MÙA VỌNG

Mùa vọng là mùa đợi trông trong hy vọng. Mong đợi trong phụng vụ thường đi đôi với niềm vui chứa chan, lạc quan và tin tưởng nơi Thiên Chúa yêu thương.

Ngoài bài ca của thiên thần hang Belem, lễ vật của ba vua phương đông dâng tiến và lời tiên tri của Ana và Simêon trong ngày lễ dâng vào đền thánh, không có gì cho thấy em bé đó là Thiên Chúa giáng trần.

Chúa đến trần gian trong âm thầm nơi hang đá hẻo lánh, giữa mùa đông giá lạnh. Chúa nhận thân phận con người như mọi người ngoại trừ tội lỗi; nhận bà Maria làm mẹ; nhận Giuse làm cha nuôi; nhận làm người tị nạn ngay từ lúc mới sinh, nhận sống lưu đầy từ tấm bé, nhận cái nghèo của gia đình lao động chân tay; nhận ẩn mình trong phận người, hòa mình với kẻ nghèo, ăn đồng bàn với phường tội lỗi; lội bộ dọc bờ cát với đám dân chài.

Ngài còn nhận làm con dân một dân tộc mà suốt dòng lịch sự khi hoạn nạn xảy đến tỏ ra ngoan ngõan, trung thành; lúc bình an vô sự lại tỏ dấu bất trung; Một dân tộc mà ông tổ từ lúc khởi nguyên đã ăn trái cấm còn đổ lỗi vòng quanh, không chấp nhận giới hạn, sai trái, lỗi phạm của phận người.

Chúa ẩn mình trong con người tầm thường như mọi người để cảm thông với mọi người. Chúa nhận được niềm cảm mến, tôn thờ, chúc tụng ngợi khen của những người tin theo. Trái lại cũng có nhiều người không tin theo, tôn thờ. Người ta xỉ vả, xua đuổi, chất vấn, đánh đòn, bắt vác thập giá ra pháp trường chịu đóng đanh cũng vì Ngài đến và sống một cách quá tầm thường. Ngay cả sau khi Chúa sống lại người ta vẫn tiếp tục hiểu lầm về ơn cữu rỗi. Việc hiểu lầm kéo dài ngàn năm vì người ta không chấp nhận một Thiên Chúa quá âm thầm, khiêm nhường đến độ các bộ óc thông minh nhất không lí giải nổi việc Chúa làm. Chọn chết để sống lại vinh quang; chấp nhận xua đuổi để được đón nhận, chọn ghét bỏ đổi lấy yêu thương, chọn làm người hữu hạn để diễn tả lòng Chúa vô biên. Chúa tình yêu không thể tìm gặp bằng lí luận mà bằng con tim. Lòng yêu mến dẫn ta đến với Ngài. Chúa đến âm thầm, đơn sơ đến độ nhẹ nhàng như lời nói đầu của phúc âm Gioan Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta (1,14). Đơn sơ quá, tầm thường quá, trở nên phàm nhân thì phàm nhân lấy chi để phân biệt ai là phàm nhân, ai là Chúa ẩn mình. Vì thế mà có tình trạng ‘Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận’ (1,11).

Vì người nhà dùng trí thông minh suy xét và mượn lí luận của triết học đưa đến kết luận Đấng Cứu Thế sẽ đến trong uy quyền ngập tràn tiếng kèn tiếng trống với bài ca bất tận của đạo binh thiên thần. Quyền uy oai phong lẫm liệt đè bẹp mọi sức mạnh trần thế và mọi thế lực trần gian phải phủ phục tôn thờ. Ngài là Thiên Chúa oai phong mãnh liệt hơn muôn đạo binh, hùng dũng hơn sóng thần, mạnh bạo hơn vũ bão, bước chân ngài rền vang hơn cả sấm gầm, sóng vỗ, uy lực rung chuyển cả mặt đất và sáng hơn cả vầng thái dương. Do vậy Ngài không thể đến trong âm thầm, ẩn thân và ẩn dật nơi vùng Belem hay vùng Nazareth nơi tăm tiếng trải dài không quá ba dặm đường.

Người nhà chờ Đấng Cứu Thế đến sống và thực hành theo đất lề, quê thói, giữ trọn vẹn truyền thống cha ông và bảo đảm luật Môi sê được thực hiện cho mọi dân mọi nước. Người nhà không chấp nhận một Giêsu đến theo họ là phá bỏ lề luật tiền nhân, không rửa tay trước khi ăn, chữa bệnh ngày Sabath, ăn cùng mâm với bọn thu thuế, ngồi chung bàn với quân tội lỗi. Một Giêsu như thế người nhà không chờ, không đón và không chấp nhận nhưng phải giết đi vì dám nhận là Con Thiên Chúa, phạm thượng gọi Chúa là Cha, xưng mình làm vua, tội đáng chết khổ hình thập giá.

Có quá nhiều khác biệt Thiên Chúa sanh hang Belem và một Thiên Chúa trí óc suy luận lí giải. Đòi hỏi hợp lí trong tình yêu là chối bỏ tình yêu.

Con người là chi mà đòi thay đổi chương trình cứu độ. Ngay khi con người bất tuân ăn trái cấm Chúa tuyên chiến với ma quỷ, một người nữ sẽ đạp đầu con rắn và nó rình cắn gót chân người. Hơn thế nữa người Con duy nhất của người nữ đó chiến thắng thần chết để mang ơn cứu độ cho muôn dân. Ngài sống lại như lời đã phán hứa.

Con người là chi mà dám đề nghị cách thức Thiên Chúa xuống trần theo ý loài người để cứu chuộc muôn dân, muôn nước.

Con người là chi mà đòi can dự, góp ý vào việc của Chúa.

Con người không thể nói là Thiên Chúa ở quá xa, không hiểu nhân loại. Thiên Chúa xuống trần sống như một phàm nhân nên Thiên Chúa hiểu nhân loại hơn cả nhân loại hiểu nhau, thông cảm với nhân loại hơn cả nhân loại thông cảm nhau và yêu thương nhân loại hơn cả nhân loại yêu thương nhau. Ngài xác định: không có tình yêu nào cao quý hơn mối tình của người thí mạng sống mình vì bạn hữu. Thánh Phaolô xác tín Thiên Chúa yêu chúng ta trước ngay cả khi chúng ta còn là tội nhân.

Phương cách loài người mong đợi Chúa xuống trần không có chi mới lạ. Đức Kitô công khai tuyên bố điều đó hai ngàn năm trước đây. Ngày Chúa thăm dân Ngài lần thứ hai trong vinh quang có thiên thần hầu cận, có sấm hô vang mở lối, có chớp chiếu sáng dẫn đường, có tầng trời rung chuyển thông báo lối bước của Chúa. Có sóng vỗ reo vui, có biển gầm chúc tụng. ‘Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao’. Những ai chưa sống tinh thần mùa vọng sẽ ‘lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. Người ta sợ hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển.

Xem thế Chúa thăm dân Ngài lần thứ hai với đầy uy quyền lẫy lừng không phải âm thầm như thăm lần đầu. Mùa vọng không mang ý nghĩa ta chờ Chúa đến mà chính Chúa hy vọng ta nhận ra Ngài trong những kẻ phàm nhân. Chúa chờ ta đón anh chị em Ngài vào cuộc sống mình.

Lm Vũđình Tường

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: