Giải đáp một số câu hỏi nhân tháng các linh hồn

1. Tại sao các linh hồn lại cần đến lời cầu nguyện của chúng ta, những người còn đang sống, để được Thiên Chúa tha thứ mà không tự mình xin Chúa thương xót cứu giúp mình?
2. Kinh thánh mạc khải thế nào về tình trạng các linh hồn ở trong luyện ngục, cụ thể là con muốn biết sách nào, nhất là Tân Ước sẽ gần gũi với người giáo dân bình thường như con?
3. Tại sao trong thánh lễ cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời, một số nhà thờ lại kéo chuông nhẹ suốt thánh lễ? Việc làm đó có ý nghĩa gì và xuất phát từ đâu?

Lê Ngọc Minh, Q8, Tp. HCM.

Trả Lời
Câu hỏi 1. 

Bạn Ngọc Minh Thân mến, để trả lời câu hỏi: “Tại sao các linh hồn lại cần đến lời cầu nguyện của chúng ta những người còn đang sống để được Thiên Chúa tha thứ mà không tự mình xin Chúa thương xót cứu giúp mình”? Tôi chia ra hai vấn đề chính dựa vào hiến chế Giáo Hội.

1. Mầu nhiệm hiệp thông.

a. Nền tảng

Nói cách dễ hiểu là “các thánh cùng thông công” (các thánh-người trần-các linh hồn). Về vấn đề này Công Đồng chung Vat II trong hiến chế Giáo Hội ghi rõ: “… Trong các môn đệ Chúa, có những kẻ còn tiếp tục cuộc hành trình nơi trần thế để hoàn tất cuộc sống này và đang đựơc tinh luyện, và có những kẻ hiển vinh đang chiêm ngưỡng “rõ ràng chính Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi như Ngài hằng có” (GH 49). Giáo huấn này công đồng lấy lại giáo huấn công đồng Nicea (Văn kiện VII: Dz 302 # 600); công đồng Florenze (Dz 693 # 1304); công đồng Trento (Dz 983 # 1820).
b. Mối liên hệ

– Các thánh: là những người đã sống như chúng ta, có khi cũng có những sai lầm khuyết điểm, “nhưng đã đựơc tinh luyện và nay đang hưởng nước trời và các ngài đang cầu bầu cùng Chúa cho chúng ta bên toà Chúa Cha” (GH 49).

– Các linh hồn: là những “kẻ đã hoàn tất cuộc sống này và đang được tinh luyện” (GH 49)

– những người tại thế: ngước trông lên các thánh để “thành khẩn, van nài, chạy đến xin các ngài cầu nguyện và trợ lực…” (GH 50c). Còn đối với những người đã chết thì: “ngay từ buổi đầu của Kitô Giáo; Giáo Hội lữ hành hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu nguyện cho những người đã chết” (GH 50a)

2. Các linh hồn không tự mình mà phải nhờ đến người còn sống cầu nguyện cho
a. Các linh hồn không tự mình đền trả:Trong GH số 48d công đồng minh định: “thật vậy, trứơc khi ngự trị với Chúa Kitô vinh hiển, mọi người chúng ta đều phải trình diện “trước toà Chúa Kitô, để mọi người lành lấy những thành quả đời mình đã làm trong thân xác hoặc lành hoặc dữ” (2 Cr 5,10).

– Chúng ta đã biết: con người có sinh hoạt trí tuệ, vì thế một hành động xét dưới khía cạnh luân lý phải là một hành vi nhân linh được thành hình bởi ý thức và tự do. Chính nhờ đó mới có nền tảng trách nhiệm của hành động: thưởng phạt.

– “thành quả đời mình đã làm trong thân xác”, nghĩa là những hành vi khi còn sống. Bây giờ xác đã thối rữa “đợi ngày sống lại” để cùng được thưởng hay chịu phạt trong ngày tận thế (Ga 5,29; x. Dn 12,2) thì hồn chỉ còn cách nhờ lời cầu bầu của các thánh và những người còn sống tại thế mà thôi.

Câu hỏi 2. Kinh thánh mạc khải thế nào về tình trạng các linh hồn ở trong luyện ngục, cụ thể là con muốn biết sách nào, nhất là Tân Ước sẽ gần gũi với người giáo dân bình thường như con?

Câu này nội dung ám chỉ về luyện ngục. Ta có những nền tảng về luyện ngục như sau: 
– Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo:

+ Số 1030: “những người chết trong ơn nghĩa Chúa, nhưng chưa được thanh luyện hoàn toàn, mặc dù chắc chắn được cứu độ đời đời, còn phải chịu thanh luyện sau khi chết, để đạt được sự thánh thiện cần thiết để vào hưởng phúc thiên đàng” (GLHTCG, trg 389).
+ Số 1031: “Hội Thánh gọi việc thanh luyện cuối cùng của những người được chọn là luyện ngục. Điều này khác hẳn với hình phạt đời đời của kẻ bị chúc dữ: Hội Thánh công bố giáo lý về luyện ngục cách riêng trong các công đồng Florenze (Dz 1304) và Trentô (Dz 1820;1580). 

Thánh Grégôriô Cả nói: “đối với một số tội nhẹ, phải tin là trước phán xét chung có lửa thanh luyện”. Chúa Giêsu đã xác nhận: Nếu ai nói phạm đến Chúa Thánh Thần người ấy sẽ chẳng được tha cả đời này lẫn đời sau (Mt 12,31). Qua khẳng định này, chúng ta có thể hiểu là một số tội có thể đựơc tha ở đời này nhưng một số tội khác thì phải đợi tới đời sau (Đối Thoại 4,39).

– Những đoạn Kinh thánh đặc biệt trong Tân Ước: Hai đoạn văn căn bản mà các công đồng dựa vào đó để nói về luyện ngục:
+ 1 Cr 3,13-15: “… nhưng công việc của mỗi người sẽ được phơi bày ra ánh sáng. Thật thế, ngày của Chúa sẽ cho thấy công việc đó, vì Ngày ấy tỏ rạng trong lửa; chính lửa này sẽ thử nghiệm giá trị công việc của mỗi người. Công việc xây dựng của ai tồn tại trên nền thì người ấy sẽ được lĩnh thưởng. Còn công việc của ai bị thiêu huỷ, thì người ấy sẽ phải thiệt. Tuy nhiên, bản thân người ấy sẽ được cứu, nhưng như thể băng qua lửa”.

+ 1 Pr 1,7: những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin của anh em là thứ quý hơn vàng gấp bội, – Vàng là của phù vân, mà còn phải chịu thử lửa”.
Câu hỏi 3. Tại sao trong thánh lễ cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời, một số nhà thờ lại kéo chuông nhẹ suốt thánh lễ? Việc làm đó có ý nghĩa gì và xuất phát từ đâu?

Xin được trả lời câu hỏi này với những chi tiết sau:

Chuông nhỏ: ngày nay chúng ta không biết được nguồn gốc việc sử dụng các chuông nhỏ làm hiệu báo, trong lãnh vực đời cũng như đạo. Trong các nghi thức thánh, chuông nhỏ có hai chức năng: xua đuổi tà thần, và gợi cho cộng đoàn đang cử hành phụng vụ nhớ lại những kỷ niệm đẹp đẽ về Thiên Chúa của mình (xc. Xh 28,33-35; Hc 45,9). Nhờ những tiếng lục lạc gắn ở phẩm phục vị thượng tế, Đức Giavê và dân Người nhớ lại Giao Ước: cả hai cùng nhớ lại mối liên hệ đã được ký kết.

Chuông lớn: vào thời đầu của Kitô Giáo, chiêng, phách, chuông, kèn, mõ được sử dụng để làm hiệu triệu tập cử hành phụng vụ. Vào thời bình an triều Công-tăng-ti-nô, các cộng đoàn phát triển đông đảo, các sinh hoạt trong các đan viện trở nên phong phú, thì cần có những hiệu báo lớn hơn. Do đó, bắt đầu có chuông lớn, ít là vào thế kỉ VI. Tên gọi chung là Signum (dấu hiệu, báo hiệu), còn từ clocca có lẽ do từ clog trong tiếng Ailen, là một quả chuông nặng các nhà truyền giáo thường sử dụng và từ klochôn trong tiếng Đức cổ có nghĩa là vỗ, gõ (Tk VIII). Từ thế kỷ thứ VIII, bắt đầu có nghi thức rửa tội chuông.

Tiếng chuông là tiếng các thiên thần xua đuổi tà thần, và kêu gọi các tín hữu đến cử hành phụng vụ (Tự điển phụng vụ 1997, trg 66-67; Dictionaire de liturgie C. L. D 1982, Cloche)

– Ý nghĩa: 

+ đây là hồi chuông báo tử: trong họ đạo có người mới qua đời.
+ nghe hồi chuông đó, mọi người đều âm thầm cầu nguyện cho người mới ra đi,
+ hồi chuông đó như điệu nhạc tiễn đưa người quá cố trên đường về “trình diện Chúa”.
+ nguồn gốc: phát xuất từ những họ đạo toàn tòng công giáo với những ý nghĩa và mục đích nêu trên. Ngày nay cuộc sống đô thị đã thay đổi, giới trẻ không được cắt nghĩa nên không hiểu cũng là chuyện thường tình.

Lm. Gs. Trần Đình Thuỵ

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: