chúng ta.

5. Quan tâm của chúng tôi hướng đến những phần của thế giới ngày nay nơi các tín hữu Kitô sinh sống và những khó khăn họ đang gặp phải, đặc biệt là nạn nghèo đói, chiến tranh và chủ nghĩa khủng bố, cũng như những hình thức bóc lột khác nhau những người nghèo, những di dân, phụ nữ và trẻ em. Chúng ta được mời gọi để hoạt động chung với nhau hầu thăng tiến sự tôn trọng các quyền của mỗi con người, được tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa, và để nuôi dưỡng sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa. Những truyền thống thần học và luân lý của chúng ta có thể đem lại một cơ sở chắc chắn cho một giải pháp chung trong rao giảng và hành động. Trên tất cả mọi sự, chúng tôi muốn khẳng định rằng việc giết hại những người vô tội nhân danh Thiên Chúa là một xúc phạm đến Ngài và xúc phạm đến phẩm giá nhân loại. Chúng ta tất cả phải dấn thân cho sự phục vụ nhân loại được canh tân và cho sự bảo vệ sự sống con người, mỗi một sự sống con người.

Chúng tôi ghi sâu trong lòng chính nghĩa hòa bình tại Trung Đông, nơi Chúa chúng ta đã sống, đã chịu đau khổ, đã chết và đã sống lại, và là nơi một con số đông đảo anh chị em tín hữu Kitô đã và đang sống trong nhiều thế kỷ qua. Chúng tôi nhiệt thành hy vọng rằng hòa bình sẽ được tái lập trong vùng, sự cùng tồn tại trong niềm tương kính sẽ được tăng cường giữa các dân tộc khác nhau đang sống ở đó, giữa các Giáo Hội và giữa các tôn giáo trong vùng. Về điểm này, chúng tôi khích lệ sự thiết lập quan hệ gần gũi giữa anh chị em tín hữu Kitô, và một cuộc đối thoại liên tôn thực sự và chân thành, trong viễn tượng chống lại mọi hình thức bạo lực và phân biệt đối xử.

6. Hiện nay, đối diện với những đe dọa lớn lao đối với môi trường thiên nhiên, chúng tôi muốn bày tỏ sự lo lắng của mình trước những hậu quả tiêu cực đối với nhân loại và đối với toàn thể tạo vật có thể xảy ra từ tiến bộ kinh tế và kỹ thuật không biết giới hạn của nó. Như các nhà lãnh đạo tôn giáo, chúng tôi coi một trong những nghĩa vụ của mình là khích lệ và ủng hộ tất cả mọi nỗ lực đưa ra hầu bảo vệ kỳ công sáng tạo của Thiên Chúa, và để lưu lại cho các thế hệ mai sau một thế giới mà họ có thể sống được.

7. Cuối cùng, ý nghĩ chúng tôi hướng đến tất cả anh chị em, các tín hữu của hai Giáo Hội trên khắp thế giới, các Giám Mục, linh mục, phó tế, những tu sĩ nam nữ, anh chị em giáo dân đang dự phần vào các sứ vụ của giáo hội, và tất cả những ai đã chịu Phép Rửa. Trong Chúa Kitô, chúng tôi cũng chào thăm những tín hữu Kitô khác, trong khi bảo đảm với họ về những lời cầu nguyện của chúng tôi và sự cởi mở trong đối thoại và hợp tác. Dựa theo những lời của vị Tông Đồ Dân Ngoại, chúng tôi chào tất cả anh chị em: “Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta và xin Chúa Giê-su Kitô ban cho anh em ân sủng và bình an.” (2 Cr 1:2).

Tại Phanar, ngày 30 tháng 11 năm 2006

+ Bênêđíctô XVI và Bathôlômêô I

J.B. Đặng Minh An dịch

 (Trích : VietCatholicNews 01/12/2006)

ÿ

Sắc Lệnh Về Hiệp Nhất (Unitatis Redintegratio)

Bản dịch của Giáo Hoàng Học Viện Piô X

Phaolô Giám Mục

Tôi Tớ Các Tôi Tớ Thiên Chúa

Hiệp Nhất Với Các Nghị Phụ Của Thánh Công Ðồng

Ðể Muôn Ðời Ghi Nhớ

Lời Mở Ðầu

1. Cổ động việc tái lập sự hiệp nhất giữa toàn thể các Kitô hữu là một trong những mục tiêu chính của Thánh Công Ðồng Chung Vaticanô II. Quả thực, Chúa Kitô đã thiết lập một Giáo Hội và chỉ một Giáo Hội duy nhất, nhưng nhiều cộng đồng Kitô giáo tự xưng với mọi người mình là di sản đích thực của Chúa Kitô; thật vậy, tất cả đều xưng mình là môn đệ của Chúa nhưng lại cảm nghĩ và đi theo những đường lối khác nhau như thể chính Chúa Kitô bị phân rẽ vậy. Quả thực, sự phân rẽ này hiển nhiên vừa trái ngược với ý muốn của Chúa Kitô vừa là gương xấu cho thế giới và phương hại cho công cuộc rất thánh thiện là rao giảng Phúc Âm cho mọi tạo vật.

Tuy vậy, Chúa các thế hệ, Ðấng tiếp tục chương trình thi ân cách khôn ngoan và nhẫn nại đối với chúng ta là những kẻ tội lỗi, trong những ngày gần đây đã bắt đầu đổ dồi dào tinh thần thống hối và ước vọng hiệp nhất trên các Kitô hữu còn đang chia rẽ với nhau. Rất nhiều người ở khắp nơi được khích lệ bởi ơn này và nhờ ơn Chúa Thánh Thần tác động, một phong trào tái lập sự hiệp nhất mọi Kitô hữu cũng được phát khởi mỗi ngày một rộng rãi hơn nơi những anh em phân ly với chúng ta. Tham dự phong trào tìm về hiệp nhất này, cũng được mệnh danh là phong trào hiệp nhất, là những người cầu khẩn Chúa Ba Ngôi và tuyên xưng Chúa Giêsu là Chúa và là Ðấng Cứu Thế, không những từng cá nhân riêng rẽ, mà còn tụ họp lại nơi những cộng đoàn trong đó họ đã được nghe Phúc Âm, và mỗi người gọi các cộng đoàn ấy là Giáo Hội của họ và của Thiên Chúa. Tuy nhiên hầu như tất cả, dầu mỗi người mỗi cách, đều ngưỡng vọng một Giáo Hội duy nhất và hữu hình của Thiên Chúa, một Giáo Hội thực sự phổ quát và được sai đến với toàn thể thế giới, để thế giới trở về với Phúc Âm và nhờ vậy, được cứu rỗi hầu làm vinh danh Thiên Chúa.

Vì vậy, một khi hoan hỷ cứu xét tất cả những điều ấy, và sau khi công bố học thuyết về Giáo Hội, Thánh Công Ðồng này cũng thiết tha mong mỏi tái lập hiệp nhất giữa tất cả các môn đệ Chúa Kitô, nên muốn cung ứng cho mọi người Công Giáo sự trợ lực, đường lối và phương sách để họ có thể đáp ứng lời mời gọi và ân sủng của Thiên Chúa .

Chương I

Các Nguyên Tắc Công Giáo Về Hiệp Nhất

2. Giáo Hội hiệp nhất và duy nhất. Tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta đã hiển hiện trong việc Con Một Thiên Chúa đã được Chúa Cha sai đến thế gian, để một khi hóa thân làm người, Người tái sinh toàn thể nhân loại bằng cách cứu chuộc họ và đoàn tụ họ nên một. Trước khi tự hiến làm lễ vật tinh tuyền trên thánh giá, Người đã cầu cùng Chúa Cha cho các tín hữu rằng: “Xin cho hết thảy được hiệp nhất như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha vậy, để chính họ cũng được nên một trong Ta và cho thế gian tin rằng Cha đã sai Con” (Ga 17,21). Người đã thiết lập trong Giáo Hội của Người nhiệm tích Thánh Thể kỳ diệu, vừa là dấu chỉ vừa thể hiện sự hiệp nhất của Giáo Hội. Người ban cho các môn đệ Người một giới răn mới là tình yêu thương nhau, và hứa ban Thánh Thần an ủi, Ðấng vừa là Chúa vừa ban sự sống để ở với họ mãi mãi.

Sau khi đã chịu treo trên thập giá và được vinh hiển, Chúa Giêsu ban Thánh Thần Người đã hứa. Nhờ Thánh Thần ấy, Người đã kêu gọi và đoàn tụ dân của Giao Ước Mới, tức là Giáo Hội trong cùng một đức tin, đức cậy và đức mến như Thánh Tông Ðồ dạy: “Chỉ có một thân thể và một Thánh Thần cũng như anh em được kêu gọi bằng một hy vọng của ơn kêu gọi anh em: một Chúa, một Ðức Tin, một phép Rửa” (Ep 4,4-5). “Thực vậy, những ai được rửa tội trong Chúa Kitô, đều mặc lấy Chúa Kitô… Vậy, tất cả đều là một trong Chúa Giêsu Kitô” (Gl 3,27-28), Bản Hy Lạp). Chúa Thánh Thần ngự trong lòng các tín hữu, đổ đầy ơn và cai trị Giáo Hội, Ngài thực hiện sự thông hiệp kỳ diệu ấy nơi các tín hữu, và liên kết tất cả trong Chúa Kitô cách mật thiết đến nỗi Ngài chính là Nguyên Lý Hiệp Nhất Giáo Hội. Ngài phân phát các ân sủng và phận vụ để nhờ có nhiều chức vụ khác nhau mà Giáo Hội Chúa Kitô nên phong phú “hầu cho các thánh được hoàn thiện trong việc thi hành chức vụ và trong việc xây dựng thân thể Chúa Kitô” (Ep 4,12).

Nhưng để thiếp lập Giáo Hội thánh thiện của Người khắp nơi trên mặt đất cho tới tận thế, Chúa Kitô đã ủy thác cho cộng đoàn mười hai Tông Ðồ nhiệm vụ giáo huấn, cai trị và thánh hóa. Trong số ấy Chúa đã chọn Phêrô và đã công bố xây dựng Giáo Hội trên Phêrô sau khi ông tuyên xưng đức tin. Người hứa trao chìa khóa nước trời cho Phêrô và sau khi ông đã tuyên xưng tình yêu đối với Người, Người trao phó toàn thể đoàn chiên cho ông để ông củng cố trong đức tin và chăn dắt trong sự hiệp nhất hoàn toàn, trong khi ấy, Chúa Giêsu Kitô đời đời vẫn là đá góc và chủ chăn linh hồn chúng ta.

Nhờ các Tông Ðồ và những người kế vị các ngài, là các Giám Mục cùng với thủ lãnh là đấng kế vị Thánh Phêrô, trung thành rao giảng Phúc Âm và ban phát các bí tích, lại nhờ sự điều khiển yêu thương dưới tác động của Thánh Thần, Chúa Kitô muốn dân Người lớn lên và hoàn thành sự thông hiệp trong hiệp nhất, nghĩa là: cùng tuyên xưng một đức tin, cùng cử hành một nghi lễ phụng tự, cùng hòa hợp trong tình huynh đệ của gia đình Thiên Chúa.

Như thế, Giáo Hội là đoàn chiên duy nhất của Thiên Chúa, như dấu chỉ nêu cao cho muôn dân, khi đem Phúc Âm hòa bình phục vụ toàn thể nhân loại. Giáo Hội hành trình trong hy vọng tiến về cùng đích là quê trời.

Ðó là mầu nhiệm thánh của sự hiệp nhất Giáo Hội trong Chúa Kitô và nhờ Chúa Kitô, dưới tác động của Thánh Thần trong nhiều phận vụ khác nhau. Mẫu mực tối cao và nguyên lý của mầu nhiệm này là sự hiệp nhất trong Ba Ngôi của một Thiên Chúa duy nhất là Cha và Con trong Thánh Thần.

3. Tương quan giữa anh em ly khai và Giáo Hội Công Giáo. Ngay từ buổi sơ khai, trong Giáo Hội độc nhất và duy nhất của Thiên Chúa đã xuất hiện  ít nhiều rạn nứt mà Thánh Tông Ðồ đã nặng lời quở trách như là đáng kết án. Nhưng trong các thời đại kế tiếp, phát sinh nhiều phân rẽ trầm trọng hơn và nhiều cộng đoàn đáng kể đã hoàn toàn ly khai khỏi sự hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo, mà đôi khi cũng tại lỗi những người ở cả hai bên. Vậy ngày nay, những người sinh trưởng trong các Cộng Ðoàn ấy và thấm nhuần đức tin nơi Chúa Kitô không thể bị kết tội chia rẽ và Giáo Hội Công Giáo kính trọng, yêu thương họ như anh em. Thật vậy những người tin ở Chúa Kitô và đã được rửa tội đúng phép vẫn còn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo một cách nào đó cho dầu không được hoàn hảo. Hiển nhiên là các dị biệt dưới nhiều hình thức giữa họ và Giáo Hội Công Giáo về vấn đề giáo lý, đôi khi về kỷ luật hay cơ cấu Giáo Hội, gây cho việc hiệp thông đầy đủ với Giáo Hội khá nhiều trở ngại và có khi lại là những trở ngại lớn lao mà phong trào hiệp nhất đang cố gắng vượt qua. Tuy nhiên một khi đã được công chính hóa nhờ đức tin khi chịu phép rửa tội, họ đã được tháp nhập vào Chúa Kitô và vì thế có quyền mang danh Kitô hữu và xứng đáng được con cái của Giáo Hội Công Giáo nhìn nhận là anh em trong Chúa.

Hơn nữa, trong các yếu tố hoặc tài sản xây dựng và làm sống động Giáo Hội, một số khá nhiều và tuyệt hảo có thể không nằm trong bình diện hữu hình của Giáo Hội Công Giáo như: Lời Chúa ghi chép trong Thánh Kinh, đời sống trong ơn thánh, đức tin, cậy, mến và các ơn nội tâm do Thánh Thần ban, cùng những yếu tố hữu hình: tất cả đã phát sinh từ Chúa Kitô và dẫn đưa về chính Người, thì đương nhiên cũng thuộc về quyền Giáo Hội duy nhất của Người.

Các anh em ly khai với chúng ta cũng cử hành nhiều lễ nghi phụng vụ của Kitô giáo. Những lễ nghi ấy, chắc chắn có thể thực sự phát sinh đời sống ơn thánh và phải được công nhận là đường đưa đến sự thông hiệp vào ơn cứu rỗi, tuy cách thức có khác nhau tùy hoàn cảnh của mỗi Giáo Hội hay Cộng Ðoàn.

Do đó, dù chúng ta tin là họ còn khiếm khuyết, nhưng chính các Giáo Hội và các Cộng Ðoàn tách riêng ấy vẫn chưa trở thành vô nghĩa và vô giá trị trong mầu nhiệm cứu rỗi. Thật vậy, Thánh Thần của Chúa Kitô không khước từ sử dụng họ như những phương tiện cứu rỗi mà năng lực phát xuất từ chính sự sung mãn của ơn thánh và chân lý đã được ủy thác cho Giáo Hội Công Giáo.

Nhưng các anh em tách riêng khỏi chúng ta, cá nhân cũng như Cộng Ðoàn và các Giáo Hội của họ, không được hưởng sự hiệp nhất đã được Chúa Giêsu Kitô rộng ban cho những kẻ Người đã tái sinh và cho sống chung trong một thân thể duy nhất và trong đời sống mới, sự hiệp nhất mà Thánh Kinh và Truyền Thống đáng kính của Giáo Hội đều tuyên xưng. Chỉ nhờ Giáo Hội Công Giáo của Chúa Kitô là “phương thế cứu rỗi chung” ta mới có thể đạt được đầy đủ các phương tiện cứu rỗi. Thật ra chúng tôi tin Chúa đã ủy thác cho Cộng Ðoàn Tông Ðồ được Phêrô lãnh đạo tất cả sản nghiệp Tân Ước để tạo thành một thân thể duy nhất của Chúa Kitô ở trần gian. Tất cả những ai đã thuộc về dân Chúa một cách nào đó đều phải tháp nhập vào thân thể ấy. Trên đường lữ thứ trần gian, mặc dù các chi thể còn có thể phạm tội, dân Chúa vẫn lớn lên trong Chúa Kitô và được Thiên Chúa dịu dàng hướng dẫn theo chương trình nhiệm mầu của Người cho đến khi họ sung sướng đạt tới vinh quang trường cửu và sung mãn trong thành Giêrusalem trên trời.

4. Phong trào hiệp nhất. Vì ngày nay ở nhiều nơi trên thế giới, nhờ ơn Chúa Thánh Thần thúc đẩy, rất nhiều cố gắng nhằm tiến tới hiệp nhất đầy đủ theo ý muốn của Chúa Giêsu Kitô đang được thực hiện bằng kinh nguyện, lời nói, việc làm, nên Thánh Công Ðồng này khuyến khích tất cả mọi người công giáo hãy nhận ra các dấu chỉ thời đại để khéo léo tham gia vào công cuộc hiệp nhất.

Phải hiểu danh từ “phong trào hiệp nhất” là những hoạt động và sáng kiên được phát động và tổ chức nhằm cổ võ sự hiệp nhất các Kitô hữu, tùy theo những nhu cầu khác nhau của Giáo Hội và những thời cơ thuận tiện. Trước hết như là mọi cố gắng loại bỏ những lời nói, phán đoàn và việc làm không đúng với hoàn cảnh của các anh em ly khai xét theo công bình và chân lý, vì nếu không sẽ gây thêm khó khăn trong việc giao tiếp với họ. Thứ đến là trong các buổi hội thảo với tinh thần tôn giáo giữa các Kitô hữu thuộc nhiều Giáo Hội hay Cộng Ðoàn khác nhau, có sự “đối thoại” giữa các nhà chuyên môn thấu triệt vấn đề, và mỗi người sẽ giải thích cặn kẽ giáo lý của Cộng Ðoàn mình và trình bày minh bạch những nét độc đáo của giáo lý ấy. Có đối thoại như thế mọi người mới hiểu biết đúng hơn và tôn trọng đúng mức giáo lý cũng như đời sống của mỗi Cộng Ðoàn; cũng nhờ đó mà các Cộng Ðoàn dần dần hợp tác được với nhau rộng rãi hơn trong mọi công cuộc mưu ích chung mà lương tâm Kitô hữu nào cũng đòi hỏi; lại cũng nhờ đó, họ hợp nhau cầu nguyện chung mỗi khi có cơ hội thuận tiện. Sau cùng mọi người hãy kiểm điểm coi mình có trung thành với ý muốn của Chúa Kitô về Giáo Hội không, để rồi hăng hái tiến hành việc canh tân và cải tổ đúng như bổn phận đòi hỏi.

Khi các tín hữu của Giáo Hội Công Giáo khôn ngoan và kiên nhẫn thực hiện tất cả các điều ấy dưới sự giám sát của các chủ chăn tức là họ đã đóng góp cho việc thực hiện công bình và chân lý, sự hòa thuận và hợp tác, tình huynh đệ và đoàn kết. Với đường hướng này, khi đã vượt được mọi trở ngại ngăn cản sự hiệp thông hoàn toàn của Giáo Hội, dần dần mọi Kitô hữu sẽ đoàn tụ qua việc cử hành Phép Thánh Thể duy nhất, hiệp nhất trong một Giáo Hội độc nhất; sự hiệp nhất mà Chúa Kitô từ ban đầu đã rộng ban cho Giáo Hội của Người. Chúng tôi tin rằng sự hiệp nhất ấy tồn tại mãi trong Giáo Hội Công Giáo và hy vọng rằng mỗi ngày sẽ bành trướng thêm cho đến tận thế.

Dĩ nhiên, công cuộc chuẩn bị và hòa giải của những cá nhân riêng rẽ, những người ao ước hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo, tự bản tính khác với phong trào hiệp nhất; tuy nhiên, chúng không đối lập nhau vì cả hai đều do sự an bài kỳ diệu của Thiên Chúa.

Trong khi hoạt động cổ võ sự hiệp nhất, chắc chắn các tín hữu công giáo phải tỏ ra ân cần đối với các anh em ly khai, cầu nguyện cho họ, thông đạt cho họ các việc của Giáo Hội, khởi xướng bước đầu đi đến với họ. Trước hết cần thành thực và chú ý cân nhắc những gì phải canh tân và thực hiện trong chính Gia Ðình Công Giáo để đời sống của Giáo Hội làm chứng cách trung thành và rõ rệt hơn về giáo lý và những định chế do Chúa Kitô truyền lại qua các Thánh Tông Ðồ.

Dù Giáo Hội Công Giáo được thừa hưởng toàn thể chân lý do Chúa mạc khải và tất cả những phương tiện ban ân sủng, nhưng các phần tử của Giáo Hội lại chưa nhiệt thành sống các mầu nhiệm ấy cho đủ nên khuôn mặt của Giáo Hội ít chiếu giãi rực rỡ trước mặt các anh em ly khai và toàn thế giới, và nước Chúa cũng chậm bành trướng. Vì thế, tất cả mọi người Công Giáo phải hướng đến sự hoàn thiện Kitô giáo, mỗi người phải tùy theo hoàn cảnh của mình cố gắng làm cho Giáo Hội, tuy đang mang trên mình sự khiêm tốn và hy sinh của Chúa Kitô, mỗi ngày một thêm trong sạch và mới mẻ cho tới khi Chúa Kitô cho trình diện trước mặt mình Giáo Hội vinh quang không một vết ố, nét nhăn.

Khi bảo toàn sự hiệp nhất trong những điều thiết yếu, hết mọi người trong Giáo Hội, tùy theo chức vụ được giao phó, cần giữ sự tự do phải có trong những hình thức khác nhau về đời sống thiêng liêng và kỷ luật trong các lễ nghi phụng tự và ngay cả trong việc khảo cứu thần học về các chân lý mạc khải: nhưng trong mọi việc, hãy thực hành đức bác ái. hành động như thế, chính họ sẽ biểu hiện càng ngày càng đầy đủ hơn tính cách công giáo và tông truyền chính danh của Giáo Hội.

Ðàng khác, người công giáo cần phải vui mừng nhìn nhận và tôn trọng những giá trị thật sự Kitô giáo, xuất phát từ cùng một gia sản chung được tìm thấy nơi các anh em ly khai. Nhìn nhận những kho tàng phong phú của Chúa Kitô và những hoạt động của quyền lực Người trong đời sống của những kẻ đang làm chứng về Người – và có khi phải đổ máu mới nói lên được – quả là chính đáng và có giá trị cứu rỗi : vì Thiên Chúa luôn đáng khâm phục và việc Ngài làm bao giờ cũng kỳ diệu.

Cũng đừng quên rằng những gì do ơn Chúa Thánh Thần thực hiện nơi các anh em ly khai cũng có thể góp phần xây dựng chúng ta. Bất cứ những gì thực sự Kitô giáo đều không bao giờ đối lập với những chân giá trị của đức tin, trái lại còn luôn luôn có thể giúp chúng ta đi sâu hơn vào chính mầu nhiệm của Chúa Kitô và Giáo Hội.

Tuy nhiên, sự chia rẽ giữa các Kitô hữu ngăn trở Giáo Hội thực hiện đầy đủ tính cách công giáo riêng biệt của mình nơi những con cái tuy đã thuộc về Giáo Hội nhờ phép Rửa, nhưng còn xa cách chưa hoàn toàn thông hiệp với Giáo Hội. Hơn nữa, chính Giáo Hội cũng diễn tả khó khăn hơn tính cách công giáo đầy đủ của mình dưới mọi khía cạnh trong đời sống thực tế.

Thánh Công Ðồng sung sướng nhận thấy sự tham gia hoạt động cổ võ việc hiệp nhất của các tín hữu công giáo đang ngày càng phát triển và giao phó công việc ấy cho các Giám Mục ở khắp nơi trên toàn thế giới để các ngài khéo léo cổ võ và khôn ngoan hướng dẫn công cuộc này.

Chương II

Cách Tham Dự Phong Trào Hiệp Nhất

5. Mọi người phải lưu tâm đến sự hiệp nhất. Mối bận tâm tái lập hiệp nhất liên hệ đến toàn thể Giáo Hội, tín hữu cũng như chủ chăn, mỗi người đều phải lưu tâm tùy theo sức riêng của mình, hoặc trong đời sống Kitô hữu thường nhật, hoặc trong các công trình khảo cứu thần học và sử học. Nỗi bận tâm này chứng tỏ một phần nào sự liên kết huynh đệ vốn tiềm tàng giữa các Kitô hữu và dẫn đưa tới sự hiệp nhất đầy đủ và toàn hảo theo lòng nhân hậu của Thiên Chúa.

6. Canh tân Giáo Hội. Vì mọi việc canh tân Giáo Hội cốt yếu nhằm sống trung thành với ơn gọi của Giáo Hội hơn, nên chắc chắn đó là lý do giải thích tại sao có phong trào hiệp nhất. Trên đường lữ hành, Giáo Hội được Chúa Kitô mời gọi canh tân luôn mãi, một sự canh tân mà Giáo Hội vì là một định chế nhân trần, bao giờ cũng cần đến. Do đó, nếu vì hoàn cảnh mà tuân giữ ít chu đáo một vài điểm hoặc về luân lý hoặc về kỷ luật Giáo Hội hoặc cả trong cách trình bày giáo lý – cách trình bày này phải được thận trọng phân biệt với chính kho tàng đức tin – thì phải lo cải tổ cho đúng mức khi thuận tiện.

Vì thế, sự canh tân này có giá trị rất lớn đối với công cuộc hiệp nhất. Giáo Hội thực hiện cuộc canh tân ấy bằng nhiều hình thức khác nhau của đời sống Giáo Hội như phong trào Thánh Kinh và phụng vụ, việc rao giảng lời Chúa và giáo lý, hoạt động tông đồ giáo dân, những hình thức mới trong đời tu trì, nền đạo đức hôn nhân, học thuyết và hoạt động xã hội của Giáo Hội; phải coi những hình thức ấy như là đảm bảo và là điềm báo những tiến bộ tương lai của phong trào hiệp nhất.

7. Hoán cải tâm hồn. Không thể có phong trào hiệp nhất chính danh mà không có sự hoán cải nội tâm. Thật vậy, những ước vọng hiệp nhất bắt nguồn và chín mùi nhờ sự đổi mới tâm trí, từ bỏ chính mình và bác ái một cách hết sức quảng đại. Vì thế, phải nguyện xin Chúa Thánh Thần, ban cho chúng ta ơn thành thật quên mình, khiêm nhượng và hiền hòa trong khi phục vụ, quảng đại trong tình huynh đệ đối với tha nhân. Vị Tông Ðồ dân ngoại đã nói: “Tôi đây tù nhân trong Chúa, tôi khẩn khoản nài xin anh em hãy tiến bước đàng hoàng theo ơn kêu gọi mình đã được với tất cả lòng khiêm nhượng và hiền hậu, hãy nhẫn nại chịu đựng nhau trong đức ái; hãy lo lắng duy trì sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần trong mối dây hòa bình” (Ep 4,1-3). Lời khuyên nhủ ấy trước hết liên hệ đến những ai được nhắc lên chức thánh để tiếp tục sứ mệnh Chúa Kitô, Người đến giữa chúng ta “không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ người ta” (Mt 20,28).

Lời chứng sau đây của Thánh Gioan vốn còn giá trị trước những lỗi lầm hủy hoại hiệp nhất: “Nếu ta nói rằng mình vô tội, ta kể Người là kẻ dối trá và Lời của Người không ở trong chúng ta” (1Ga 1,10). Vậy chúng ta hãy khiêm nhường xin lỗi Chúa và xin lỗi những anh em ly khai, cũng như chúng ta tha kẻ có nợ chúng ta.

Hết mọi Kitô hữu hãy nhớ luôn là càng cố gắng sống trong sạch hơn theo Phúc Âm, càng cổ võ và thực hiện sự hiệp nhất các Kitô hữu cách hữu hiệu hơn. Càng kết hiệp mật thiết với Chúa Cha, Chúa Con và Thánh Thần, họ càng dễ dàng thắt chặt tình tương thân tương ái với nhau hơn.

8. Hiệp nhất trong lời nguyện. Sự hoán cải tâm hồn và đời sống thánh thiện làm một với những lời khẩn cầu chung hay riêng cho sự hiệp nhất các Kitô hữu phải được coi như là linh hồn của tất cả phong trào hiệp nhất và xứng đáng mệnh danh là “sự hiệp nhất thiêng liêng”.

Người công giáo thường có thói quen hội nhau để cầu nguyện cho Giáo Hội được hiệp nhất, lời cầu nguyện mà chính Ðấng Cứu Thế trước ngày tử nạn đã khẩn khoản dâng lên Chúa Cha: “Xin cho tất cả nên một” (Ga 17,21).

Trong vài trường hợp đặc biệt, chẳng hạn như những dịp được chính thức tổ chức để cầu nguyện “cho hiệp nhất” và trong các buổi hội thảo về hiệp nhất, chẳng những người công giáo được phép mà còn phải được khuyến khích hiệp nhau cầu nguyện với anh em ly khai. Những kinh nguyện chung như thế là phương tiện rất hữu hiệu để xin ơn hiệp nhất và tiêu biểu thực sự mối dây còn đang liên kết người công giáo với anh em ly khai: “Vì đâu có hai ba người nhân danh Thầy hội họp lại, Thầy sẽ giữa họ” (Mt 18,20).

Nhưng không được phép áp dụng bừa bãi việc “thông dự vào sự thánh” như phương thế để tái lập hiệp nhất các Kitô hữu. Việc thông dự ấy đặc biệt tùy thuộc hai nguyên tắc: biểu hiệu sự duy nhất của Giáo Hội và tham dự các phương tiện ban ân sủng. Nhiều khi, việc biểu hiệu sự duy nhất của Giáo Hội ngăn trở sự hiệp thông, nhưng đôi khi nhu cầu ban ân sủng lại khuyến khích sự hiệp thông ấy. Về phương cách hành động trong thực tế, hãy theo mọi hoàn cảnh thời gian, không gian và nhân sự được Giám Mục bản quyền khôn ngoan định đoạt, trừ khi Tòa Thánh hay Hội Ðồng Giám Mục theo qui chế riêng ấn định thể khác.

9. Tìm hiểu nhau. Phải biết tâm trạng của các anh em ly khai. Vì thế, cần tìm hiểu họ trong chân lý và với lòng nhân hậu. Người công giáo đã được chuẩn bị đầy đủ cần phải tìm hiểu sâu rộng hơn về học thuyết và lịch sử, về đời sống tu đức và phụng tự, về tâm lý tôn giáo và văn hóa riêng của anh em ly khai. Ðể đạt được kết quả ấy, các buổi hội thảo song phương, nhất là khi bàn về các vấn đề thần học, sẽ giúp ích rất nhiều. Trong các cuộc hội thảo ấy, mọi người được bình đẳng bàn luận, miễn là những người tham dự, dưới sự giám sát của Giám Mục, thật sự là những nhà chuyên môn. Nhờ đối thoại như thế lập trường của Giáo Hội Công Giáo được nhận thức rõ ràng hơn. Rồi cũng như thế tư tưởng của anh em ly khai được am hiểu hơn và chúng ta có thể trình bày đức tin cho họ cách thích hợp hơn.

10. Sự huấn luyện trên phương diện hiệp nhất. Thần học và các môn học khác, nhất là sử học, cũng phải được trình bày theo chiều hướng hiệp nhất hầu đáp ứng với thực tại cách chính xác hơn.

Vậy các chủ chăn và linh mục tương lai phải am tường khoa thần học đã được trình bày xác đáng như thế, chứ đừng theo lối bút chiến, nhất là trong những vấn đề liên hệ đến những tương quan giữa Giáo Hội Công Giáo và các anh em ly khai.

Sự giáo dục và huấn luyện tu đức thiết yếu của các tín hữu và tu sĩ tùy thuộc rất nhiều ở nền giáo dục của các linh mục.

Người công giáo dấn thân hoạt động truyền giáo trong những phần đất chung với các Kitô hữu khác, nhất là trong lúc này, phải am tường các vấn đề và các thành quả do phong trào hiệp nhất đem đến cho việc tông đồ của họ.

11. Cách thức diễn tả và trình bày đức tin. Phương pháp và cách diễn tả đức tin công giáo không được gây trở ngại cho việc đối thoại với những người anh em. Cần phải trình bày rõ ràng nguyên vẹn giáo lý. Không gì phá hoại hiệp nhất cho bằng chủ trương xu thời sai lệch, nó làm tổn thương giáo lý công giáo thuần túy và làm lu mờ ý nghĩa đích thực và chắc chắn của những giáo lý này.

Ðồng thời, đức tin công giáo phải được giải thích sâu xa và chính xác hơn bằng cách thức và ngôn từ để các anh em ly khai có thể hiểu đúng nghĩa.

Hơn nữa, khi cùng các anh ly khai tìm hiểu các mầu nhiệm của Thiên Chúa trong cuộc đối thoại hiệp nhất, các nhà thần học công giáo gắn bó với giáo lý của Giáo Hội, phải tiến hành với lòng yêu mến chân lý, bác ái và khiêm nhường. Khi so sánh các giáo lý với nhau, phải nhờ rằng có một “phẩm trật” trong các chân lý của giáo lý công giáo vì liên hệ giữa các chân lý ấy với nền tảng đức tin không đồng đều. Quan niệm như thế tức là đã vạch ra được một đường hướng để nhờ sự tranh đua thân hữu, tất cả được thúc đẩy tìm hiểu sâu rộng và biểu hiệu rõ ràng hơn nguồn phong phú khôn lường của Chúa Kitô.

12. Cộng tác với anh em ly khai. Trước mặt muôn dân, toàn thể các Kitô hữu hãy tuyên xưng đức tin vào Thiên Chúa duy nhất và Ba Ngôi, vào Con Thiên Chúa nhập thể, cứu chuộc và là Chúa chúng ta; và trong sự tôn trọng lẫn nhau, hãy cùng nỗ lực làm chứng cho niềm trông cậy của chúng ta, niềm trông cậy không bao giờ luống công. Vì ngày nay sự hợp tác trong các hoạt động xã hội đang được thiết lập rộng rãi, nên hết mọi người đều được kêu gọi để chung lưng làm việc, huống chi những người tin nơi Chúa nhất là các Kitô hữu, vì họ đã được mang danh Chúa Kitô. Sự hợp tác của tất cả các Kitô hữu nói lên cách hùng hồn tình liên kết đang thắt chặt họ lại với nhau và biểu dương khuôn mặt của Chúa Kitô Tôi Tớ cách rực rỡ hơn. Sự hợp tác này đã được thiết lập trong nhiều quốc gia và cần được cải thiện thêm mãi, nhất là trong những vùng tiến bộ về mặt xã hội cũng như kỹ thuật bằng cách làm cho nhân phẩm được tôn trọng đúng mức, bằng cách cổ võ hòa bình hoặc nỗ lực áp dụng Phúc Âm vào đời sống xã hội, bằng cách phát triển khoa học và nghệ thuật trong tinh thần Kitô giáo, bằng cách áp dụng đủ loại phương dược chống các khổ nạn của thời đại chúng ta, như nạn đói ăn, thiên tai, mù chữ, nghèo túng, vô gia cư, bất bình đẳng trong việc phân phối phẩm vật. Nhờ sự cộng tác ấy, tất cả mọi kẻ tin vào Chúa kitô có thể dễ dàng học hỏi cho biết cách tìm hiểu, tôn trọng nhau hơn và dọn đường tiến tới hiệp nhất các Kitô hữu.

Chương III

Các Giáo Hội Và Cộng Ðoàn Giáo Hội

Ly Khai Với Tông Tòa Roma

13. Phân loại. Giờ đây, chúng ta đưa mắt nhìn đến hai khối phân ly chính xúc phạm đến chiếc áo liền một tấm của Chúa Kitô.

Khối phân ly thứ nhất đã nẩy sinh ở Ðông Phương, hoặc vì để phản đối các công thức tín lý của các Công Ðồng Ephêsô và Calcedonia, hoặc sau này vì sự cắt đứt hiệp thông           Giáo Hội giữa các Giáo Chủ Ðông Phương và Tòa Thánh Roma.

Thứ đến, hơn bốn thế kỷ sau, khối phân ly thứ hai phát sinh ở Tây Phương do những biên cố cùng được mệnh danh là Cải Cách. Từ đó, nhiều Cộng Ðoàn, quốc gia hoặc giáo đoàn đã ly khai với Tòa Thánh Roma. Trong số ấy còn có những Cộng Ðồng duy trì phần nào những truyền thống và cơ cấu công giáo, đáng kể nhất là Cộng Ðoàn Anh Giáo.

Các mối chia rẽ ấy rất khác nhau chẳng những về nguồn gốc, không gian và thời gian, nhưng nhất là về bản chất và tầm quan trọng của các vấn đề liên hệ đến đức tin và cơ cấu Giáo Hội.

Vì thế, tuy không coi thường những hoàn cảnh dị biệt của các Cộng Ðoàn Kitô hữu khác nhau ấy, tuy không bỏ qua những mối liên lạc còn đang nối kết họ với nhau, bất chấp những mối chia rẽ hiện có, Thánh Công Ðồng này quyết định đề ra những nhận định sau đây để mọi người biết khôn ngoan hành động mưu cầu hiệp nhất.

I. Nhận Ðịnh Ðặc Biệt Về Các Giáo Hội Ðông Phương

14. Tính chất lịch sử riêng biệt của các Giáo Hội Ðông Phương. Trong nhiều thế kỷ, các Giáo Hội Ðông và Tây Phương đã đi theo đường lối riêng của mình, nhưng vẫn liên kết với nhau trong tình huynh đệ nhờ hiệp thông trong đức tin và đời sống bí tích; do sự thỏa thuận chung, Tòa Thánh Roma can thiệp mỗi khi các Giáo Hội ấy bất đồng quan điểm với nhau về đức tin hay về kỷ luật. Thánh Công Ðồng hân hoan nhắc lại cho mọi người một trong những điều quan trọng là, ở Ðông Phương đang phát triển nhiều Giáo Hội riêng biệt hay địa phương, đứng đầu là các Giáo Hội có Thượng Phụ, trong đó có nhiều Giáo Hội hãnh diện vì được chính các Tông Ðồ thiết lập. Vì thế các tín hữu đông phương đã và đang mang nặng mối bận tâm và âu lo duy trì những liên lạc thân hữu trong hiệp thông đức tin và đức ái, là những liên lạc phải có giữa các Giáo Hội địa phương như giữa anh em ruột thịt.

Cũng đừng quên rằng, các Giáo Hội Ðông Phương từ khởi đầu đã từng có một kho tàng cống hiến cho Giáo Hội Tây Phương nhiều yếu tố về phụng vụ, về truyền thống tu đức và luật pháp. Còn một sự kiện khác không nên coi thường là, những tín điều căn bản về đức tin Kitô giáo như Thiên Chúa Ba Ngôi, Ngôi Lời Thiên Chúa Nhập Thể bởi Ðức Trinh Nữ Maria, đã được định tín trong các Công Ðồng Chung khai diễn tại Ðông Phương. Các Giáo Hội ấy đã và đang chịu nhiều khổ đau để gìn giữ đức tin ấy.

Di sản do các Tông Ðồ truyền lại đã được đón nhận qua nhiều hình thức và cách thế khác nhau, do ngay từ thuở ban đầu của Giáo Hội, di sản ấy cũng được giải thích khác nhau đây đó tùy theo thiên tài và cảnh sống riêng. Không kể những nguyên nhân ngoại tại, bấy nhiêu yếu tố, cộng với sự thiếu bác ái và thông cảm lẫn nhau, đã mở đường cho nhiều mối chia rẽ phát sinh.

Vì vậy, Thánh Công Ðồng khuyến dụ mọi người, đặc biệt là những ai muốn hoạt động tái lập sự hiệp thông trọn vẹn như các Giáo Hội Ðông Phương và Giáo Hội Công Giáo hằng mong mỏi hay nhận định chính xác về hoàn cảnh cá biệt đã khai sinh và phát triển các Giáo Hội Ðông Phương, và về đặc tính của mối liên lạc đã có giữa các Giáo Hội ấy với Tòa Thánh Roma trước thời phân ly cũng như hãy tạo cho mình một quan niệm chính đáng về tất cả những điểm nêu trên. Chu đáo giữ được những điều ấy là đã đóng góp rất nhiều cho cuộc đối thoại mong muốn kia.

15. Truyền thống phụng vụ và tu đức của các Giáo Hội Ðông Phương. Mọi người đều thấy hiển nhiên là các tín hữu đông phương rất mộ mến cử hành phụng vụ Thánh, nhất là việc cử hành Phép Thánh Thể, nguồn sống của Giáo Hội và đảm bảo vinh quang đời sau, nhờ đó các tín hữu hiệp nhất với giám mục được đến gần Thiên Chúa Cha, nhờ Chúa Con Ngôi Lời Nhập Thể đã chịu đau khổ và được hiển vinh, trong ơn tràn trề của Chúa Thánh Thần họ được thông hiệp cùng Thiên Chúa Ba Ngôi rất thánh và “thông phần bản tính Thiên Chúa” (2Pr 1,4). Vì vậy, nhờ việc cử hành Thánh Thể trong từng Giáo Hội ấy, Giáo Hội Thiên Chúa được xây dựng và bành trướng, và sự thông hiệp giữa các Giáo Hội ấy tỏ rõ qua việc đồng tế.

Trong nghi lễ phụng vụ này, Ðức Maria trọn đời đồng trinh hằng được các tín hữu đông phương ca ngợi bằng những bài thánh ca tuyệt diệu. Công Ðồng Chung Ephêsô đã long trọng tuyên bố Ngài là Mẹ Thiên Chúa Rất Thánh, để Chúa Kitô được nhận thật là chính Con Thiên Chúa và là Con Người theo Thánh Kinh. Họ cũng ca tụng nhiều vị thánh, trong số ấy có các Thánh Giáo Phụ của toàn thể Giáo Hội.

Vì các Giáo Hội ấy, mặc dù ly khai, vẫn có các bí tích đích thực nhờ sự kế vị các Tông Ðồ, nhất là Chức Linh Mục và Phép Thánh Thể, bởi đó, họ còn liên kết chặt chẽ với chúng ta; cho nên một vài hình thức thông dự vào sự thánh, trong những trường hợp thuận tiện và với sự chấp thuận của giáo quyền, chẳng những là có thể thực hiện mà còn đáng khuyến khích nữa.

Ở Ðông Phương cũng còn thấy nhiều truyền thống tu đức phong phú, tiêu biểu nhất là đời sống đan viện, vì tại đây, nền tu đức đan viện đã phát triển ngay từ thời vang son của các Thánh Giáo Phụ, và về sau, còn lan tràn sang nhiều nơi ở Tây Phương. Ðịnh chế dòng tu Latinh phát xuất, và sau đó, không ngừng nhận được sinh lực mới từ nền tu đức ấy như từ nguồn mạch của mình. Vì vậy, thiết tha kêu mời những người Công Giáo hãy nâng tìm đến kho tàng thiêng liêng của các Thánh Giáo Phụ Ðông Phương hơn vì kho tàng ấy nâng toàn thể con người đến chỗ chiêm ngưỡng những sự thần linh.

Mọi người đều biết rằng: thông hiểu, kính trọng, giữ gìn và phát triển di sản phụng vụ và tu đức rất phong phú của các tín hữu đông phương là việc tối quan trọng để trung thành bảo toàn truyền thống Kitô giáo và để thực hiện sự giao hòa các Kitô hữu đông phương với tây phương.

16. Quy luật riêng của các Giáo Hội Ðông Phương. Hơn nữa, ngay từ buổi đầu, các Giáo Hội Ðông Phương đã theo những qui luật riêng được các Thánh Giáo Phụ, các Công Ðồng và cả các Công Ðồng Chung phê chuẩn. Vì sự khác biệt về phong tục và tập quán đã nhắc tới trên kia chẳng những rất ít cản trở sự hiệp nhất mà còn tăng thêm vẻ đẹp của Giáo Hội và góp phần không nhỏ vào việc chu toàn sứ mệnh của Giáo Hội, nên để đánh tan mọi nghi ngờ, Thánh Công Ðồng tuyên bố: các Giáo Hội Ðông Phương, đang khi nhớ đến sự hiệp nhất cần thiết của toàn thể Giáo Hội, vẫn có quyền tự trị theo các kỷ luật riêng, vì điều này phù hợp với đặc tính của tín hữu họ và có thể mưu ích cho các linh hồn hơn. Ðây là một nguyên tắc truyền thống người ta thường không noi giữ, nhưng, giữ trọn được là đã thỏa mãn một trong những điều kiện tối cần để tái lập hiệp nhất.

17. Tính chất đặc biệt của các Giáo Hội Ðông Phương về những vấn đề giáo lý. Những gì đã trình bày về sự dị biệt chính đáng trên kia cũng áp dụng được cho những phương thức trình bày giáo thuyết thần học khác nhau. Thực thế, trên đường đi tìm chân lý mạc khải, ở đông cũng như ở tây phương, có nhiều phương pháp và tiến trình khác nhau để nhận thức và tuyên xưng những sự thần linh. Do đó, không đáng ngạc nhiên khi thấy có vài khía cạnh của mầu nhiệm mạc khải đôi khi được một bên hiểu đúng và trình bày sáng sủa hơn bên kia, thành thử những công thức thần học khác nhau ấy phải được coi là bổ túc hơn là đối lập nhau. Còn về những truyền thống thần học chân chính của các tín hữu đông phương, phải công nhận là chúng ăn rễ cách tuyệt hảo trong Thánh Kinh, lại được khai triển và biểu hiện trong đời sống PhụngVụ, được nuôi dưỡng bằng truyền thống Tông Ðồ, sống động trong các văn phẩm của các Thánh Giáo Phụ Ðông Phương cũng như của các tác giả tu đức, chúng giúp xây dựng một cuộc đời chính trực và giúp chiêm ngưỡng đầy đủ chân lý Kitô giáo.

Tạ ơn Chúa vì nhiều tín hữu đông phương con cái Giáo Hội Công Giáo đang sống hoàn toàn hiệp thông với các anh em thuộc truyền thống tây phương, mà vẫn giữ gìn và tha thiết sống phần gia sản ấy cho tinh ròng và đầy đủ hơn, Thánh Công Ðồng này tuyên bố rằng: toàn bộ di sản tu đức và phụng vụ, kỷ luật và thần học trong các truyền thống ấy thuộc về đặc tính công giáo và tông truyền trọn vẹn của Giáo Hội.

18. Kết luận. Sau khi nhắc tất cả những điều ấy, Thánh Công Ðồng này lập lại những gì đã được các Thánh Công Ðồng trước cũng như các Ðức Giáo Hoàng Roma tuyên bố: để tái lập và duy trì sự thông hảo và hiệp nhất, “chẳng còn buộc anh em gánh nặng nào khác ngoài những sự cần thiết” (Cv 15,28). Công Ðồng cũng tha thiết ước mong từ đây, mọi cố gắng đều nhằm thực hiện dần dần sự hiệp nhất trong những định chế và hình thức khác nhau của đời sống Giáo Hội, nhất là trong kinh nguyện và đối thoại huynh đệ về giáo lý và về các nhu cầu mục vụ khẩn thiết hơn của thời đại chúng ta. Cũng thế Công Ðồng khuyên các chủ chăn và tín hữu của Giáo Hội Công Giáo hãy giao hảo với những kẻ không còn ở đông phương nhưng sống xa quê nhà, để gia tăng sự cộng tác thân ái với họ hơn trong tinh thần bác ái và loại trừ những hình thức ganh đua, tranh tụng. Nếu mọi người hết lòng xúc tiến công cuộc này, Thánh Công Ðồng hy vọng rằng, sau khi bức tường ngăn cách Giáo Hội Ðông Tây bị phá đổ, sẽ chỉ còn ngôi nhà duy nhất được củng cố trên đá góc là Chúa Giêsu Kitô, Ðấng sẽ làm cho cả hai nên một.

II. Các Giáo Hội Và Cộng Ðoàn Giáo Hội Ly Khai Tây Phương

19. Tình trạng chung. Các Giáo Hội Cộng Ðoàn Giáo Hội đã ly khai với Tông Tòa Roma trong thời khủng hoảng trầm trọng nhất phát sinh ở Tây Phương từ cuối thời Trung Cổ hoặc mãi về sau này, vẫn còn liên kết với Giáo Hội Công Giáo bằng một mối dây thân thích và một sự liên lạc đặc biệt vì lớp dân Kitô giáo ấy đã sống hiệp thông với Giáo Hội rất lâu trong những thế kỷ trước.

Các Giáo Hội và Cộng Ðoàn Giáo Hội ấy vì sự dị biệt nguồn gốc, giáo lý và đời sống tu đức chẳng những khác với chúng ta mà còn khác biệt với nhau nữa, nên rất khó diễn tả cho đúng các Giáo Hội ấy và chúng tôi có ý làm điều ấy nơi đây.

Mặc dù phong trào hiệp nhất và ước vọng sống hòa bình với Giáo Hội Công Giáo chưa được đề cao khắp nơi, nhưng chúng tôi cũng hy vọng rằng ý thức hiệp nhất và sự tôn trọng lẫn nhau sẽ dần lớn lên trong mọi người.

Phải nhìn nhận rằng, có nhiều dị biệt quan trọng giữa các Giáo Hội và Cộng Ðoàn Giáo Hội ấy với Giáo Hội Công Giáo, chẳng những về phương diện lịch sử, xã hội, tâm lý, văn hóa, nhưng nhất là về cách giải thích chân lý mạc khải. Ðể có thể thiết lập cuộc đối thoại hiệp nhất dễ dàng hơn, bất chấp những dị biệt đó, sau đây chúng tôi muốn đề ra một vài điểm có thể và phải là nền tảng và yếu tố thúc đẩy cho cuộc đối thoại ấy.

20. Việc tuyên xưng Chúa Kitô. Chúng tôi đặc biệt nghĩ đến những Kitô hữu đang công khai tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô là Chúa và là Thiên Chúa, Ðấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, để làm vinh danh Thiên Chúa độc nhất là Cha, Con và Thánh Thần. Thực ra chúng tôi biết nơi họ có nhiều khác biệt quan trọng với giáo lý của Giáo Hội Công Giáo, khác biệt ngay cả về Chúa Kitô Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể, về công trình cứu chuộc, và do đó, về mầu nhiệm và chức vụ của Giáo Hội cũng như về vai trò của Ðức Maria trong công cuộc cứu thế. Nhưng chúng tôi vui mừng khi thấy các anh em ly khai hướng về Chúa Kitô như là nguồn mạch và trung tâm của sự hiệp thông Giáo Hội. Xúc động vì ước vọng kết hiệp với Chúa Kitô, họ được thúc đẩy để càng ngày càng tìm về hiệp nhất và làm chứng đức tin của mình khắp muôn dân thiên hạ.

21. Học hỏi Thánh Kinh. Lòng yêu mến, kính trọng và gần như tôn sùng Thánh Kinh khiến các anh em của chúng ta bền chí và hăng say học hỏi Sách Thánh: vì Phúc Âm “là quyền năng Thiên Chúa để cứu rỗi mọi tín hữu, trước tiên là Do Thái, kế đến Hy Lạp” (Rm 1,16).

Nhờ cầu khẩn Thánh Thần, họ tìm Thiên Chúa ngay trong Thánh Kinh, Ðấng như nói với họ trong Chúa Kitô, Ðấng các tiên tri loan báo trước và là Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể vì chúng ta. Trong Thánh Kinh, họ chiêm ngưỡng cuộc đời Chúa Kitô và những gì Thầy Chí Thánh đã dạy và đã làm để cứu rỗi loài người, họ cũng chiêm ngưỡng các mầu nhiệm, nhất là mầu nhiệm sự chết và phục sinh của Người.

Tuy các Kitô hữu ly khai với chúng ta xác nhận thần quyền của Sách Thánh, nhưng mỗi người mỗi khác, họ cảm nghĩ khác chúng ta về sự liên quan giữa Thánh Kinh và Giáo Hội; trong đó theo đức tin công giáo, giáo huấn đích thực đặc biệt có thẩm quyền trong việc giải thích và rao giảng Lời Chúa đã được ghi chép.

Tuy nhiên trong chính việc đối thoại, Lời Chúa là dụng cụ tuyệt hảo trong bàn tay toàn năng của Thiên Chúa để đạt tới sự hiệp nhất được Ðấng Cứu Thế tỏ bày cho mọi người.

22. Các bí tích. Nhờ Phép Rửa được ban đúng như Chúa đã thiết lập và được lãnh nhận với đủ dự kiện tâm hồn cần thiết, con người thật sự được tháp nhập vào Chúa Kitô đã chịu đóng đinh và vinh hiển, và được tái sinh để thông phần sự sống Thiên Chúa theo lời Thánh Tông Ðồ: “Anh em được mai táng với Người trong phép Rửa, anh em cũng sẽ được sống lại với Người bởi đã tin vào Thiên Chúa tác thành, chính Ðấng đã khiến Người từ trong kẻ chết sông lại” (Cl 2,12).

Vậy phép Rửa tạo nên mối dây hiệp nhất tất cả những kẻ đã được tái sinh. Nhưng phép Rửa, tự bản tính, mới chỉ là bắt đầu và khởi điểm, vì phép Rửa trọn vẹn nhằm đạt tới sự sống sung mãn trong Chúa Kitô. Như thế, phép Rửa qui hướng về việc tuyên xưng trọn vẹn đức tin, sát nhập trọn vẹn vào định chế cứu rỗi như chính Chúa Kitô đã muốn và sau cùng kết nhập trọn vẹn vào sự hiệp thông thánh thể.

Những cộng đoàn Giáo Hội ly khai với chúng ta, mặc dù không hiệp nhất đầy đủ với chúng ta như phép Rửa đòi hỏi, và mặc dù chúng ta tin họ không còn giữ được bản chất đích thực và nguyên vẹn của Mầu Nhiệm Thánh Thể nhất là vì thiếu bí tích Truyền Chứa Thánh, nhưng khi tưởng niệm sự chết và sự sống lại của Chúa trong Tiệc Thánh họ đã tuyên xưng rằng sự sống chỉ có nghĩa nhờ hiệp thông với Chúa Kitô và họ mong đợi ngày trở lại vinh quang của Người. Do đó, phải dùng giáo lý về Tiệc Thánh của Chúa, về các bí tích khác, về việc phụng tự cũng như về các thừa tác vụ của Giáo Hội làm đối tượng cho cuộc đối thoại.

23. Cuộc sống với Chúa Kitô. Ðời sống Kitô hữu của các anh em ấy được nuôi dưỡng bằng đức tin vào Chúa Kitô và được duy trì nhờ ân sủng của phép Rửa và nhờ nghe Lời Thiên Chúa. Ðời sống ấy biểu lộ trong kinh nguyện riêng, trong việc suy niệm Thánh Kinh, trong đời sống gia đình Kitô giáo, trong việc phụng tự của cộng đoàn tụ họp để ngợi khen Thiên Chúa. Hơn nữa, đôi khi trong các nghi lễ phụng tự của họ cũng thấy có những yếu tố nổi bật thuộc nền phụng vụ cổ kính chung.

Ðức tin vào Chúa Kitô đã kết quả trong những lời ngợi khen và cảm tạ vì các ơn lành nhận được do Chúa ban; thêm vào đó là ý thức mạnh mẽ về đức công bình và tình yêu chân thành đối với tha nhân. Ðức tin sống động ấy cũng phát sinh nhiều tổ chức nhằm xoa dịu sự cùng khổ tinh thần và thể xác, giáo dục, tuổi trẻ, cải tiến những hoàn cảnh xã hội của cuộc sống thành nhân đạo hơn và củng cố nền hòa bình thế giới.

Mặc dù, trước các vấn đề luân lý, có nhiều Kitô hữu không luôn hiểu Phúc Âm cùng một cách như người công giáo và không cùng nhận những giải pháp giống nhau trước những vấn đề khó khăn của xã hội hiện đại. Tuy nhiên, như chúng ta, họ cũng muốn giữ vững lời Chúa Kitô như là nguồn mạch của đức hạnh Kitô giáo và tuân theo lời Thánh Tông Ðồ dạy: “Hết thảy công việc anh em làm, bất cứ lời nói hay hành động, hãy thực hiện tất cả nhân danh Chúa Giêsu Kitô và nhờ Người cảm tạ Thiên Chúa Cha” (Cl 3,17). Từ đó, có thể bắt đầu cuộc đối thoại hiệp nhất về việc áp dụng Phúc Âm vào các vấn đề luân lý.

Kết Luận

24. Sau khi đã vắn tắt trình bày những điều kiện và các nguyên tắc chỉ đạo để thực hiện công cuộc hiệp nhất, chúng tôi tin tưởng hướng về tương lai. Thánh Công Ðồng này khuyến cáo các tín hữu hãy tránh mọi sự nhẹ dạ và nhiệt thành thiếu khôn ngoan có thể phương hại tới việc phát triển công cuộc hiệp nhất. Thật vậy, hoạt động hiệp nhất của họ không thể thành tựu được, nếu nó không hoàn toàn và thực sự là công giáo, nghĩa là trung thành với chân lý do các Tông Ðồ và các Giáo Phụ truyền lại và phù hợp với đức tin luôn được Giáo Hội Công Giáo tuyên xưng, đồng thời hướng tới sự sung mãn nhờ đó Chúa muốn Thân Thể Người được lớn lên qua các thời đại.

Thánh Công Ðồng này luôn khẩn khoản ước mong cho các sáng kiến của con cái Giáo Hội Công Giáo được tiến triển hòa hợp với các sáng kiến của anh em ly khai mà không cản trở đường lối của Thiên Chúa Quan Phòng, cũng như không gây thiên kiến làm phương hại đến những ơn Chúa Thánh Thần thúc đầy sau này. Hơn nữa Thánh Công Ðồng cũng tuyên bố là mình luôn ý thức rằng ý nguyện thánh thiện giao hòa toàn thể Kitô hữu trong sự hiệp nhất của Giáo Hội duy nhất và độc nhất của Chúa Kitô vượt quá sức lực và khả năng loài người. Vì thế, Thánh Công Ðồng đặt hết hy vọng vào lời Chúa Kitô nguyện cầu cho Giáo Hội, vào tình thương của Chúa Cha đối với chúng ta và vào quyền lực của Chúa Thánh Thần. “Hy vọng không bị hổ thẹn: vì tình yêu của Thiên Chúa giãi khắp lòng ta nhờ Chúa Thánh Thần Ðấng đã được ban cho ta” (Rm 5,5).

Tất cả và từng điều đã được ban bố trong Sắc Lệnh này đều được các Nghị Phụ Thánh Công Ðồng chấp thuận. Và dùng quyền Tông Ðồ Chúa Kitô trao ban, hiệp cùng các Nghị Phụ khả kính, trong Chúa Thánh Thần, Chúng Tôi phê chuẩn, chế định và quyết nghị, và những gì đã được Thánh Công Ðồng quyết nghị, Chúng Tôi truyền công bố cho Danh Chúa cả sáng.

 Roma, tại Ðền Thánh Phêrô, ngày 21 tháng 11 năm 1964.

Tôi, Phaolô Giám Mục Giáo Hội Công Giáo.

Tiếp theo là chữ ký của các Nghị Phụ.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: