Truyền Giáo Tại Việt Nam

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

BÀI 1: NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA VIỆC TRUYỀN GIÁO  TẠI VIỆT NAM XƯA VÀ NAY

VÀO ĐỀ

          Vào ngày 18-22 tháng 8 tới đây  một phái đoàn gồm 15 người trong đó có giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân Việt Nam sẽ  sang Bangkok (Thái Lan) dự hội nghị về Loan Báo Tin Mừng do Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu (1) tổ chức. Có thể nói chẳng mấy giáo dân biết được chủ đề của Hội Nghị này và càng không biết phái đoàn Việt Nam đã và đang chuẩn bị những gì cho Hội Nghị ấy !!

           Là người không làm được nhiều, nhưng luôn thao thức và quan tâm đến công cuộc xây dựng Giáo Hội,  nên tôi mạnh dạn nêu lên một số suy nghĩ và nhận định của mình liên quan tới NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA VIỆC TRUYỀN GIÁO TẠI VIỆT NAM XƯA VÀ NAY. Trước là để kiểm điểm chính mình. Sau là để đóng góp với Giáo Hội Việt Nam nói chung và với phái đoàn dự Hội Nghị nói riêng.  Vì bị giới hạn về thời gian và tư liệu, tôi đành phải nêu  một cách khái lược các sự kiện của ngày xưa cũng như của ngày nay. Mong sẽ có điều kiện bổ sung cho phác thảo này được đầy đủ hơn.

NHỮNG NÉT ĐẶC TRƯNG CỦA VIỆC TRUYỀN GIÁO TẠI VIỆT NAM XƯA VÀ NAY

          Chỉ cần chúng ta đọc qua Lịch sử của Giáo Hội Việt Nam, chúng ta sẽ thấy ngay một số nét đặc trưng của việc Truyền Giáo tại Việt Nam. Nếu chúng ta thực hiện được việc thống kê, phân tích các dữ liệu lịch sử thì chúng ta sè càng thấy rõ hơn nữa. Theo tôi thì việc Truyền Giáo tại Việt Nam có năm đặc trưng sau đây:

1. ĐẶC TRƯNG THỨ NHẤT LÀ TÍNH GIA ĐÌNH.

          Đối với người Á Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng thì gia đình là rất quan trọng. Xưa cũng vậy và nay cũng vẫn vậy. Ở trong nước cũng vậy và ở hải ngoại cũng vậy. Trong lãnh vực đời cũng vậy và trong đời sống Đạo cũng vậy.

        Đọc lại các tường thuật của các nhà truyền giáo tại Việt Nam, chúng ta gặp không biết bao nhiêu trường hợp cả một gia đình trở lại và gia đình mới trở lại ấy lôi kéo được nhiều gia khác trở lại đạo như mình. Một trường hợp khác cũng rất phổ biến là một hai thành viên của một gia đình Việt Nam nhập đạo và dần dần đưa cả gia đình vào Cộng đoàn Hội Thánh. 

       Dĩ nhiên mọi cuộc trở lại đều do ơn thánh Chúa ban. Nhưng ơn thánh Chúa gặp nhiều thuận lợi ở cách suy nghĩ và nếp sống của người Việt Nam, theo đó thì cha ông tổ tiên mình  làm gì thì mình nên làm như thế. Trong trường hợp cha ông tổ tiên đã là người Công Giáo thì sớm muộn gì những con cái cháu chắt cũng theo chân ông bà tổ tiên nhập Đạo để cùng thờ một Chúa, cùng đi một đường. Ngược lại nhiều người muốn nhập Đạo nhưng vì tổ tiên dòng họ không hay chưa có ai là người theo Đạo Chúa nên những người này gặp khó khắn rất khó vượt qua.

2. ĐẶC TRƯNG THỨ HAI LÀ TÍNH LÀNG XÃ, BỘ TỘC.

          Ngoài tính gia đình, không thiếu những cuộc trở lại mang tính làng xã, bộ tộc:  một người đứng đầu một thôn một làng, một xã, một bộ tộc trở lại keo theo cuộc trở lại của cả một thôn, một làng, một bô tộc. Ví dụ: một thày sư của Phật giáo theo đạo Công giáo thì các tín đồ phật tử của Thày trong làng ấy cũng rất dễ trở thành môn đệ của Chúa Giêsu. Một ông thầy đồ trong lành gặp Chúa mà bỏ Phật  bỏ ông bà (theo cách noí bình dân)  thì vợ con và các môn sinh trong lành của ông cũng sằn sàng theo bước thày để trở thành Ki-tô hữu. Một già làng của một bộ tộc thiểu số chịu phép Rửa Tội thì thế nào cũng có nhiều gia đình khác làm theo. Chuyện này không chỉ xẩy ra trong quá khứ mà cả trong hiện tại cũng có. Trên các vùng Cao Nguyên (Miền Bắc hay Trung Phần), đã có nhiều cuộc trở lại tập thể, cả thôn cả buôn làng đón nhận ánh sáng Tin Mừng trở nên môn đệ của Đấng Ki-tô Giê-su nhờ cả thôn cả buôn cùng nghe các bài giảng trên đài phát thanh (phát từ nước ngoài) nói về Thiên Chúa, về Đấng Cứu Chuộc, về Ơn Cứu độ.

3. ĐẶC TRƯNG THỨ BA LÀ TÍNH MỘ ĐẠO.

          Bản chất của dân tộc ta là mộ đạo. Người Việt Nam theo đạo Phật thì mộ Phật, theo Đạo Chúa thì mộ Chúa.  Vì  người Việt Nam nặng tình cảm hơn lý trí. Vì thế trong việc giữ Đạo đa số người giáo dân quan tâm đến lòng sùng Đạo nhiều hơn đến việc hiểu Đạo và hành Đạo. Trong quá khứ các hình thái đạo đức bình dân (đọc kinh, rước kiệu, dâng hoa, dâng hạt, ngắm Đàng Thánh Giá, ngằm cuộc Thương Khó….) được phát triển mạnh mẽ và có sức lôi cuốn.  Cùng với sự thay đổi của xã hội  và vì người giáo dân thiếu  hiểu biết tường tận về ý nghĩa và nội dung các thực hành ấy nên các hình thái đạo đức bình dân không còn sức hấp dẫn như xưa. Cũng vì nặng quan tâm về tính sùng đạo và coi nhẹ việc hiểu đạo nên thành phần giáo dân trí thức không mạnh và chưa đóng góp nhiều cho Giáo Hội trong những lãnh vực chính trị, văn hóa, xã hội và  nghệ thuật là địa bàn sở trường của họ.

4. ĐẶC TRƯNG THỨ BỐN LÀ TÍNH BÁC ÁI – TỪTHIỆN – XÃ HỘI.

          Người Việt Nam nặng tình cảm hơn lý trí, nên trong đời sống quan tâm đến cách người ta đối xử với mình ra sao.  Vì thế mà xưa cũng như nay điều hấp dẫn lôi cuốn người ngoại đến với Giáo Hội là thái độ yêu thương, giúp đỡ, phục vụ tận tình và gương sáng của những người có đạo, là những việc bác ái, từ thiện, xã hội mà Giáo hội Công giáo làm cho họ. Ở thời kỳ đầu của Giáo hội Việt Nam, người  lương dân đã gọi Đạo của các nhà truyền giáo Phương Tây là Đạo Yêu khi họ chưa biết tên của Đạo Mới ấy là  Đạo Chúa, là Đạo của Chúa Kirixitô.

         Ngày nay ở khắp các giáo phận, công việc Truyền Giáo nổi bật nhất là các lớp học tình thương;  là các chương trình học bổng giúp các trẻ em nghèo hiếu học; là các buổi khám bệnh phát thuốc miễn phí; là những lần thăm viếng, giúp đỡ các trung tâm người gìa, tàng tật, phong cùi; là việc chôn cất những người chết không ai chăm lo. Ở Sài gòn thì từ vài năm nay Đức Hồng Y Gio-an Bao-ti-xi-ta Phạm Minh Mẫn vận động cả giáo phận quan tâm đến những người bệnh HIV-AIDS với chương trình xây dựng TRUNG TÂM PHỤC SINH  và các Phòng Khám Từ Thiện. Dân nhập cư tức những người từ các vùng nông thôn kéo về thành phố kiếm việc làm hay học hành cũng là đối tượng đang được một số giáo xứ quan tâm tìm cách giúp đỡ.

          Nhưng phải thú nhận rằng: tất cả công sức, tiền của mà giáo phận Sài gòn đã và sẽ bỏ ra cho các chương trình này cũng chỉ là “muối đổ biển” chẳng thấm tháp vào đâu! Nếu chúng ta nhìn vào những khoản tiền khổng lồ của một số vụ cán bộ chính quyền tham nhũng (2) thì chúng ta sẽ thấy trách nhiệm của Giáo hội Công giáo Việt Nam không chỉ là trong lãnh  vực hoạt động bác ái từ thiện mà còn phải là trong các lãnh vực khác nữa, ví dụ lên tiếng kết án tệ nạn tham nhũng, ăn cắp tài sản quốc dân của những người có chức có quyền hiện nay trong guồng máy nhà nước! 

          Từ trước đến nay người ta ít  thấy Hàng Giáo Phẩm Việt Nam lên tiếng về những vấn đề quan trọng của đất nước. Phải chăng vì các ngài chọn lựa một cách khác để biểu lộ ý kiến của mình với chính quyền? hay vì các ngài chọn lựa thái độ nhẫn nại chịu đựng để tránh các biện pháp khắt khe mang tính chế tài hay trả thù của nhà cấm quyền. Nhưng rõ ràng việc bênh vực chân lý và công lý là một trọng trách lớn lao của người và Cộng đoàn Ki-tô giáo. Nhiều người cho rằng Giáo Hội Công Giáo và Tin Lành ở Hàn Quốc (South Korea) phát triển mạnh trong mấy thập niên vừa qua, một phần là nhờ sự đấu tranh bênh vực công lý và hòa bình và chống bất công xã hội của những nhà lãnh đạo quốc gia là những Ki-tô hữu xác tín và dấn thân (3).

           Giả nhử Giáo hội và người Công Giáo Việt Nam dũng cảm đứng ra bảo vệ công bằng xã hội  và nhân quyền, chống lại nạn tham nhũng, cửa quyền, hống hách, bắt nạt dân của một số đông cán bộ thì chắc chắn nhiều người lương dân sẽ đánh giá cao sự đóng góp ấy của Giáo hội Công giáo và từ đó việc Truyền Giáo sẽ gặt hái được nhiều kết quả hơn, nhất là trong giới trí thức và người thành thị.

5.  ĐẶC TRƯNG THỨ NĂM  LÀ TÍNH GIÁO DÂN tức GIÁO DÂN LÀ TÁC NHÂN ƠN TRỞ LẠI.

          Nhắc đến việc Truyền Giáo ở Việt Nam trong những thế kỷ đầu, các sử gia và các nhà nghiên cứu phải đặc biệt chú ý đến một thành phần giáo dân có công rất lớn trong công cuộc trọng đại là làm cho nhiều người theo đạo. Đó là các Thày Giảng của Nhà Đức Chúa Trời. Họ cộng tác chặt chẽ với các giáo sĩ trong việc truyền bá Phúc âm và xây dựng cộng đoàn. Tiêu biểu nhất trong số các Thày Giảng là Chân Phước An-rê Phú Yên. Rất tiếc là sau này không còn các Thày Giảng nữa.

         Phải chăng vì lúc đầu số giáo sĩ quá ít, lại phần đông là người ngoại quốc không thông thạo phong tục tập quán ngôn ngữ, nên những người giáo dân này được trọng dụng? Phải chăng vì giáo sĩ Tây Phương trọng  người giáo dân hơn các giáo sĩ bản xứ? Phải chăng có sự cạnh tranh  “ngầm ngầm”  về ảnh hưởng và quyền lợi (giáo sĩ xa dân nên dân kính sợ nhiều hơn là mến yêu; còn thày giảng thì gần dân hơn nên được dân yêu mến hơn?). Hay tại sau này người giáo dân không thích đi tu như kiểu Thày Giảng. Chúng ta không biết rõ lý do tại saomột thành phần đắc lực như thế  lại mai một đi trong Giáo Hội Việt Nam. Đây là một đề tài đáng được nghiên cứu.

         Còn ngày nay, tuy Giáo Hội Việt Nam còn mang nặng “tính giáo sĩ” (4) của giai đoạn tiền Công Đồng Va-ti-can II, nhưng sự đóng góp của người giáo dân là rất đáng kể trong công việc xây dựng và mở mang các cộng đoàn. Hạng giáo dân hoạt động tích cực nhất và có công lớn nhất trong việc Truyền Giáo là các hội viên các hội đoàn Tông đồ (như các hội viên Legio Mariae) và các giáo lý viên. Đặc biệt ở những vùng cao, vùng  xa, không có các linh mục,  nhiều giáo dân nam có nữ có, kể cả các giáo dân sắc tộc, đã thể hiện rõ nét chức năng ngôn sứ, tư tế và phục vụ của những người đã lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy.

THAY LỜI KẾT

          Nếu chúng ta quan tâm đến việc duy trì và phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông tổ tiên thì chúng ta sẽ quan tâm học hỏi, đào sâu, nghiên cứu thêm

về những nét đặc trưng trên để phát huy chúng trong lịch sử hiện đại. Nếu chúng ta quan tâm đến duy trì và phát huy truyền thống tốt đẹp của Ki-tô giáo các thế kỷ đầu thì chúng ta sẽ quan tâm học hỏi, đào sâu, nghiên cứu thêm về những nét đặc trưng của các Cộng đoàn trong Công vụ Tông Đồ để phát huy trong đời sống Giáo Hội Việt Nam thế kỷ XXI.  Nếu chúng ta quan tâm đến việc thực thi Công Đồng Va-ti-can II thì chúng ta cũng sẽ quan tâm đến việc học hỏi, đào sâu, nghiên cứu thêm về Giáo huấn của Công Đồng để áp dụng chúng vào cơ cấu và đời sống của Giáo Hội Việt Nam. 

          Người ta có cảm tưởng là Giáo Hội Công Giáo Việt Nam không mấy quan tâm đến việc đọc lại lịch sử (ôn cố tri tân = ôn cũ biết mới) và cũng chẳng coi trọng  việc nghiên cứu hiện tại để có thể định hướng tương lai và lên kế hoạch. Đó có thể là  hệ lụy của những thập niên chiến tranh, đất nước và lòng người phân ly. Cũng có thể là kết quả của những chính sách và biện pháp hà khắc của nhà cầm quyền kể từ tháng 8.1945 đến nay. Vì thế mà đời sống Đạo và hoạt động Truyền Giáo hay Loan Báo Tin Mừng của Giáo Hội Việt Nam không đem lại những kết quả đáng ra phải có. Dân số Việt Nam đã vượt trên con số 80 triệu và chằng bao xa sẽ đạt tới con số 100 triệu!  Hiện nay tỷ lệ người Công giáo trong nước mới chỉ ở mức 6-7 %, còn xa với mức 10 % mà nhiều người ảo tưởng là đã đạt được từ mấy năm trước đây.

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.                                               

Kansas City (MO/USA) ngày 30.07.2006

…………………

Ghi chú:

(1) Trong tiếng Anh là FABC, chữ viết tắt của The Federation of  The Bishops Conferences of Asia.

(2) Một trong hàng trăm vụ nổi cộm là vụ án của Bùi Tiến Dũng Tổng giám đốc PMU 18 đang làm đau đầu nhà cấm quyền Hà Nội. Theo Thông Tấn Xã Việt Nam ngày 05 tháng 07 năm 2006 thì trong buổi làm việc với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, lãnh đạo Bộ Công an đã báo cáo diễn biến chuyên án 420B kéo theo một loạt các vụ việc vi pháp luật nghiêm trọng: vụ án đánh bạc và tổ chức đánh bạc, “chạy án” và cố ý làm trái. Trong vụ án đánh bạc và tổ chức đánh bạc thông qua hình thức cá độ bóng đá quốc tế, cơ quan điều tra đã khởi tố 10 bị can, trong đó bắt tạm giam 8 bị can, 1 bị can bỏ trốn, 1 được tại ngoại. Đặc biệt, các điều tra viên đã xác minh số tiền Bùi Tiến Dũng đánh bạc 40 lần với tổng số tiền lên tới 1,5 triệu USD, trong đó lần nhiều nhất, Dũng bắt độ tới 268.000 USD, ít nhất là 3.000 USD.

(3) Ngoài sự dấn thân cho hòa bình và công bằng xã hội của những nhà lãnh đạo Công giáo hay Tin Lành, còn có hai lý do khác giúp Giáo Hội Hàn Quốc phát triển mạnh: thứ nhất là trong lịch sử, giáo dân -chứ không phải các giáo sĩ-  là những người đã đem Đạo vào đất nước Hàn Quốc vì thế theo truyền thống lâu đời, người giáo dân đóng một vài trò rất tích cực và chủ động trong mọi hoạt động của Giáo Hội; thứ hai là Giáo Hội Hàn Quốc có cách làm việc rất khoa học, có chiến lược và chương trình ngũ niên, thập niên cho việc Truyền Giáo.

(4) Một Giáo Hội mang nặng “tính giáo sĩ” là Giáo Hội trong đó hàng giáo sĩ đóng vai trò trấn áp (dominating) và bao cấp trong mọi hoạt động và người giáo dân chỉ là những người thừa hành các chỉ thị của hàng giáo sĩ.

BÀI 2: ĐẨY MẠNH VIỆC TRUYỀN GIÁO TẠI VIỆT NAM TRONG HIỆN NAY & TRONG TƯƠNG LAI 

VÀO ĐỀ

Chắc hẳn nhiều người khi đọc bài NHỮNG NÉT ĐẶC TRƯNG CỦA VIỆC TRUYỀN GIÁO TẠI VIỆT NAM XƯA VÀ NAY sẽ tự hỏi “Vậy phải làm thế nào để ĐẦY MẠNH VIỆC TRUYỀN GIÁO TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ TRONG TƯƠNG LAI?  Đó là một vấn đề rất hệ trọng đối với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Tiếc là ở trong nước cũng như trong các Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam hải ngoại chưa có hội nghị, hội thảo, toạ đàm nào được tổ chức để các nhà chuyên môn và các thành phần Dân Chúa trao đổi và thảo luận về vấn đế mang tính “sống còn” này.

Chính vì vậy mà bản thân tôi càng cảm thấy bị thúc bách phải going lên một tiếng nói để mong có nhiều người quan tâm đến vấn đề và dấn thân hơn nữa cho việc truyền bá Phúc Âm trên quê huơng yêu dấu.

ĐẨY MẠNH VIỆC TRUYỀN GIÁO BẰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP CƠ BẢN MANG TÍNH QUYẾT ĐỊNH 

          Để  nối tiếp bài NHỮNG NÉT ĐẶC TRƯNG CỦA VIỆC TRUYỀN GIÁO TẠI VIỆT NAM XƯA VÀ NAY và nhìn vào thực tế của Giáo Hội tôi thấy, ngoài việc hy sinh hãm mình và cầu nguyện cho việc Truyền Giáo, có ba biện pháp mà tôi cho là cơ bản và mang tính quyết định.

          Thứ nhất là Giáo Hội Việt Nam cần phát huy 5 đặc trưng của việc Truyền Giáo tại Việt Nam;

          Thứ hai là Giáo Hội Việt Nam nên cổ võ mạnh mẽ Ơn Gọi Truyền Giáo trong các dòng tu, giáo xứ, giáo phận; và

          Thứ ba là Giáo Hội Việt Nam nên chọn việc Truyền Giáo cho lương dân làm mục tiêu chính của mọi sinh hoạt của toàn Giáo Hội và thay đổi cách làm việc.

1. Giáo Hội Việt Nam cần biết cách phát huy 5 đặc trưng của việc Truyền Giáo tại Việt Nam:

          1.1 Xin phép được nhắc lại 5 đặc trưng của việc Truyền Giáo tại Việt Nam xưa và nay. Đó là:

                   (1o) tính gia đình,

                   (2o) tính làng xã, bộ tộc,

                   (3o) tính mộ đạo,

                   (4o) tính bác ái,  từ thiện, xã hội và

                   (5o) tính giáo dân.

          1.2 Muốn phát huy tính gia đình, thì Giáo Hội Việt Nam nên quan tâm hơn nữa đến các gia đình và đến việc giáo dục nhân bản và đức tin của gia đình cho thế hệ trẻ. Đồng thời tích cực đóng góp vào việc lành mạnh hóa môi trường xã hội  (1).

          Muốn phát huy tính làng xã, bộ tộc, thì Giáo Hội Việt Nam nên đầy mạnh việc xây dựng ý thức cộng đồng và tinh thần tập thể song song với việc  nâng cao đời sống văn hóa xã hội của các cộng đồng nghèo và bị nhiều thiệt thòi như các thôn làng miền núi và miền nông thôn.

          Muốn phát huy tính mộ đạo, thì Giáo Hội Việt Nam nên ưu tiên đầu tư vào việc hội nhập văn hóa và bảo tồn các hình thái đạo đức bình dân phối hợp chặt chẽ với nỗ lực nâng cao trình độ Giáo Lý, Thánh Kinh cho giáo dân.

         Muốn phát huy tính bác ái, từ thiện và xã hội, thì Giáo Hội Việt Nam nên giảm bớt hoặc tiết kiệm trong việc xây dựng cơ sở vật chất để dành một ngân khoản lớn cho các hoạt động bác ái, từ thiện và xã hội – cũng là những việc Truyền Giáo – và tổ chức các hoạt động ấy một cách khoa học và công bằng hơn.

         Muốn phát huy tính giáo dân, thì Giáo Hội Việt Nam, nhất là hàng giáo sĩ, cần thấm nhuần Tinh Thần và am hiểu Giáo Huấn của Công Đồng Va-ti-can II  nâng cao phẩm giá và vai trò của giáo dân, giao phó công tác cho họ và giúp đỡ họ hoàn thành sứ mạng của người giáo dân trong Giáo Hội cũng như ngoài xã hội (2).  

          Làm được bấy nhiêu việc là đời sống và bộ mặt của Giáo Hội Việt Nam đã thay đổi rất nhiều rồi!

2. Giáo Hội Việt Nam nên cổ võ mạnh mẽ Ơn Gọi Truyền Giáo trong các dòng tu, giáo xứ, giáo phận:

          Nhờ ơn Chúa thương, Giáo Hội Việt Nam rất dồi dào ơn gọi tu sĩ và giáo sĩ. Chính sách nhà nước càng cởi mở thì việc đi tu của nam nữ thanh niên càng dễ dàng và đông đúc hơn. Nhưng có lẽ Giáo Hội Việt Nam nên lưu tâm hơn nữa đến việc cổ võ ơn gọi truyền giáo trong hàng ngũ các ứng viên linh mục và tu sinh. Người ta có cảm tưởng là các đại chủng viện mới chỉ quan tâm đến việc đào tạo các linh mục triều là để ra “giữ xứ”; các dòng quan tâm nhiều hơn đến dòng của mình mà chưa quan tâm đủ đến lương dân!  Năm 1975 vì hoàn cảnh xã hội, nhiều dòng đã phân tán mỏng thành nhiều cộng đoàn nhỏ, sống gần dân trong các ngôi nhà nhỏ bé đơn sơ, dễ vào. Dường như ngày nay một số Dòng Tu có xu hướng quay trở lại  với các cộng đoàn lớn, với cơ sở vật chất đồ sộ. Xu hướng  này có cần được xem xét lại không?         

         Mới đây có một bàì báo nói rằng Ba Lan là nuớc xuất cảng các linh mục (3). Theo tôi nghĩ Giáo Hội Việt Nam cũng có thể trở thành một Giáo Hội xuất cảng các linh mục và tu sĩ sang các nước láng giềng, với điều kiện đầu tiên là Giáo Hội Việt Nam, từ cấp toàn quốc cho đến cấp giáo xứ, tổ chức liên tục các đợt cổ võ ơn gọi truyền giáo và đầu tư vào Hội Thừa Sai Việt Nam của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Sau nhiều năm lây lất sống cảnh “con chung không cha mẹ nào lo” Hội Thừa Sai Việt Nam đã được hồi sinh và được giao cho Đức Giám mục Phú Cường chăm sóc. Theo tôi thì Hội Thùa Sai này cần được Hội Đồng Giám Mục và các giáo phận quan tâm nhiều hơn nữa để giúp Hội hoàn thiện qui chế, có chương trình huấn luyện và chiêu sinh thích hợp. Có lẽ cũng nên mở rộng cho người giáo dân tham gia vào đời sống và hoạt động Truyền Giáo của Hội.

3. Giáo Hội Việt Nam nên chọn việc Truyền Giáo cho lương dân làm mục tiêu “ưu tiên số một” của mọi hoạt động của toàn Giáo Hội và thay đổi cách làm việc:

          Muốn đầy mạnh việc Truyền Giáo trong hiện tại và trong tương lai,

          Trước hết Giáo Hội Việt Nam cần chọn ưu tiên số một của mọi hoạt động của các cộng đoàn từ giáo xứ đến giáo phận, từ hội đoàn tông đồ đến các ban mục vụ, các ủy ban giám mục là việc loan báo Tin Mừng cho lương dân, cho người Kinh cũng như người sắc tộc thiểu số.

          Kế  tiếp là cần có phương pháp làm việc có kế hoạch, chương trình bài bản mà nhiều người, nhiều nơi chưa quen. Tôi nhớ cách đây 5 năm (tháng 3.2001), tại Hội Nghị Giáo Dân Châu Á lần thứ hai tại Bangkok (Thái Lan) khi Ban Tổ Chức đề nghị các đoàn đại biểu tham dự Hội Nghị chuẩn bị  Kế Hoạch Hoạt Động Quốc Gia (Action’s National Plan) để trình bày trong Phiên Họp Khoáng Đại của Hội Nghị  thì Vị giám mục trưởng  đoàn (4) nói với chúng tôi rằng:  “Mình có làm được gì đâu mà lên Chương Trình hay Kế Hoạch.”  Nhiều vị lãnh đạo cao thấp trong Giáo Hội Việt Nam vẫn còn suy nghĩ như vị giám mục trên.

          Làm việc không kế hoạch, không kiểm điểm, không lượng giá công việc, không rút ưu khuyết điểm thì làm sao mà tiến triển được!

          Và sau cùng là có sự cộng tác chặt chẽ giữa các ban ngành, đoàn thể Công Giáo Tiến Hành, giữa các giáo phận và giữa các giám mục, linh mục và dòng tu.

THAY LỜI KẾT

        Nếu tất cả những thuận lợi về các mặt và trong các lãnh vực đều được coi là những nén vàng nén bạc Thiên Chúa trao ban, thì Giáo Hội Việt Nam còn chôn giấu rất nhiều nén vàng nén bạc của Thiên Chúa.

        Máu của 117+1 Thánh Tử Đạo và của hàng trăm ngàn Anh Hùng Tử Đạo là những nén vàng nén bạc vô cùng quí giá! 

        Nhiều ơn gọi linh mục và tu sĩ cũng là những nén vàng nén bạc quí giá!

        Nhiều giáo dân hăng say, nhiệt thành, quảng đại  với công việc của Giáo Hội  cũng là những nén vàng nén bạc quí giá!

        Người Công Giáo Việt Nam là một thiểu số, yếu kém cả về số lượng lẫn quyền lực trần gian cũng là những nén vàng nén bạc quí giá!

        Thậm chí cả những khó khăn, cản trở và bách hại mà Giáo Hội Việt Nam phải chịu cũng là những nén vàng nén bạc quí giá quí giá!

        Chắc chẳng ai trong chúng ta muốn nghe lời tuyên xử của Chúa Giê-su:

       “Hỡi đầy tớ tồi tệ và biếng nhác! Anh đã biết tôi gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi, thì đáng lý anh phải gởi số bạc của tôi vào ngân hàng, để khi tôi đến, tôi thu được cả vốn lẫn lời chứ! Vậy các ngươi hãy lấy yến bạc khỏi tay nó mà đưa cho người đã có mười yến. Vì phàm ai đã có, thì được cho thêm và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy đi. Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, sẽ phải khóc lóc nghiến răng.” (5).

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.                                               
Kansas City (MO/USA) ngày 01.08.2006

…………………

Ghi chú:

(1) Xin mời đọc Đề Tài 20:  “ĐỂ GIÚP CÁC GIA ĐÌNH CÔNG GIÁO VIỆT NAM SỐNG ĐẠO TỐT HƠN”  thuộc Chủ Đề “GIA ĐÌNH SỐNG ĐẠO” trên các websites:  thanhlinh.net, dongcong.net, chungnhanduckito.net và liendoanconggiao.org.

(2) Về mối tương quan giữa Giáo phẩm và giaó dân, xin đọc Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội (Lumen Gentium) số 37.

(3) Đó là bài của Lm Trần Công Nghị  với những thông tin như sau:  “Hiện nay chừng phân nửa số linh mục thừa sai rời Trung Tâm Truyền Giáo Krakow ra ngoại quốc truyền giáo, thì không đi đây xa hơn là tới các nước láng diềng Châu Âu và tới Bắc Mỹ. Tại Đại chủng viện Tổng giáo phận Krakow, các chủng sinh được khuyến khích học thêm các ngôn ngữ như Anh, Đức, Pháp, Ý cộng thêm các môn môn ngôn ngữ truyền thống tiếng La tinh và các môn thần học tu đức. Sau khi họ được truyền chức thì sẵn sàng lên đường đi ngoại quốc truyền giáo. Tại Ba Lan, linh mục đã trở thành món “xuất cảng” đắt hàng nhất niện nay, nơi mà Giáo Hội Công giáo vẫn còn duy trì được một nền đạo sống động và ơn kêu gọi làm linh mục càng ngày càng tăng, đầu Ba Lan đã phải sống dưới chế độ Cộng Sản lâu năm. Và so với tình trạng các nước Châu Âu, nền đạo vào số linh mục bớt đi quá nhiều thì Ba Lan vẫn là nơi phát huy nếp sống đạo Công giáo mạnh mẽ.
Linh mục Marek Lesniak thuộc Đại Chủng Viện Krakow nói:  “Giáo Hội là hoàn vũ chứ không chỉ là ở Ba Lan”, Ngài cho biết thêm các linh mục xuất thân từ chủng viện này hiện nay cũng làm việc tại Áo, Anh, Đức, Thụy Sĩ, Hoa Kỳ, và ngay tại các quốcv gia như Nga, Ukraine, Congo và Brazil, v.v… Lm Lesniak nói tiếp: “chúng tôi không phải là đại chủng viện truyền giáo, nhưng nếu ai nghe tiếng gọi truyền giáo thì người đó có thể theo tiếng gọi truyền giáo đó”. Đại Chủng Viện Krakow đã được thành lập từ 600 năm qua và tại đây Đức cố Giáo Hoàng John Paul II đã từng theo học, nên cũng là một động lực và cảm hứng cho các sinh viên trẻ đến đây theo học” (VietCatholic News 18/07/2006). 

(4) Phái đoàn Việt Nam dụ Hội Nghị này gồm một giám mục, một linh mục và ba giáo dân, hai nữ một nam.

(5) Mt 25,26-30.


Những nét đặc trưng của truyền giáo tại VN xưa và nay

BÀI 3: CHÚA THÁNH THẦN LÀ NGƯỜI QUYẾT ĐỊNH THÀNH QUẢ CỦA VIỆC TRUYỀN GIÁO

VÀO ĐỀ

           Trong bài trước với tựa đề  ĐẨY MẠNH VIỆC TRUYỀN GIÁO TẠI VIỆT NAM TRONG HIỆN TẠI & TRONG TƯƠNG LAI tôi có viết:

          “ngoài việc hy sinh hãm mình và cầu nguyện cho việc Truyền Giáo, có ba biện pháp mà tôi cho là cơ bản và mang tính quyết định”.  

           Viết như thế không có nghĩa là coi nhẹ yếu tố siêu nhiên. Trái lại là khác. Vì thực sự Chúa Thánh Thần mới là Người quyết định thành quả của việc Truyền Giáo của Giáo Hội.

            Vì thế cần có bài này để tránh ngộ nhận hoặc hiểu sai vấn đề.

TRÌNH BÀY:

I. “CHÚA THÁNH THẦN LÀ NHÂN TỐ CHÍNH YẾU TRONG TOÀN BỘ SỨ VỤ TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI”

          Lời quả quyết này của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II  đưa tới một hệ luận: nếu chỉ cậy dựa vào yếu tố nhân loại thôi thì công cuộc loan báo Tin mừng đã thất bại ngay từ trong trứng nước! Nó chẳng khác gì “dã tràng xe cát biển Đông”. Đây là những lý do đưa tới hệ luận trên:

          (a) Chính Chúa Thánh Thần mới là chủ thể siêu việt có đầy đủ quyền năng để thực hiện công trình cứu độ trong tâm hồn con người và trong lịch sử thế giới.

          (b) Khi trao ban sứ vụ cho các tông đồ: “Như Cha đã sai Thày, Thày cũng sai anh em”, Chúa Giêsu đã ban Thánh Thần cho các ông, để các ông có khả năng rao giảng và ban ơn tha tội cho muôn dân.

          (c) Chúng ta còn nhớ ngay từ giây phút đầu tiên của công cuộc khai mở Giáo hội, nhờ Chúa Thánh Thần tác động và đổi mới hoàn toàn, các tông đồ mới hội đủ khả năng để trở thành những chứng nhân và ngôn sứ hầu xây dựng Giáo hội bằng các hoạt động loan báo Tin Mừng đầy khôn ngoan dũng cảm. Sự thành công trên bước đường truyền giáo của các tông đồ cũng như của các thế hệ kế thừa sau đó và cho đến hôm nay trên toàn thế giới đều là hồng ân do Chúa Thánh Thần ban tặng (1).

II.  SỐNG VÀ CỘNG TÁC VỚI CHÚA THÁNH THẦN TRONG CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO

2.1 Cầu nguyện:

       – Chúng ta nài xin Chúa Thánh Thần ban cho cánh đồng truyền giáo nhiều tâm hồn nhiệt thành, bén nhạy với các hoạt động tông đồ. Đó là các ơn gọi truyền giáo, như lời Đức Giêsu dạy: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Mt 9,27).

       – Cầu xin cho các bậc cha mẹ biết quảng đại đóng góp đặc biệt vào sự nghiệp truyền giáo của Giáo hội bằng cách vun trồng ơn gọi truyền giáo các con trai con gái mình” (2).

      – Cầu xin cho các bạn trẻ biết lắng nghe Lời Chúa Kitô nói với họ như nói với Phêrô và Anrê xưa: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mt 4,19), và biết đáp lại lời mời gọi của Chúa như ngôn sứ Isaia: Con đây, lạy Chúa, con sẵn sàng, xin hãy sai con” (Is 6,8).

      – Cầu cho những nơi truyền giáo vượt qua mọi khó khăn trở ngại do Satan dàn dựng, để Tin Mừng của Chúa liên tục được loan báo và được lắng nghe.

      – Cầu cho những người thành tâm thiện chí được toại nguyện khi muốn kiếm tìm chân lý và số những người như thế cứ mỗi ngày một gia tăng.

      – Cầu cho hết mọi người Kitô hũu ý thức sứ vụ ra đi để hăng say nhập cuộc và anh dũng thi hành sứ mệnh.

2.2 Hy sinh:

     Chúng ta cũng cần phải dâng lên Chúa những hy sinh tinh thần cũng như thể lý. Nên nhớ rằng Ơn Cứu độ phát xuất từ hy lễ thập giá của Đức Kitô, “chính Người là Đấng đã kêu gọi các phần tử trong Thân Thể Mầu nhiệm hãy liên kết với những đau khổ của Người nơi chính thân xác mình.” (Cl 1,24).

      Cuộc sống hằng ngày của chúng ta đầy dẫy những đau khổ.

      Đau khổ tinh thần như khi bị hiểu lầm, bị nghi oan, bị thất bại mà chán nản, thất vọng!

       Đau khổ thể lý như thiếu cơm ăn áo mặc, nhà cửa rách nát, bệnh nạn tật nguyền v.v..

      Chúng ta hãy dâng hết những đau khổ đó cho Chúa để cầu cho các nhà truyền giáo cũng như cho hoạt động truyền giáo của các ngài. Như thế, chúng ta được kể như góp phần trực tiếp vào sứ vụ Loan Báo Tin Mừng” (3).

THAY LỜI KẾT

          Vậy thì trước khi và trong khi tìm tòi, vận dụng mọi phương thế thích hợp và hữu hiệu cho việc Loan Báo Tin Mừng thì chúng ta phải chạy đến với Chúa Thánh Thần và lắng nghe sự hướng dẫn, mách bảo của Người. Và trong khi hoạt động Truyền Giáo thì chúng ta phải cùng hoạt động với Người, hoạt động bằng sức mạnh của Người. Chắc chắn chúng ta sẽ thành công hay đúng hơn việc Truyền Giáo sẽ đạt kết quả tốt đẹp như lòng Chúa mong muốn.

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

Carthage (MO/USA) ngày 4.8.2006)

……………

Ghi chú:

(1) Xem “LOAN BÁO TIN MỪNG” của Lm Antôn (tức cố Lm Nguyễn Hữu Văn) ấn hành nội bộ (2002), trang 38-39.

(2) Tông huấn Đời sống Gia đình, 54.

(3) Xem “LOAN BÁO TIN MỪNG” của Lm Antôn (tức cố Lm Nguyễn Hữu Văn) ấn hành nội bộ (2002), trang 43-45.

BÀI 5: TUYỂN CHỌN VÀ ĐÀO TẠO NHÂN SỰ TRUYỀN GIÁO 

VÀO ĐỀ

          Trong bài trước (bài 4) tôi chỉ nêu lên 3 thành phần giáo dân trong hàng ngũ Nhân Sự Truyền Giáo. Thật ra còn rất nhiều Tông Đồ Giáo Dân khác đáng chúng ta nhắc đến và ghi nhớ công lao. Nhưng theo tôi, những người này có một nét cá biệt là họ thực hiện sứ mạng Loan Báo Tin Mừng trong các lãnh vực chuyên môn của họ và họ ít lệ thuộc vào tồ chức giáo xứ. Ví dụ: những anh chị em giáo dân là bác sĩ, y tá hay cán sự xã hội, hay những anh chị em giáo dân làm/viết báo/sách trong số đó phải kể đến những anh chị em thực hiện các trang webs hay viết bài cho các trang webs ấy. Tất cả những giáo dân vừa kể đều thực sự  là Nhân Sự Truyền Giáo. 

          Trở lại với vần đề Nhân Sự Truyền Giáo, trong bài này chúng ta sẽ đề cập đến vấn đề TUYỂN CHỌN VÀ ĐÀO TẠO là vần đề chìa khóa. Dựa vào thực tế chúng ta thấy để làm Tông Đồ Giáo Dân một cách tích cực và hiệu quả, các ứng viên cần có 5 (năm) điều kiện: một là TINH THẦN, hai là TRÌNH ĐỘ, ba là TÂM LÝ, bốn là THỜI GIAN và năm là TÀI CHÁNH. Hẳn nhiên là 5 điều kiện trên không quan trọng như nhau. Có lẽ thứ tự quan trọng của các điều kiện tương ứng với thứ tự vừa được nêu ra.

TRÌNH BÀY

I. TINH THẦN CỦA CÁN BỘ TRUYỀN GIÁO

          1.1 Trong 5 (năm) điều kiện người cán bộ truyền giáo phải có thì TINH THẦN là điều kiện quan trọng nhất. Tinh thần được hiểu là tinh thần Ki-tô giáo nói chung, tinh thần Tông Đồ hay Truyền Giáo hay Siêu Nhiên nói riêng. Tinh Thần ấy khác xa với tinh thần tự nhiên hoặc tệ hơn là tinh thần thế gian.

         Người  làm việc Tông Đồ theo tinh thần tự nhiên là người làm theo ý hay sở thích riêng của mình.

         Người làm việc Tông Đồ theo tinh thần thế gian là người tìm kiếm danh vọng thế gian, lợi lộc vật chất, uy tín cá nhân.

         Còn người làm việcTông Đồ theo tinh thần Tông Đồ hay Truyền Giáo hay Siêu Nhiên người là làm việc theo tinh thần của Tin Mừng, của Chúa Kitô, của Hội Thánh tức làm việc nhằm  VINH DANH THIÊN CHÚA và  LỢI ÍCH ĐÍCH THỰC CÚA CON NGƯỜI. Vì thế mà cầu nguyện, hy sinh, hãm mình, bỏ ý riêng, tìm ý Chúa, cộng tác với người khác là những yếu tố then chốt không thể không thiếu trong cách hoạt động.

         1.2 Muốn làm việc Tông Đồ theo tinh thần Tông Đồ hay Truyền Giáo hay Siêu Nhiên như thế thì người tông đồ giáo dân cần được đào tạo kỹ về  cách  sống ĐứcÁi Ki-tô giáo (kính Chúa yêu người),  về đời sống cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa, tìm kiếm thánh ý Chúa. Người ấy cũng cần được rèn luyện về tập quán hy sinh, hãm mình, dẹp bỏ ý riêng, biết cộng tác và phục thiện trong giao tiếp và làm việc với đồng nghiệp.

II. TRÌNH ĐỘ CỦA CÁN BỘ TRUYỀN GIÁO

          2.1 Trong 5 (năm) điều kiện người cán bộ truyền giáo phải có thì TRÌNH ĐỘ là điều kiện quan trọng thứ hai. Trình độ được hiểu là trình độ Giáo Lý, Thần Học, Thánh Kinh, Công Đồng Vatican II, Giáo Luật và Giáo Huấn của Giáo Hội. Nói chung là trình độ về Đạo. Nhiều người trong chúng ta cảm thấy e ngại khi nghe nói đến trình độ ấy. Chẳng có gì phải e ngại cả. Trình độ thì có nhiều mức độ khác nhau và không có định mức nào được cho là đủ cả. Trình độ cũng không phải chỉ là lý thuyết mà còn là kinh nghiệm sống, là cảm nghiệm đức tin, cậy, mến của mỗi người. Trình độ thì có thể trau dồi và học hỏi mỗi tháng một ít, mỗi năm một ít, thậm chí tìm tòi, học hỏi suốt đời chẳng bao giờ cùng!

2.2 Muốn là người Tông Đồ Giáo Dân có trình độ thì không thể không nói đến việc siêng năng tìm tòi, học hỏi:

* qua những người đi trước hay các cộng sự viên của mình,

* qua sinh hoạt hàng tuần, hàng tháng, hàng năm của hội đoàn Tông Đồ mà mình là hội viên,

* qua các Khóa huấn luyện tổng quát và chuyên đề,

* qua các cuộc hội thảo, tọa đàm hay hội nghị,

* qua các đợt tĩnh tâm, linh thao chung và riêng,

* qua các chuyến hành hương hay công tác xã hội.

          Hiện nay nhiều giáo phận trong nước đã thành lập các Ban Mục Vụ  (Thiếu Nhi, Giới Trẻ, Gia Đình, Trí Thức, Y Xã (Y Tế, Xã Hội), Giáo Chức, Văn Nghệ Sĩ, Di Dân v.v….) và đã xây dựng Trung Tâm Mục Vụ, Học viện Mục vụ hay Nhà Sinh Hoạt Giáo phận, Nhà Chung của Giáo Phận, thì công việc đào tạo cán bộ truyền giáo là trách nhiệm của các Ban Mục Vụ và các Trung Tâm kể trên.

III. TÂM LÝ CỦA CÁN BỘ TRUYỀN GIÁO

          3.1 Trong 5 (năm) điều kiện người cán bộ truyền giáo phải có thì TÂM LÝ  là điều kiện quan trọng thứ ba. Tâm lý được nêu lên ở đây không phải là kiến thức lý thuyết về tâm lý cho bằng sự hiểu biết tâm lý con người trong cuộc sống. Trong kinh nghiệm truyền giáo đã có nhiều trường hợp người có cảm tình với Đạo xa lánh, thậm chí ghét bỏ Đạo, chỉ vì người cán bộ truyền giáo không biết cách đối xử với họ “một cách tâm lý”. Thật vậy, khi tiếp xúc với các thành phần khác nhau trong xã hội thì người cán bộ truyền giáo cần phải biết người mình tiếp xúc thuộc thành phần nào (đạo ông bà, phật tử, bỏ đạo, nguội lạnh, gia đình rối (1), gốc Miền Bắc, Miền Trung, Miền Nam, cựu cán bộ cộng sản (2), vô thần), vì mỗi thành phần xã hội có tâm lý riêng, có vốn liếng và kinh nghệm sống riêng, có tâm tư, khắc khoải và thắc mắc riêng.

          3.2 Sự hiểu biết tâm lý sẽ giúp người cán bộ truyền giáo tiếp xúc một cách dễ dàng, thoải mái, tự tin với từng hạng người, biết dùng phương cách thích hợp để khơi lên vấn đề có liên quan tới nhu cầu và khát vọng thâm sâu về tôn giáo và tâm linh nơi mỗi người. Kiến thức thực dụng (pratical) này là sự kết hợp giữa hiểu biết lý thuyết và kinh nghiệm sống cụ thể.

IV. THỜI GIAN CỦA CÁN BỘ TRUYỀN GIÁO

          4.1 Trong 5 (năm) điều kiện người cán bộ truyền giáo phải có thì THỜI GIAN là điều kiện quan trọng thứ bốn. Thời gian chẳng những được hiểu là thời gian rãnh rỗi mà người cán bộ truyền giáo có thể có để dành cho việc Tông Đồ mà còn có nghĩa là người ấy biết cách tổ chức thời gian của mình cho có lợi nhất cho việc truyền giáo. Sống trong một xã hội hiện đại như ở các nước Phương Tây thì thời gian là điều mà người ta có ít nhất. Trong một xã hội chậm phát triển như ở Việt Nam thì người cán bộ truyền giáo có nhiều thời gian hơn; nhưng với đà phát triển hiện nay, nhất là với dân thành thị, thì thời gian cũng dần dần bị thu hẹp lại.

          4.2 Muốn có thời gian dành cho việc truyền giáo thì người Tông Đồ Giáo Dân phải chấp nhận hy sinh rất nhiều, kể cả thu nhập và lợi ích vật chất lẫn hưởng thụ văn hóa cách chính đáng. Cũng có nghĩa là người ấy chọn sống theo bậc thang các giá trị của Phúc Âm coi của cải, giầu sang, hưởng thụ là thứ yếu sau các giá trị của Tin Mừng là yêu thương, phục vụ tha nhân, cứu giúp những người nghèo khó, túng thiếu, xa Chúa và chưa biết Chúa. Nếu người cán bộ truyền giáo chờ cho đến khi mình rảnh rỗi mới tham gia việc Tông Đồ, thì e rằng chẳng bao giờ người ấy được rảnh rỗi.

V. TÀI CHÁNH CỦA CÁN BỘ TRUYỀN GIÁO

           5.1 Trong 5 (năm) điều kiện người cán bộ truyền giáo phải có thì khả năng TÀI CHÁNH  là điều kiện quan trọng thứ năm.  Nói đến khả năng tài chánh không có ý nói phải là người giầu có, dư ăn dư mặc, mới có thể là cán bộ truyền giáo. Người nghèo cũng có thể là cán bộ truyền giáo. Nhưng tốt nhất là người ấy có được đời sống kinh tế tương đối ổn định vì cán bộ truyền giáo không thể chỉ biết lo cho người khác mà quên nhiệm vụ lo cho gia đình mình. Đây quả là vấn đề gai góc mà nhiều người không biết cách nào để vượt qua.

           5.2 Nhưng nếu chúng ta chờ cho đến khi đủ ăn, đủ mặc (biết bao giờ chúng ta mới cho là mình đủ ăn đủ mặc?) mới làm việc Tông Đồ thì cũng là sai lầm. Kinh nghiệm cho thấy những giáo dân nhiệt thành với việc mở mang Nước Trời  mà hy sinh thời gian cho công việc Tông Đồ thường là những người được Chúa Quan Phòng (3) bù đắp một cách đặc biệt, đúng như Chúa Giê-su đã nói  trong Phúc Âm: “Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy.” (4). Cho nên vấn đề ở đây là người cán bộ truyền giáo vừa cố gắng lo cho gia đình mình, vừa dám liều với Chúa mà tin tưởng, phó thác cuộc sống của mình và của gia đình cho Chúa.

THAY LỜI KẾT

       Cả năm điều kiện trên đều có thể áp dụng cho mọi lứa tuổi, chứ không chỉ cho những giáo dân trưởng thành, cho mọi thành phần chứ không chỉ cho những người có học vấn cao hay nhiều của cải. Mới đây có bản tin đáng chúng ta suy gẫm là Trại hè của Hội Giáo Hoàng Tuổi Thơ Thánh Thiện của Hội Giáo Hoàng Thừa Sai Hàn Quốc tổ chức từ ngày 2-4.8.2006 tại Trung Tâm Giáo Dục và Tĩnh Tâm Hanmaum ở giáo phận Uijeongbu, cách Seoul khoảng 25 kilômét về phía bắc với mục đích là giới thiệu đời sống thừa sai cho các thiếu nhi (5). Nếu các Tòa Giám Mục, các linh mục coi xứ, các Ban Mục Vụ và các Trung Tâm Mục Vụ của các Giáo phận Việt Nam quan tâm hơn nữa đến vấn đề tuyển chọn và đào tạo Nhân Sự Truyền Giáo thì Giáo Hội Việt Nam sẽ có thêm nhiều thợ gặt nhiệt thành và chuyên nghiệp và công cuộc Truyền Giáo tại Việt Nam sẽ tiến trỉển mạnh mẽ hơn nhiều. Đó là chắc chắn và đáng mong ước. Hy vọng trong THƯ MỤC VỤ với tựa đề “SỐNG ĐỨC TIN GIỮA LÒNG XÃ HỘI” mà Hội Đồng Giám Mục Việt Nam sẽ phổ biến sau Hội nghị Thường Niên từ 4 đến 8.9.2006 tại Huế, sẽ đề cập đến Vấn Đề Truyền Giáo tại Việt Nam hiện nay và trong tương lai.

       Để kết thúc bài này xin được nêu lên hai đề nghị:

       * Thứ nhất là việc gây qưỹ và sử dụng quỹ Truyền Giáo của mỗi giáo xứ, giáo phận và của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, trong đó có phần yểm trợ cho các giáo lý viên, nhất là các giáo lý viên chuyên nghiệp, dành trọn thời gian cho cánh đồng truyền giáo.

       * Thứ hai là việc tổ chức các cuộc hội thảo chuyên đề về truyền giáo ở tất cả các giáo phận. Ủy ban Giám Mục về Truyền Giáo của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nên quan tâm đến hai việc này.

       Chúng ta không nên chờ đến lúc có thể làm tất cả mọi việc thì chúng ta mới làm. Cũng không nên chờ đến ngày có thể tổ chức ở tất cả các nơi chúng ta mới tổ chức. Việc gì làm được lúc này, nơi này thì chúng ta phải mạnh dạn mà làm. Còn việc nào chưa làm được hoặc ở nơi nào chưa tổ chức được thì chúng ta đành chờ vậy! Có thế chúng ta mới không lãng phí cơ hội và thời gian cũng là những nén vàng nén bạc Chúa ban cho Giáo Hội Việt Nam chúng ta.

        Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.                                          

        Kansas City (MO/USA) ngày 19.08.2006 

…………………….

Chú thích

(1) Trong ngôn ngữ nhà Đạo, gọi là “rối” hay “gia đình rối” là tình trạng hôn nhân không đúng phép Đạo. Ví dụ một người công giáo lấy một người không công giáo mà việc kết hôn không được phép chuẩn (nghĩa là sự chấp thuận) của Giáo Hội.

(2) Hiện nay có nhiều người trước đây là người có đạo trở thành cán bộ cộng sản (bỏ Chúa theo đảng) nay về hưu nhìn lại cuộc đời  và tìm về với Chúa và Hội Thánh.

(3) Về tin tưởng vào Chúa Quan Phòng, xin mời đọc Mt 6,25-34.

(4) Lc 6,38.

(5) Bản tin của  UCA, được Vietcatholic News đăng tải  ngày 15 tháng 8 vừa qua.

BÀI 6: CÁC PHƯƠNG TIỆN CẦN THIẾT CHO VIỆC TRUYỀN GIÁO TẠI VIỆT NAM

VÀO ĐỀ

          Chúa Thánh Thần là Người quyết định thành quả của Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng của Giáo Hội (bài 3). Nhân sự truyền giáo là nhân tố cần thiết sau Chúa Thánh Thần và được xem là công cụ của Chúa Thánh Thần (bài 4+5). Kế đến là các phương tiện mà Chúa Quan Phòng đã ban cho người tín hữu và Giáo Hội để chúng ta sử dụng chúng một cách tốt nhất cho Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng Cứu Độ chúng sinh. Trong bài 6 này chúng ta sẽ đề cập đến một số phương tiện cần thiết cho việc Truyền Giáo tại Việt Nam hiện nay và trong tương lai.

TRÌNH BÀY

1. Giáo Huấn của Công Đồng Vatican II về các Phương Tiện Truyền Giáo:

           “Các Ki-tô hữu phải hoạt động và cộng tác với mọi người khác để tổ chức đúng đắn các hoạt động kinh tế xã hội. Họ phải quan tâm đặc biệt đến việc giáo dục các thanh  thiếu niên, nhi đồng bằng các loại trường học khác nhau. Ngoài ra họ còn phải tham gia vào nỗ lực của các dân tộc đang cố gắng tạo ra những hoàn cảnh sống tốt đẹp hơn và củng cố hòa bình thế giới bằng cách khuất phục đói khát, dốt nát và bệnh tật… Tuy nhiên Giáo hội không chỉ tìm kiếm tiến bộ và thịnh vượng thuần vật chất, mà còn nâng cao nhân phẩm và sự hiệp nhất huynh đệ cho con người” (1).

          Từ giáo huấn trên của Công Đồng Vatican II chúng ta hiểu rằng tất cả mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, bác ái, văn hóa, giáo dục, nghệ thuật nhằm thăng tiến con người về mọi mặt (toàn diện) đều là các phương tiện Truyền Giáo. Chúng ta cũng hiểu rằng giáo huấn trên đã được khơi nguồn từ chính gương mẫu của Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng, sau khi giảng dạy cho dân chúng về Nước Trời, đã cho họ bánh ăn và chữa lành mọi bệnh nạn tật nguyền (2). Vì thế chúng  ta có một định nghĩa rất cụ thể về Truyền Giáo: “Truyền giáo là tận tình giúp đỡ những người nghèo khổ, để, ở đời này họ có được một cuộc sống xứng phẩm giá con người và đời sau được đạt tới Ơn Cứu độ” (3). Do đó tất cả những việc làm giúp người nghèo về vật chất, tinh thần, tâm linh thoát khỏi cảnh nghèo ấy đều được kể là các phương tiện Truyền Giáo.

2. Một số Phương Tiện Truyền Giáo hữu hiệu và thích hợp tại Việt Nam hiện nay:

Ngoài  các hoạt động phụng vụ, bí tích, giảng dạy giáo lý mà giáo xứ nào cũng tổ chức, chúng ta có thể nêu ra đây một số hoạt động được xem như phương tiện thích hợp giúp người không công giáo có dịp tiếp cận với người công giáo, hiểu được phần nào tinh thần, động lực và mục tiêu của mọi hoạt động của người Công giáo. Từ đó họ khám phá ra Thiên Chúa  là Đấng Tối Cao, Siêu Việt và Thánh Thiện, Chúa Giê-su là Thiên Chúa nhập thể làm người để cứu chuộc nhân loại mà tin theo Người.    

2.1 Các Chương Trình Học Bổng cho học sinh nghèo:  Trước hết là các Chương Trình học bổng cho học sinh nghèo, tức chương trình cấp mỗi tháng hay mỗi năm một khoản tiền nào đó cho một học sinh, sinh viên nghèo có thêm điều kiện để học hành. Chương Trình này rất thiết thực vì chi phí học hành là rất lớn đối với các gia đình nghèo. Chương trình này khá phổ biến và đa dạng, do nhiều người, nhiều tổ chức thực hiện độc lập với nhau: nhà nước có chương trình của nhà nước; địa phuơng có chương trình của địa phương; các hội từ thiện (trong và ngoài nước) có chương trình của hội từ thiện; các giáo xứ có chương trình của các giáo xứ.  Các Chương Trình học bổng cho học sinh nghèo được mọi người đón nhận và nếu biết cách vận động thì cũng dễ  tìm ra nguồn tài trợ.

2.2 Các Lớp Học Tình Thương:  Một Chương Trình khác giúp trẻ em nghèo là Các Lớp Học Tình Thương tức các lớp học được tổ chức cho các trẻ em không có đủ điều kiện để vào học trong các trường của nhà nước: như quá tuổi qui định, không có hộ khẩu ở thành phố, hoặc vì gia đình quá nghèo. Người hay tổ chức đứng ra mở các Lớp Học Tình Thương phải trang trải  tiền lương cho giáo viên, tiền sách vở cho học sinh và thường cho các cháu ít là một bữa ăn. Phần lớn các trẻ em này phải vừa học vừa kiếm sống: trước hay sau buổi học là các em chạy trên đường phố bán báo, kẹo chewing-gum, vé số. Có em giúp các cửa hàng ăn uống hay các bà bán rau ở chợ. Có em nhặt ve chai ở đống rác ngoại thành. Một số các em có cha có mẹ, có nơi trú nắng trú mưa và một số em mồ côi hay bị cha mẹ bỏ, sống vô gia cư, ngủ lề đường xó chợ rất tội nghiệp và dễ trở thành nạn nhân của các tệ nạn xã hội như lạm dụng tình dục trẻ em hay nghiện ma túy.

 2.3 Các Mái Âm, Nhà Mở:  Một Chương Trình khác nữa giúp trẻ em nghèo lại bị khuyết tật (mù, câm, thiểu năng)  là Các Mái Âm, Nhà Mở. Các em được đưa vào các cơ sở này chẳng những được nuôi dưỡng tử tế mà còn được học hành đàng hoàng – học chữ và học nghề – nữa. Người hay tổ chức thành lập các Mái Ấm hay Nhà Mở phải trang trải  tiền lương cho giáo viên, tiền ăn uống, sách vở, điện nước, thuốc men cho các cháu. Một số các em có cha có mẹ  và một số em mồ côi hay bị cha mẹ bỏ, chẳng biết nương tựa vào ai.

2.4 Các Lớp Dậy Nghề:  Trong hoạt động của các tổ chức phi chính phủ người ta thường lấy phương châm này: “Cho cần câu tốt hơn cho con cá” vì cho con cá hay lương thực hay tiền bạc thì người nghèo ăn, xài rồi cũng hết. Chi bằng và tốt hơn là cung cấp cho họ một phương thế để họ tự kiếm sống. Đó chính là lý do và ý nghĩa của các Lớp Dậy Nghề mà nhiều người, nhiều tổ chức đang làm tại Việt Nam. Các đối tượng được nhận vào các Lớp này cũng phải được tuyển lựa một cách nào đó. Các em – phần đông là nữ- được học may, thêu, đan, vẽ, sửa xe, cắt tóc, nấu ăn, làm bánh. Có nhiều cơ sở còn giúp các em kiếm việc làm sau khi mãn khóa. Có nhiều người nghèo đã được giúp đỡ một cách thiết thực để có nghề trong tay tự kiếm sống trong xã hội từ các Lớp Dậy Nghề như thế.

2.5 Các Chuyến Công Tác Bác-Ái, Xã Hội, Từ Thiện:  Không phải người hay tập thể Công giáo nào cũng có khả năng tổ chức được các Chương Trình hay Lớp Học hay Cơ Sở vừa nêu. Có rất nhiều người không có điều kiện để giúp đỡ người nghèo theo các cách ấy thì họ vẫn có thể tham gia một hoạt động khác là các Chuyến Công Tác Bác Ái – Xã Hội -Từ Thiện. Ví dụ: nhân dịp Têt Trung Thu hay Tết Nguyên Đán, một số anh chị em huynh trưởng Thiếu Nhi Thánh Thể hay Giới Trẻ hay Hiền Mẫu mời gọi nhau đóng góp và vận động những người chung quanh đóng góp tiền, mì gòi, sữa, đường, quần áo, sách báo cũ …. cho một chuyến viếng thăm một Trại Phong, một Trung Tâm Nuôi Dưỡng người già, một Viện Mồ Côi, một Trại Cải Hóa các phụ nữ lỡ lầm….  Giới  Y Xã (y tế – xã hội) thì phối hợp việc khám bệnh phát thuốc cho các đối tượng trong các chuyến công tác của họ. Mới đây có đoàn đã tổ chức được cả thánh lễ cho những anh chị em công giáo sống trong các cơ sở này.

2.6  Các Điểm Truyền Giáo:  So với các Chương Trình hay các Hoạt Động vừa nêu thì Điểm Truyền Giáo mang tính chất truyền Giáo một cách rõ rệt hơn. Thường thì một Điểm Truyền Giáo bất đầu bằng sự hình thành một vài phòng cho Lớp Học Tình Thương, cho Lớp Dậy Nghề,  trong một khu dân cư nghèo và có ít người Công giáo. Sau một thời gian (dài ngắn tùy từng nơi, từng trường hợp) sẽ xuất hiện một ngôi nhà nguyện. Lúc đầu linh mục chỉ thỉnh thoảng đến dâng lễ, rồi dần dần thánh lễ sẽ được cử hành đều đặn hơn và các lớp giáo lý được âm thầm tổ chức cho trẻ em. Nhờ thế mà một cộng đoàn Công Giáo nhỏ bé được hình thành. Với đà đô thị hóa chẳng mấy chốc Điểm Truyền Giáo này có thể biến thành một Giáo Họ, thậm chí một Giáo Xứ.

Có điều cần nêu lên ở đây là từ trước đến giờ chính quyền luôn tỏ ra khắt khe với  hoạt động này của Giáo Hội. Trong khi đó cũng phải nói rằng các Tòa Giám Mục cũng tỏ ra quá nhẫn nại chờ chính quyền thay đổi thái độ, làm cho cộng đoàn đức tin chậm ra đời tại nhiều địa phương.

2.7 Các Phương Tiện Thông Tin Đại Chúng hay Truyền Thông Xã Hội:  Nếu thời đại này là thời đại của Thông Tin Đại Chúng thì tại Việt Nam tất cả các phương tiện truyền thông (báo chí, truyền thanh, truyền hình, xuất bản) đều nằm trong tay nhà nước. Và nhà nước cho phép tới đâu, cho phép nói kiểu nào thì các cơ quan này được nói tới đó, được nói kiểu đó! Ví dụ: có một thời nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (tức Trung Cộng) được mọi phương tiện thông tin đại chúng Việt Nam coi là kẻ thù. Nhưng chỉ sau đó mấy năm thì cũng trên các phương tiện thông tin đại chúng ấy nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa là người bạn lớn của đảng, nhà nước và nhân dân Việt Nam.  Một thí dụ khác: Có một thời gian thì người Việt bỏ nước ra đi bị coi là phản quốc; một thòi gian sau thì lại được coi là Việt Kiều yêu nước!

Các tổ chức tôn giáo – dù được chính quyền nhìn nhận có quyền hiện hữu và hoạt động – cũng chẳng có phương tiện thông tin đại chúng nào đáng kể. Riêng Giáo Hội Công Giáo chỉ có một bản tin Hiệp Thông của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam trầy trụa bao năm nay mới được “để yên”. Điều trớ trêu và nực cười nhất là nhà nước lập nhà xuất bản tôn giáo để in các sách của các tôn giáo trong khi từ cán bộ lãnh đạo đến nhân viên của cơ quan ấy đều là người vô thần, vô tôn giáo. Cũng như từ trung ương đến các địa phương, nơi nào cũng có ban tôn giáo để quản lý những người có tôn giáo. Vô tôn giáo mà quản lý tôn giáo thì là thế nào?

Tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng – tôn giáo của VNXHCN là như thế đó!

Người ta cũng ghi nhận hiện tượng này: trong mấy năm gần đây thì trên các kênh truyền hình Việt Nam có nhiều tin và hình ảnh hơn về hoạt động của Đức Giáo Hoàng, về các Lễ Giáng Sinh hay Phục Sinh ở một số nơi trong và ngoài nước. Nhưng như thế vẫn chưa đủ. Các kênh truyền hình trung ương và các tỉnh, thành phố lớn  nên mời các tôn giáo lớn như Phật Giáo, Công Giáo v.v.. có những bài phát biểu, có những băng hình về sinh hoạt để giới thiệu với mọi người dân vào những dịp lễ lớn của tôn giáo.

3. Một số Phương Tiện Truyền Giáo mà Giáo Hội  Việt Nam có quyền đòi nhà đương quyền phải nhìn nhận và trả lại :

 Hiện nay trên thế giới khi các tổ chức tôn giáo đã được nhìn nhận thì các tổ chức tôn giáo ấy có quyền hoạt động và có quyền có các phương tiện để hoạt động, không chỉ trong lãnh vực thuần túy tôn giáo mà cả trong các lãnh vực văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục, từ thiện nữa. Đó là điều hết sức bình thường. Vì thế mà các tôn giáo tại Việt Nam có quyền sở hữu và điều hành các trường học, bệnh viện, trung tâm xã hội  và các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, nhà xuất bản, phát thanh, truyền hình, mạng lưới điện tử (websites).

Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám Mục Sàigòn đã có lần hỏi thẳng ông Nguyễn Minh Triết (lúc ông còn là Bí Thư Thành Ủy và nay là Chủ Tịch Nước): “Tại sao chính quyền không để các tôn giáo tham gia vào công việc y tế, giáo dục, xã hội …. trong khi nhà  nước lo không xuể?”  Lúc đó ông Triết đã không trả lời câu hỏi ấy của Đức Hồng Y; nhưng không có nghĩa là vấn đề đã được giải quyết.

Tôi thiết nghĩ Hội Đồng Giám Mục Việt  Nam nên đặt những câu hỏi  tương tự với chính quyền trung ương, nhất là trong những dịp Hội Nghị Thường Niên (4), thường có sự gặp gỡ với ban tôn giáo chính phủ. Tôi cũng thiết nghĩ các vị lãnh đạo các tôn giáo tại Việt  Nam  nên liên kết với nhau để đặt vấn đề với nhà cầm quyền, vì đó chẳng những là quyền lợi mà còn là trách nhiệm của các vị đối với dân tộc Việt Nam nói chung và với các tín đồ của tôn giáo mình nói riêng.

THAY LỜI KẾT

 Phương tiện là nhân tố cần thiết thứ ba của việc Truyền Giáo, sau Chúa Thánh Thần và Nhân Sự. Có nhân sự mà không có phương tiện thì hoạt động Truyền Giáo cũng bị giới hạn.

 Muốn có những phương tiện cần thiết cho hoạt động Truyền Giáo thì người và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam phải chủ động, sáng tạo, dũng cảm, có kế hoạch và biết dành ưu tiên cho các Phương Tiện hợp thời và hiệu quả nhất. Cũng cần có sự liên đới, san sẻ, hợp tác giữa các giáo phận, giữa hai Ủy Ban Giám mục về Loan Báo Tin Mừng và về Bác Ái xã Hội.

             Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

            Lễ Thánh Ba-tô-lô-mê-ô Tông Đồ.

            Kansas City (MO/USA ngày 24.8.2006).

…………………….

Chú thích

(1) Sắc Lệnh Truyền Giáo, 12.

(2) Mc 6, 34-44.

(3) “Giáo hội trong toàn thế giới muốn là Giáo Hội của những người nghèo khổ… Do đó người nghèo là đối tượng đầu tiên của việc truyền giáo. Và loan báo Tin Mừng cho họ là một dấu chỉ và bằng chứng sứ vụ của Đức Giê-su” (Tuyên bố của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và các Giám Mục Châu Mỹ La tinh tại Puebla).

(4) Hội Nghị Thường Niên năm nay của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam sẽ được tổ chức tại Huế từ ngày 4 đến ngày 8 tháng 9 này, với chủ đề của Thư Mục Vụ “SỐNG ĐỨC TIN TRONG LÒNG XÃ HỘI”

BÀI 7:  TRUYỀN GIÁO BẰNG CHỨNG TÁ ĐỜI SỐNG

VÀO ĐỀ

          Dựa vào các tài liệu của Giáo Hội, chúng ta có thể liệt kê 15 Đường Lối Truyền Giáo như sau: (1) Làm chứng, (2) Loan báo Tin Mừng, (3) Thành lập Giáo Hội địa phương, (4) Cộng đoàn Cơ Bản và các Phong Trào Canh Tân, (5) Đối thoại với mọi người, (6) Đối thoại Đại kết, (7) Đối thoại liên tôn, (8) Tiếp xúc cá nhân, (9) Thăng tiến con người, (10) Truyền thông xã hội, (11) Phụng vụ Lời Chúa, (12) Huấn giáo và dạy giáo lý, (13) Các Bí tích và Á Bí tích, (14) Lòng đạo đức bình dân, (15) Hội nhập văn hóa.

        Trong nhiều bài tiếp theo, chúng ta sẽ lần lượt xem xét mỗi đường lối ấy và áp dụng vào hoàn cảnh riêng của Việt Nam chúng ta. Chúng ta bắt đầu bằng một đường lối mà người Công Giáo nào cũng có thể thực hiện được: đó là CHỨNG TÁ ĐỜI SỐNG.

TRÌNH BÀY

1. Giáo huấn của Giáo Hội về Đường Lối Truyền Giáo bằng Chứng Tá  Đời Sống:

  “Con người thời nay tin vào các chứng nhân hơn là các thầy dạy. Tin vào kinh nghiệm hơn là đạo lý, tin vào đời sống và các sự kiện hơn là các lý thuyết. Hình thức đầu tiên của việc truyền giáo là chứng tá đời sống Kitô hữu ; hình thức này là điều không thể thay thế được. Chúa Kitô, Đấng mà chúng ta đang tiếp tục sứ mạng của Người, là “Vị Chứng Nhân” tuyệt hảo (Kh 1,5 ; 3,14) và là khuôn mẫu cho chứng tá Kitô giáo. Chúa Thánh Thần đang đồng hành với Giáo hội trên bước đường của Giáo hội, đồng thời liên kết Giáo hội với lời chứng của người về Chúa Kitô (Ga 15,26-27).      

 “Hình thức đầu tiên của chứng tá là chính đời sống của nhà truyền giáo, của gia đình Kitô hữu và của cộng đồng Giáo hội, hình thức này làm cho người ta nhìn thấy một lối sống mới. Cho dù vẫn có giới hạn và bất toàn của con người, nhưng khi nhà truyền giáo chân thành sống theo gương Đức Kitô, thì họ là một dấn chỉ về Thiên Chúa và về những thực tại siêu việt. Tuy vậy. Mọi người trong Giáo hội, khi nỗ lực noi gương Thầy Chí Thánh, thì có thể và phải nêu lên chứng tá này; trong rất nhiều trường hợp, đây là cách thế duy nhất để truyền giáo”  (1).


2. Giáo huấn của Tin Mừng về Chứng Tá Đời Sống  để Truyền Giáo:

          “Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi. Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được.Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.” (2).
 

3. Chứng Tá của chính Chúa Giêsu Kitô:

          Các nhà chú giải Thánh Kinh xem Bài Giảng Trên Núi không chì là Bản Hiến Chương Nước Trời dành cho những ai muốn gia nhập Thế Giới của Thiên Chúa mà còn là bản tóm tắt đời sống cụ thể của chính Chúa Kitô khi Người ở trần gian. Vì thế mà chúng ta có thể xem đây là Chứng Tá Sống Động của chính Người mà noi theo:

          “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.
          Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
          Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
          Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.
          Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
          Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
          Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
          Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.
          Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.”
(3).

4. Giải thích thêm về Chứng Tá Đời Sống  để Truyền Giáo:

          4.1 Lời nói xuông chỉ là “bánh vẽ”, “lừa gạt” và “mị dân” khiến con người thời nay rất dị ứng, thường cảnh giác và không tin vì họ đã bị lừa quá nhiều rồi.

          4.2 Việc làm cụ thể và thiết thực đi kèm với lời nói (rao giảng) mới đủ sức thuyết phục con người thời nay và mới chứng minh được những điều được chúng ta rao giảng là chân thật.

          4.3 Chứng Tá Đời Sống không chỉ là của các cá nhân mà còn phải là chứng tá của cả gia đình và cộng đoàn, vì niềm tin Kitô giáo và Ơn Cứu độ của Thiên Chúa mang tính cộng đoàn (Dân Chúa).

          Truyện ông Gandhi yêu mến Phúc Âm  nhưng không  tin theo những người có đạo vì những người này không sống khớp với Tin Mừng và Giáo huấn của Chúa Kitô, đáng chúng ta phải mãi mãi ghi nhớ và suy niệm trong lòng.

5. Điều kiện để người Kitô hữu trở thành Chứng Nhân:

          5.1 Ý thức ơn gọi và vai trò Kitô hữu của mình trong môi trường và chủ động tích cực để “hiện diện” trong mọi môi trường dù hoàn cảnh khó khăn. Sống trong các nước cộng sản thì điều này rất quan trọng và có thể nói là mang tính quyết định, vì chính quyền luôn chủ trương gạt người Kitô hữu ra khỏi xã hội, biến chúng ta thành công dân “hạng hai”.

          5.2 Sống gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu và với Chúa Thánh Thần như cành nho gắn liền với thân nho (4) vì không có đời sống siêu nhiên và ơn sủng của Thiên Chúa chúng ta không thể làm được điều gì tốt lành.

          5.3 Chấp nhận thua thiệt, mất mát là những điều gắn liền với mọi đời sống chứng tá (5).

THAY LỜI KẾT

 Trong hầu hết các cuộc gia nhập đạo của những anh chị em lương dân, chúng ta đều thấy phần đóng góp của những chứng tá sống động của người Kitô hữu. Thường họ chỉ là những giáo dân bình thường, quê mùa, ít học nhưng có niềm tin mạnh mẽ và tấm lòng rộng mở. Lối sống tốt lành, thánh thiện, yêu thương, phục vụ, hy sinh, quên mình của họ là đường lối mà bàn tay quyền năng của Thiên Chúa sử dụng để đưa các linh hồn về với Chúa và Giáo Hội. Tạ Ơn Chúa!!

             Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

            Lễ Sinh Nhật Đức Trinh Nữ Maria

            Boston (MA/USA) ngày 8.9.2006.

…………………….

Chú thích

(1) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu Độ, số 42.      

(2) Mt  5,13-16; Mc 9, 50; Lc 14, 34-35.

(3) Mt 5, 3-11 và Lc 6, 20-23

(4) Ga 15,1-8.

(5) Mt 10,37-39.

BÀI 8:  TRUYỀN GIÁO BẰNG LOAN BÁO TIN MỪNG

VÀO ĐỀ

          Chứng tá đời sống là đường lối Truyền Giáo đầu tiên, có tính cơ bản và phổ quát nhất, như chúng ta đã thấy trong bài trước (bài 7). Đường lối Truyền Giáo tiếp theo là  LOAN BÁO  TIN MỪNG. Đó vừa là nghĩa vụ, vừa là quyền lợi của người và của Giáo Hội Ki-tô giáo, vì bản chất của Giáo Hội là Truyền Giáo tức tiếp nối công trình Loan Bao Tin Mừng của chính Chúa Giêsu Ki-tô, Con Một Thiên Chúa xuống trần.

        Trong lịch sử Truyền Giáo của Giáo Hội, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, có lẽ không ai có thể so sánh được với Thánh Phao-lô được gọi là Vị Tông Đồ Dân Ngoại. Ngài đã dành cả cuộc đời cho công cuộc Loan Báo Tin Mừng và xây dựng các Cộng Đoàn Ki-tô trong các nước thuộc vùng Địa Trung Hải. Hai lời nói “bất hủ” đáng mọi Ki-tô hữu phải thuộc nằm lòng là:

“Khốn thân tôi! nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1).

         “Hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” (2).

TRÌNH BÀY

1. Giáo huấn của Giáo Hội về Đường Lối Truyền Giáo bằng Loan Báo Tin Mừng:

    “Giảng truyền tức là dùng lời nói công bố một sứ điệp vẫn luôn luôn cần thiết…. Lời nói mãi mãi còn hợp với hiện thời, nhất là khi nó lại mang quyền năng của Thiên Chúa. Bởi vậy phương châm của Thánh Phao-lô vẫn còn hợp thời với hiện thời: ”Tin là bởi đã được nghe”: chính nhờ Lời đã nghe mà dẫn tới đức tin  (3).

“Không thể có sự Phúc âm hóa thật sự nếu không có việc công khai loan báo Chúa Giê-su là Chúa.…..Thế nên, Đức Giáo hoàng Phao-lô VI đã viết rõ ràng rằng “không có việc phúc âm hóa thật sự, nếu trong đó người ta chưa công bố tên, giáo lý, cuộc đời, các lời hứa, Nước Trời và mầu nhiệm của Chúa Giê-su Na-da-rét, Con Thiên Chúa”. Đây chính là điều mà các thế hệ Ki-tô hữu đã làm trong bao nhiêu thế kỷ qua” (4).

Riêng tại Châu Á:

“Ý thức sâu xa về sự phức tạp do có quá nhiều tình huống khác nhau tại Á Châu, và vì muốn “sống theo sự thật và trong tình bác ái” (Ep 4,15), nên Giáo Hội luôn công bố Tin Mừng với sự tôn trọng và quý mến đối với những người nghe. Loan báo mà vẫn tôn trọng các quyền lương tâm sẽ không xâm phạm sự tự do của con người, vì đức tin luôn luôn đòi phía cá nhân phải có sự hưởng ứng tự do tự nguyện. Tuy nhiên, tôn trọng không có nghĩa là không được phép công khai loan báo Tin Mừng một cách nguyên vẹn. Nhất là trong bối cảnh có quá nhiều nền văn hóa và tôn giáo tại Á Châu, cần phải nói rõ rằng “không bao giờ vì tôn trọng và yêu quý các tôn giáo ấy, cũng chẳng bao giờ vì tính phức tạp của các vấn đề được đặt ra mà yêu cầu Giáo Hội rút lui không công bố Chúa Giê-su Ki-tô cho những người không phải là Ki-tô hữu.”

“Tuy nhiên, trong những cuộc tham khảo diễn ra trước Thượng Hội Đồng, nhiều Giám Mục Á Châu đã nêu lên những khó khăn khi công bố Chúa Giê-su là vị Cứu Tinh duy nhất. Trong Hội Nghị, các vị cũng mô tả tình hình ấy như sau: ”Một số tín đồ của các tôn giáo lớn tại Á Châu không gặp vấn đề gì khi chấp nhận Chúa Giê-su là hiện hình của Thần Minh hay Đấng Tuyệt Đối, hoặc như một Đấng “Giác Ngộ”. Nhưng thật khó cho họ phải coi Ngài là hiện thân duy nhất của Thần Minh. Thật ra, nỗ lực chia sẻ ơn đức tin đối với Chúa Giê-su như là vị Cứu Tinh duy nhất đã đụng phải những khó khăn về triết học, văn hóa và thần học, nhất là nhìn từ những niềm tin có trong các tôn giáo lớn của Á Châu, vốn quyện rất chặt với các giá trị văn hóa và các thế giới quan riêng biệt.

“Theo ý kiến của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng những khó khăn ấy còn được tăng thêm do sự kiện Chúa Giê-su thường được cho là xa lạ với Á Châu. Thật là nghịch lý khi đại đa số người Á Châu có khuynh hướng coi Chúa Giê-su, một người sinh ra trên chính mảnh đất Á Châu, là một người Tây Phương hơn là Á châu…” (5).

2. Giáo huấn của Chúa Giê-su  Ki-tô về Loan Báo Tin Mừng:

       “Chúa Giê-su đến gần  nói với các môn đệ: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (6).

3. Chứng Tá của chính Chúa Giêsu Kitô:

          “Thế rồi Chúa Giê-su đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân. Danh tiếng Người đồn ra khắp xứ Xy-ri. Thiên hạ đem đến cho Người mọi kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền: những kẻ bị quỷ ám, kinh phong, bại liệt; và Người đã chữa họ. Từ miền Ga-li-lê, vùng Thập Tỉnh, thành Giê-ru-sa-lem, miền Giu-đê và vùng bên kia sông Gio-đan, dân chúng lũ lượt kéo đến đi theo Người.” (7).
4. Giải thích thêm về Loan Báo Tin Mừng là một Đường Lối để Truyền Giáo:

          4.1 Loan báo Tin Mừng nhắm cả ba loại đối tượng: thứ nhất là những người chưa biết chưa tin Chúa; thứ hai là những người đã tin theo Chúa và đang sống đạo;

thứ ba là những người đã tin Chúa nhưng nay đã bỏ Chúa và Giáo Hội.

          4.2 Loan báo Tin Mừng được thực hiện bằng rất nhiều cách khác nhau: việc làm, lời nói, bài viết, sách báo, phim ảnh, băng đĩa, kiến trúc vân vân…..

5. Điều kiện để người Ki-tô hữu và Giáo Hội Việt Nam Loan Báo Tin Mừng:

          5.1 Ý thức ơn gọi và sứ mạng Loan Báo Tin Mừng của cá nhân và cộng đoàn Ki-tô hữu.

          5.2 Được huấn luyện & đào tạo một cách tương đối về Đời Sống Nội Tâm (8), về Tinh Thần và Phương Pháp Truyền Giáo.

          5.3 Biết tổ chức một cách chặt chẽ, khoa học và phù hợp với từng loại đối tượng, với các môi trường xã hội khác nhau.

          5.4 Biết sử dụng những phương tiện có sẵn trong tay và sáng tạo ra những phương thế mới, nhắm đáp ứng nhu cầu và mong ước của người thời nay (9).

THAY LỜI KẾT

 Việc Loan Báo Tin Mừng là trách nhiệm của mọi Ki-tô hữu. Điều đó không có gì phải nói thêm. Nhưng để việc Loan Báo Tin Mừng của người Ki-tô hữu và của Giáo Hội Việt Nam đạt nhiều kết quả thì rất điều chúng ta cần là Phương Tiện và Nhân Sự Truyền Giáo, nhất là Cán Bộ Truyền Giáo thông minh, thánh thiện và chuyên nghiệp. Ước gì và hãy cầu xin Thiên Chúa cho Giáo Hội chúng ta có được nhiều người như thế ở trong hàng giáo phẩm, giáo sĩ, tu sĩ cũng như giáo dân. 

            Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

            Lễ Suy Tôn Thánh Giá

            Kansas City (MO/USA) ngày 14.09.2006

…………………….

Chú thích

(1) 1 Cr 9,16.

(2) 2 Tm 4,2

(3) Đức Thánh Cha Phaolô VI, Tông huấn Loan Báo Tin Mừng, số 42

(4) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II,  Tông huấn Giáo Hội tại Châu Á, số 1.

(5) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Tông huấn  Giáo Hội tại Châu Á, số 20.

(6) Mt 28,17-20; Mc 16, 14 -18; Lc 24, 36 -49; Ga 20, 19 -23; Cv 1,6-8.

(7) Mt 4,23-25.

(8) Mt 5,48: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện”.
Hiến chế tín lý về Giáo Hội 11,3: “Mọi Kitô hữu đều được Chúa kêu gọi đạt tới sự trọn lành thánh thiện như Chúa Cha trọn lành”

Hiến chế tín lý về Giáo Hội 40,2: “Vì thế, tất cả các Kitô hữu, bất cứ theo bậc sống hay địa vị nào, đều được kêu gọi tiến đến sự viên mãn của đời sống Kitô giáo và sự trọn lành của Đức Ái”.
(9) Đề nghị đọc lại Bài 6: Các phương tiện cần thiết cho việc Truyền Giáo tại Việt Nam.

BÀI 9:  SỐNG HIỆP THÔNG ĐỂ TRUYỀN GIÁO 

VÀO ĐỀ

          Mầu nhiệm trung tâm của Hội Thánh Công Giáo là Mầu Nhiệm Hiệp Thông của một cộng đồng được gọi là Dân Chúa. Công Ðồng Va-ti-can II đã nhấn mạnh và triển khai ý niệm này trong các văn kiện, nhất là trong Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội tức Hiến Chế “Ánh Sáng Muôn Dân” (Lumen Gen-tium). Khi nói về sứ vụ Loan Báo Tin Mừng, các vị Giáo Hoàng hậu Công Ðồng cũng dành cho sự hiệp thông một tầm quan trọng đặc biệt.

         Chúng ta có thể khẳng định: sống hiệp thông chính là đường lối Truyền Giáo đẹp lòng Thiên Chúa và hợp với bản chất của Giáo Hội nhất nên chính thống nhất. Trong bài 9 này chúng ta sẽ tìm hiểu về cách sống hiệp thông  ấy để đẩy mạnh hơn nữa việc Truyền Giáo tại Việt Nam.           

TRÌNH BÀY

I. GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI VỀ HIỆP THÔNG.

1.1 Phải hiểu thế nào là hiệp thông?

“Chúng ta lấy lại hình ảnh cây nho và cành nho trong Kinh Thánh. Hình ảnh này giúp chúng ta nhận định về tính dồi dào và sức sống. Được tháp nhập vào thân nho, nhận sức sống từ thân cây, nên các cành nho được kêu gọi trổ sinh hoa trái (Ga 15,5). Đơm hoa kết trái là một đòi hỏi cốt yếu trong đời sống người Ki-tô hữu cũng như của Giáo Hội. Ai không sinh hoa trái là không sống trong sự hiệp thông. Hiệp thông với Chúa Ki-tô, và từ đó phát sinh sự hiệp thông giữa các tín hữu với nhau, là điều kiện không thể thiếu để sinh hoa trái (= loan báo Tin Mừng): Hiệp thông mang tính truyền giáo và truyền giáo nhằm mục đích hiệp thông. Luôn luôn cùng một Thánh Thần duy nhất, Đấng kêu gọi và hiệp nhất Giáo Hội, sai đi truyền giảng Tin Mừng “cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8). Về phần mình, Giáo Hội ý thức rằng sự hiệp thông mà Giáo Hội đã đón nhận như một hồng ân, là được ban cho hết thảy mọi người. Như thế, Giáo Hội cảm nhận được rằng mình mắc nợ với hết mọi người và với từng người, về hồng ân đã lãnh nhận từ Chúa Thánh Thần, Đấng gieo rắc nơi trái tim người tín hữu tình mến của Chúa Giê-su Ki-tô, là sức mạnh nối kết bên trong và đồng thời phát triển bên ngoài. Sứ vụ truyền giáo của Giáo hội phát xuất từ chính bản chất của Giáo Hội, như ý định của Chúa Ki-tô, đó là trở thành “dấu chỉ và khí cụ của sự hiệp nhất nhân loại”. Sứ vụ này nhắm bày tỏ và giúp mọi người sống sự hiệp thông “mới”, sự hiệp thông đã đến trong lịch sử nhân loại qua Con Thiên Chúa làm người” (1).

1.2 Hiệp thông với Thiên Chúa.

  “Muốn hiệp thông với Thiên Chúa phải trung thành với việc tìm hiểu và lắng nghe Lời Chúa, phải cầu nguyện và chiêm niệm, phải cử hành các bí tích nhất là bí tích Thánh Thể, phải nêu gương sống hiệp thông thực sự cũng như sống yêu thương liêm chính.”

“Người dân Á châu rất dễ tỏ lòng kính trọng và sẵn sàng nghe theo những người đạo đức thật sự. Do đó những việc như cầu nguyện, ăn chay, sống khổ hạnh, từ bỏ, khiêm nhường, đơn giản, trầm lặng …. thường được người dân Á châu rất quí mến. Tông huấn nhắc nhở rằng: phải có lửa thì mới chia lửa cho người khác được, nghĩa là phải có mới cho được. Do đó Ki-tô hữu tại Á châu phải sống theo một linh đạo truyền giáo trong đó cầu nguyện và chiêm niệm là trọng tâm.” 

“Tại Á Châu, quê hương của các tôn giáo lớn qua đó không những cá nhân mà cả dân tộc bày tỏ lòng khát khao thế giới thần linh, Giáo Hội được kêu gọi hãy trở thành một Giáo Hội cầu nguyện, hết sức thiêng liêng, cả khi dấn thân vào các bận tâm nhân bản và xã hội trước mắt. Mọi Ki-tô hữu cần phải sống một linh đạo truyền giáo lấy cầu nguyện và chiêm niệm làm trọng tâm…

Tại Châu Á, một người có tôn giáo thật sự sẽ sớm được kính trọng và được hưởng ứng. Cầu nguyện, chay tịnh và khổ hạnh dưới nhiều hình thức khác nhau là những điều rất được trân trọng. Từ bi, siêu thoát, khiêm nhường, giản dị và thinh lặng là những điều mà tín đồ của bất cứ một tôn giáo nào cũng coi là những giá trị lớn. Các Nghị Phụ Thượng Hội Ðồng lưu ý rằng muốn việc cầu nguyện không trở nên xa lạ với sự thăng tiến con người, “phải liên kết công tác xây dựng công lý, bác ái và từ thiện với một đời sống cầu nguyện và chiêm niệm thật sự, và linh đạo này cũng phải là cội nguồn sinh ra mọi công tác phúc âm hóa” (2).

1.3 Hiệp thông trong nội bộ Giáo Hội.

“Quy tụ chung quanh Đấng kế vị Thánh Phê-rô, cùng cầu nguyện và làm việc với nhau, các Giám Mục trong Hội Nghị đặc biệt dành cho Châu Á lần này, đã trở thành hiện thân của sự hiệp thông Giáo Hội giữa các Giáo Hội địa phương vô cùng khác biệt được lãnh đạo bằng đức ái….. ”

“Mỗi Giáo Hội địa phương phải được xây dựng vững vàng bằng cách minh chứng tinh thần hiệp thông với Giáo Hội vì đây chính là bản chất làm cho cộng đoàn  ấy là Giáo Hội . Các Nghị Phụ Thượng Hội Ðồng đã quyết định mô tả giáo phận là sự hiệp thông của các cộng đoàn chung quanh vị mục tử; trong đó giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân tham gia cuộc “đối thoại bằng đời sống và bằng tâm hồn”, cuộc đối thoại được Chúa Thánh Thần nâng đỡ. Giáo phận là nơi ưu tiên cho ta thấy cụ thể hình ảnh sự hiệp thông của các cộng đoàn giữa bao thực tế xã hội, chính trị, tôn giáo, văn hóa, và kinh tế vô cùng phức tạp của Châu Á. Nói tới sự hiệp thông Giáo Hội là ngụ ý bảo rằng mỗi Giáo Hội địa phương phải trở thành cái mà các Nghị Phụ Thượng Hội Ðồng gọi là Giáo Hội trong đó mọi người đều có phần và phải góp phần, tức mỗi người sống đúng ơn gọi riêng của mình và thi hành đúng vai trò riêng của mình. Muốn xây dựng cộng đoàn “hiệp thông để truyền giáo” và “truyền giáo bằng hiệp thông”, người ta cần phải nhìn nhận, phát triển và sử dụng hiệu quả đoàn sủng của mỗi thành phần trong Giáo Hội. Cách riêng, cần cổ võ sự tham gia nhiều hơn nữa của giáo dân và các người tận hiến trong việc lập kế hoạch mục vụ và quyết định, thông qua các cơ chế mang tính tham gia như Hội Ðồng Mục Vụ và các Hội Nghị Giáo Xứ.

“Tại mỗi giáo phận, giáo xứ vẫn là nơi thông thường cho tín hữu qui tụ lại để được lớn lên trong đức tin, để sống mầu nhiệm hiệp thông Giáo Hội và tham gia vào sứ mạng của Giáo Hội. Thế nên, các Nghị Phụ Thượng Hội  Ðồng thúc giục các vị chủ chăn hãy nghĩ ra những phương cách mới mẻ và hữu hiệu để chăn dắt các tín hữu, làm sao cho mỗi người, nhất là người nghèo, cảm nhận được mình là một thành phần thực thụ của giáo xứ và của toàn thể Dân Chúa. Cùng với giáo dân lập kế hoạch mục vụ, điều đó phải trở thành một nét sinh hoạt bình thường của mọi giáo xứ. Thượng Hội Ðồng lưu ý đặc biệt hơn nữa giới trẻ là thành phần mà “giáo xứ cần phải tạo nhiều điều kiện hơn để họ hiệp thông và cộng tác…” Không ai bị loại trừ một cách tiên thiên không cho tham gia trọn vẹn vào sinh hoạt và sứ mạng của giáo xứ chỉ vì gốc gác xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa hay giáo dục. Nếu mỗi môn đệ Chúa Ki-tô đều có cái để cống hiến cho cộng đoàn, thì cộng đoàn cũng phải tỏ ra sẵn sàng tiếp nhận và sử dụng sự cống hiến ấy (3).

1.4 Sự liên đới giữa các Giáo Hội.

“Sự hiệp thông nội bộ trên đây sẽ giúp góp phần xây dựng sự liên đới giữa các Giáo Hội địa phương. Quan tâm tới các nhu cầu tại chỗ là điều hợp tình hợp lý và cần thiết, nhưng vì sự hiệp thông, các Giáo Hội địa phương vẫn phải cởi mở tiếp nhận nhau và cộng tác với nhau, để dù dị biệt, các Giáo Hội ấy vẫn cho thấy và bảo vệ được mối hiệp thông với Giáo Hội toàn cầu. Muốn hiệp thông thì phải hiểu nhau và có sự phối hợp trong việc thi hành sứ mạng, mà vẫn không làm hại tới sự tự trị và quyền lợi của mỗi Giáo Hội đúng theo truyền thống của Giáo Hội ấy về thần học, phụng vụ và thiêng liêng”  (4).

1. 5 Hiệp thông rất quan trọng đối với các Giáo Hội Á châu, nơi có nhiều dân tộc, nhiều nền văn hóa và nhiều tôn giáo lớn của nhân loại.

 “Sống giữa nhiều dân tộc, nhiều nền văn hóa, nhiều tôn giáo khác biệt nhau tại Châu Á, Giáo Hội phải là “Giáo Hội hiệp thông”. Đây là điều tối quan trọng, bởi vì có Hội Thánh đích thực thì Giáo Hội mới là bằng chứng để dân tộc Á châu thấy mà tin tưởng”

“Một đòi hỏi thiết yếu của cuộc sống trong Chúa Ki-tô là hễ ai hiệp thông với Chúa thì phải sinh hoa kết quả: ”Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, người ấy sẽ sinh nhiều hoa trái” (Ga 15,5). Như thế, thật là đúng khi bảo rằng ai không sinh hoa kết quả, thì ấy là người đã không sống trong sự hiệp thông: “Cành nào không sinh hoa trái thì Cha Thầy sẽ tỉa đi” (Ga 15,2). Hiệp thông với Chúa Ki-tô, và từ đó phát sinh sự hiệp thông giữa các Ki-tô hữu với nhau, chính là điều kiện cần thiết để sinh hoa kết quả và sự hiệp thông với người khác, một món quà của Chúa Ki-tô và Thánh Thần, chính là hoa quả tuyệt vời nhất mà cành cây có thể sinh ra. Hiểu như thế thì hiệp thông và truyền giáo là hai việc không thể tách rời nhau. Chúng thẩm thấu và bao hàm nhau, đến nỗi có thể nói “hiệp thông vừa là gốc vừa là trái của việc truyền giáo: hiệp thông đưa tới truyền giáo và truyền giáo được hoàn thành trong sự hiệp thông” (5).

1.6 Sự liên đới với các tôn giáo.

“Dựa trên Thần học của sự hiệp thông, Công Đồng Va-ti-can II đã mô tả Giáo Hội là Dân Chúa đang hành hương, một dân mà không dân tộc nào không có liên hệ cách này hay cách khác. Trên cơ sở đó, các Nghị Phụ Thượng Hội Ðồng nhấn mạnh mối liên hệ nhiệm mầu giữa Giáo Hội và tín đồ các tôn giáo khác của Châu Á, ghi nhận rằng các tín đồ ấy có liên hệ (với Giáo Hội) bằng nhiều cách và ở nhiều mức độ khác nhau. Giữa đông đảo các dân tộc, các nền văn hóa và các tôn giáo khác nhau như thế, “càng thấy sống đời sống Giáo Hội như một sự hiệp thông quan trọng thế nào”. Thật ra, công tác phục vụ sự hiệp nhất do Giáo Hội thực hiện có một tầm quan trọng đặc biệt tại Châu Á, vì tại đây có quá nhiều căng thẳng, chia rẽ và xung đột, do những khác biệt về chủng tộc, xã hội, văn hóa, ngôn ngữ, kinh tế và tôn giáo gây ra. Chính trong bối cảnh ấy các Giáo Hội địa phương ở Châu Á, hiệp thông với Đấng kế vị Thánh Phê-rô, cần cổ vũ sự hiệp thông nhiều hơn nữa trong tâm trí cũng như trong tâm hồn bằng sự cộng tác mật thiết hơn giữa các Giáo Hội với nhau. Một điều cũng quan trọng không kém đối với sứ mạng phúc âm hóa của họ là xây dựng các quan hệ với các Giáo Hội và các cộng đồng Ki-tô khác, cũng như với tín đồ các tôn giáo khác. Bởi đó, Thượng Hội Ðồng nhắc lại sự dấn thân của Giáo Hội Á châu với công tác cải thiện các quan hệ đại kết cũng như sự đối thoại giữa các tôn giáo, vì nhìn nhận rằng xây dựng sự hiệp nhất, nỡ lực hòa giải, thiết lập các dây liên đới, xúc tiến sự đối thoại giữa các tôn giáo và các nền văn hóa, loại bỏ những thành kiến và gầy dựng sự tin tưởng giữa các dân tộc, đó chính là những công việc vô cùng quan trọng để Giáo Hội thi hành sứ mạng phúc âm hóa trên châu lục này. Muốn vậy, toàn thể cộng đồng Công Giáo phải thành thật xét mình, phải can đảm hòa giải và tiếp tục dấn thân đối thoại. Trước thềm thiên niên kỷ thứ ba này, ai cũng thấy rõ là muốn có khả năng phúc âm hóa, Giáo Hội phải ra sức phục vụ cho sự nghiệp hiệp nhất ấy trong mọi chiều kích. Hiệp thông và truyền giáo phải đi đôi với nhau” (6).

II. NGƯỜI & GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VIỆT NAM SỐNG HIỆP THÔNG NHƯ THẾ NÀO?

           Thật khó cho chúng ta nếu phải trả lời câu hỏi: “Người và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam sống hiệp thông như thế nào?”  Nhưng lại không khó trả lời câu hỏi khác là “Hiệp thông có là điểm mạnh của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam không?” Chúng ta không ngần ngại mà khẳng định rằng: hiệp thông chẳng những không phải là điểm mạnh mà trái lại còn là điểm yếu, thậm chí rất yếu của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam!

           Chỉ cần thoáng nhìn vào thực tế, chúng ta sẽ thấy ngay điều này: trong đời sống của đại đa số giáo dân, của hầu hết các giáo xứ và các giáo phận cũng như của toàn Giáo Hội Việt Nam,

* việc cầu nguyện, chiêm niệm,

* sự tham gia hay đồng trách nhiệm trong cộng đoàn (7),

* việc dấn thân cho sự thăng tiến con người và xây dựng công lý,

* sự liên đới và hợp tác giữa các giáo xứ, giữa các giáo phận với nhau và giữa Giáo Hội Việt Nam với các Giáo Hội trong vùng,

* sự đối thoại giữa Giáo Hội Việt Nam với anh chị em Tin Lành và với các tôn giáo và các nền văn hóa khác,

đều là những điểm rất yếu trong nếp sống của người và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam hiện nay.

Vì chưng:

* Ðối với đại đa số giáo dân Việt Nam, cầu nguyện vẫn chỉ là đọc kinh, lần chuỗi. Ðọc, suy niệm Lời Chúa và cầu nguyện chiêm niệm vẫn còn là những thực hành xa lạ đối với giáo dân.

* Trong giáo xứ, giáo phận, người giáo dân vẫn ở trong tư thế thụ động nhiều hơn là chủ động.

* Ðức tin của người tín hữu Việt Nam vẫn thiếu chiều kích xã hội, chính trị, bênh vực công lý.

* Tinh thần cục bộ, tình trạng bất hợp tác, ít làm việc chung, phân hóa giữa các tầng lớp vẫn là những điểm nổi trội của người  và  Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.

* Ðại đa số giáo dân vẫn chưa hiểu biết đầy đủ và chưa có quan điểm đúng đắn của Công Ðồng Va-ti-can II về các Giáo Hội Ki-tô anh em và về các tôn giáo không Ki-tô giáo. Hoàn cảnh xã hội lại không thuận lợi cho sự gặp gỡ, đối thoại, hợp tác giữa các tôn giáo.

THAY LỜI KẾT

Ðúng như Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II đã nói trong trong Tông huấn Giáo Hội tại Châu Á (và đã được trích dẫn trong bài này):

“Phải có mới cho (8), phải có lửa mới chia lửa cho người khác được, phải sống sự hiệp thông mới truyền giáo được.” 

Cũng đúng như như các Nghị Phụ Thượng Hội Ðồng Giám Mục Á Châu và Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II đã nhận định trong Tông huấn Giáo Hội tại Châu Á (và đã được trích dẫn trong bài này):

“Hễ ai hiệp thông với Chúa thì phải sinh hoa kết quả… Như thế, thật là đúng khi bảo rằng ai không sinh hoa kết quả, thì ấy là người đã không sống trong sự hiệp thông.” 

            Vậy thì hết mọi người Công Giáo Việt Nam, nhất là các Linh Mục và  Giám Mục là những người có trọng trách lãnh đạo, cần nhìn lại cách sống và  cách giáo dục Ðức Tin, cách tổ chức, xây dựng và điều hành Giáo xứ, giáo phận để Sứ Vụ Loan Báo Tin Mừng mà Chúa Giê-su đã giao cho Giáo Hội Việt Nam được thực hiện một cách đầy đủ hơn.

            Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

            Houston (TX/USA) ngày 28.09.2006

…………………….

Chú thích

(1) Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II, Tông huấn Người Ki-tô hữu Giáo Dân, số 32.

(2) Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II, Tông huấn Giáo Hội tại Châu Á, số 23.

(3) như trên, số 25.

(4) như trên, số 26.

(5) như trên, số 24.

(6) như trên, số 24.

(7) Ðồng trách nhiệm có nghĩa là mọi thành phần Dân Chúa đều có một phần trách nhiệm chứ không có nghĩa là có trách nhiệm bằng nhau.

(8) Người La Mã xưa có thành ngữ: “Không ai cho cái mình không có” (Nemo dat quod non habet).

BÀI 10:  XÂY DỰNG CÁC CỘNG ĐOÀN GIÁO HỘI CƠ BẢN ÐỂ TRUYỀN GIÁO

VÀO ĐỀ

          Trong Tuyển Tập Thần Học, số 34 với chủ đề “NGƯỜI GIÁO DÂN TRONG HỘI THÁNH, linh mục Gomez, Dòng Tên, đã trích dẫn một tài liệu về các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản, với những ý  tưởng và dòng chữ như sau:

        “Cuối cùng, có lẽ đặc thù nhất của thời đại là các Cộng Ðoàn Cơ Bản. Khởi  sự từ Châu Mỹ La Tinh như một trào lưu “từ dưới lên” các Cộng Ðoàn Cơ Bản đã lan tràn ra khắp thế giới như là hiện thân của quần chúng nhân dân trong cuộc  đấu tranh cho các quyền lợi căn bản của họ. Ðó là một sáng kiến Công Giáo, nhưng sau này, không chỉ Tin Lành mà cả đến các tôn giáo khác cũng lấy lại để tổ chức các Cộng Ðoàn Nhỏ làm phương tiện phát huy tinh thần huynh đệ và tương trợ giữa xã hội.” (1).

         “Trong các Cộng Ðoàn Cơ Bản, giáo hữu quen nhau, cầu nguyện với nhau, chia sẻ Kinh Thánh và phát huy tinh thần huynh đệ nhằm đối phó với tình thế tôn giáo và xã hội. Trong các nhóm như thế, giáo dân và giáo sĩ hợp tác với nhau trong bối cảnh hàng xóm, nơi môi trường làm việc v.v…. ; giáo xứ có thể giữ vai trò phối hợp các cộng đoàn. Cộng Ðoàn Cơ Bản giúp củng cố căn tính tôn giáo cho các thành viên cũng như giúp họ kháng cự những công kích tứ phía tinh thần tục hóa các, tôn phái quá khích, các tổ chức bóc lột và áp bức, v.v.. Quả vậy, các Cộng  Ðoàn nhỏ này đã trở thành công cụ truyền giáo hữu hiêu vào bậc nhất. Khi các Kitô hữu là thiểu số, thì một Cộng Ðoàn như thế là bối cảnh sống đạo cần thiết để có thể dễ dàng cảm nghiệm mầu nhiệm Giáo Hội. Một Cộng Ðoàn chưa phải là Giáo Hội, song là một phần tử trong niềm hiệp thông Công Giáo. Hiện có những Cộng Ðoàn Ki-tô giáo như thế ở thôn quê cũng như nơi thành thị, ở giữa giới bình dân cũng như giữa giai cấp giầu có, trong các đại học cũng như giữa những người di dân mù chữ: đức tin chỉ là một cho mọi người và bất cứ ở đâu” (2).

Trong bài 10 này chúng ta sẽ tìm hiểu về các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản là một trong những Ðường Lối Truyền Giáo thức thời và hiệu quả của Giáo Hội ngày nay.

TRÌNH BÀY

I. QUAN ÐIỂM CỦA GIÁO HỘI VỀ CÁC CỘNG ÐOÀN GIÁO HỘI  CƠ BẢN.

1.1 Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản  là do Chúa Thánh Thần khơi lên  trong lòng Giáo Hội:

          “Thánh Thần Thiên Chúa đã luôn hoạt động trong lịch sử Giáo Hội Á châu, hẳn cũng sẽ tiếp tục hướng dẫn Giáo Hội ấy. Người ta tìm thấy nhiều yếu tố tích cực nơi các Giáo Hội địa phương (….). Một lý do vững chắc cho phép ta hy vọng “một mùa xuân mới trong đời sống đức tin của Ki-tô hữu” là càng ngày càng có nhiều giáo dân được huấn luyện tốt hơn, nhiệt tình và đầy ơn Thánh Thần, nhận thức sâu sắc hơn ơn gọi riêng của mình trong cộng đoàn Giáo Hội.”  (3).

1.2 Giá trị của các Cộng đoàn Giáo Hội cơ bản trong lòng Giáo Hội:

“Trong bối cảnh ấy và dựa trên kinh nghiệm mục vụ của mình, các Nghị Phụ Thượng Hội Ðồng (Giám Mục Châu Á) nhấn mạnh tới giá trị của các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản như một phương thế hữu hiệu để đẩy mạnh sự hiệp thông cộng tác trong các giáo xứ và giao phận, và như một lực lượng thật sự cho công cuộc Phúc Âm hóa. Những tập thể nhỏ bé này sẽ giúp các tín hữu sống thành những cộng đoàn đức tin, cầu nguyện và yêu thương như các Ki-tô hữu đầu tiên (Cv 2,44-47; 4,32-35). Các tập thể này còn giúp các đoàn viên sống Tin Mừng trong tinh thần yêu thương huynh đệ và phục vụ, từ đó trở thành điểm khởi hành vững chắc cho một xã hội mới, biểu hiện một nền văn minh tình thương…. ” (4).

II. THẾ NÀO LÀ CỘNG ÐOÀN GIÁO HỘI CƠ BẢN?

2.1 Ðịnh nghĩa:

Cộng đoàn Giáo Hội Cơ Bản là:

(1) Một nhóm từ 8 đến 15 tín hữu,

(2) Sống cùng xóm với nhau tức trong cùng địa bàn dân cư,

(3) Gặp gỡ nhau ít nhất một tháng một lần để cầu nguyện chung với nhau, để vui hưởng và chia sẻ đời sống và các kinh nghiệm đức tin, hầu nâng đỡ nhau và phát triển tình thân hữu trong Chúa,

(4) Thông qua Nhóm và Lời Chúa, họ đào sâu và nâng cao sự hiểu biết về Chúa Ki-tô, về Giáo Hội và về ơn gọi  và nhiệm vụ riêng của mình,

(5) Tùy theo kinh nghiệm sống đức tin của Nhóm và ơn đoàn sủng mà mỗi người lãnh nhận được, họ cam kết thực hiện một mình hay chung với Nhóm một việc tông đồ nào đó, nhằm phục vụ Giáo Hội và xã hội trong môi trường nghề nghiệp, trong khu xóm hay trong gia đình,

(6) Họ đại diện giáo xứ tại khu vực của mình và tạo nên một “giáo hội tại gia” hoặc một “giáo hội nhỏ” tại địa phương ấy.

2.2 Những nét chính của một Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản:

(1) Do những người cùng sống chung một địa bàn với nhau tạo nên,

(2) Mọi giáo dân có thể gia nhập,

(3) Họ đại diện giáo xứ tại khu vực họ sống,

(4) Mỗi Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản có đại diện trong Hội Ðồng Mục Vụ Giáo Xứ.

2.3 Nhiều tên gọi khác nhau của Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản:

Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản (tiếng Pháp: Communauté de base, viết tắt là CB; tiếng Tây Ban Nha: Communidades de base, viết tắt cũng là CB; tiếng Anh: Basic Ecclesial Community, tắt là BEC) có nhiều tên gọi khác nhau, như:

(1) Cộng Ðoàn Ki-tô Cơ Bản (Basic Christian Community, viết tắt BCC),

(2) Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản (Basic Ecclesial Community, vt BEC),

(3) Cộng Ðoàn Nhỏ Giáo Xứ, (Small Parish Community, viết tắt SPC); Tế Bào Giáo Xứ (Parish Cells, viết tắt PC),

(4) Cộng Ðoàn Ðức Tin (Faith Community, viết tắt FC),

(5) Cộng Ðoàn Ki-tô (Christian Community, viết tắt CC),

(6) Cộng Ðoàn Ki-tô Nhỏ (Small Christian Community, viết tắt SCC),

(7) Cộng Ðoàn Ðức Tin Ki-tô (Christian Faith Community, viết tắt SFC),

(8) Cộng Ðoàn Cơ Bản (Basic Community, viết tắt BC),

2.3 Ðặc điểm hay phẩm chất riêng của Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản:

Từ các tên gọi khác nhau kể trên, chúng ta thấy mấy đặc điểm hay phẩm chất riêng sau đây của Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản được đề cao:

(1) Tính hạ tầng cơ sở, tính căn bản của Cộng Ðoàn (basic, de base),

(2) Tính Giáo Hội của Cộng Ðoàn (Ecclesial),

(3) Tính Ki-tô hay Ðức Tin của Cộng Ðoàn (Christian, Faith),

(4) Tính khiêm tốn, nhỏ bé của Cộng Ðoàn (Small).

2.4 Hoạt động chính Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản:   

(1) Hoạt động trọng tâm của các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản  là Chia Sẻ  Lời Chúa, nhất là theo Phương Pháp 7 bước hay Phương Pháp Xem-Xét-Làm.

(2) Hoạt động Tông đồ (hay đối ngoại) của các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản rất đa dạng, như:

* Cỗ võ các Nhóm Chia Sẻ  Lời Chúa, các Nhóm Cầu Nguyện,

* Chăm sóc bệnh nhân,

* Thăm viếng những người cùng Giáo Xứ,

* Giúp đỡ những người thiếu thốn,

* Tham dự lễ hội trong vùng,

* Dậy dỗ trẻ nhỏ,

* Tham gia các Nhóm Tín Dụng, giúp vốn, phát triển cộng đồng,

* Làm chứng cho Chúa Ki-tô trong môi trường nghề nghiệp, lao động,

* Ðem Tin Mừng đến cho những người ngoài Giáo Hội,

* Thăm viếng những người mới đến cư ngụ trong khu vực, giáo xứ,

* Thăm viếng những người bị giam tù, các bệnh nhân trong bệnh viện,

* Chăm lo cho những người nghèo, những người tàn tật, già yếu, neo đơn,

* Chăm lo cho giới trẻ,

* Dạy Giáo Lý cho dự tòng,

* Chuẩn bị Lễ Rửa Tội cho trẻ em và người trưởng thành,

* Chuẩn bị Hôn Nhân cho các bạn trẻ,

* Chuẩn bị Phụng vụ Ngày Chúa Nhật cho giáo xứ,

* Hòa giải khi có xung đột và tranh chấp,

* Quan tâm đến vấn đề bất công lớn trong xã hội,

* Bênh vực quyền lợi của người lao động,

* Quan tâm đến những nhu cầu nghiêm trọng mà người khác làm ngơ,

* Quan tâm đến sự phát triển nhân bản cũng như kinh tế,

* Quan tâm đến môi trường sinh thái,

2.5 Lý do khiến các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản hình thành:     

(1) Lý do 1: Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản thỏa mãn những ước vọng thâm sâu của con người chống lại xu hướng chung của thời đại là tạo nên những cá nhân theo một khuôn mẫu có sẵn, thậm chí biến con người thành sản phẩm của xã hội, theo mô hình đồng nhất. Con người ngày nay không ai muốn bị nhận chìm hoặc bi cuốn hút hoàn toàn bởi đám đông của các cộng đồng lớn. Họ mong muốn được nhìn nhận như các cá nhân và muốn được quan tâm tới khi người ta đưa ra quyết định nào đó. Càng ngày càng có nhiều người ý thức rằng họ có trách nhiệm về những vần đề ảnh hưởng trên xã hội, như vần đề hoà bình, vần đề môi trường sinh thái, vần đề quyền con người. Họ mong đợi được tham gia cách tích cực vào cuộc chơi là cuộc sống.

(2) Lý do 2: Trong Giáo Hội cũng có ý thức ngày càng lớn, nơi nhiều giáo dân nam nữ, về trách nhiệm của mỗi chi thể đối với lợi ích của anh em chị em mình, nhằm thực hiện được sứ mạng của Giáo Hội trong thế giới. Kinh nghiệm của nhiều Giáo Hội cho thấy rằng dù trong các giáo xứ có nhiều đoàn thể tông đồ hay các nhóm (vd Legio Mariae, Cursillo, Thanh Lao Công, các nhóm học hỏi Kinh Thánh, các nhóm cầu nguyện Thánh Linh, Hội Thánh Vinh Sơn, Hội Focolarini..),  thì phần đông giáo dân trong giáo xứ vẫn chỉ là những cá nhân lẻ loi, thụ động không dấn thân và không được quan tâm. Khi những tổ chức kể trên biến thành Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản thì lập tức các thành viên trở nên tích cực và hăng say truyền Ðạo hơn nhiều.

II. GIÁO HỘI VIỆT NAM VỚI CÁC CỘNG ÐOÀN GIÁO HỘI CƠ BẢN

Theo sự hiểu biết của tôi, thì trong lòng Giáo Hội Việt Nam mới chỉ có các Hội Ðoàn Tồng Ðồ hay Các Ðoàn Thể Công Giáo Tiến Hành, các Nhóm Chia Sẻ Lời Chúa, các Nhóm Cầu Nguyện, các Nhóm Công Tác Xã Hội, Bác Ái… chứ chưa có các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản đúng nghĩa.

Có thể nhìn thấy các nguyên nhân sau đây của sự kiện trên:

(1) Giáo Hội Công Giáo Việt Nam không có liên lạc với các Giáo Hội thuộc khu vực Ðông Nam Á trong một thời gian dài (từ năm 1975 đến những năm gần đây), nên không có thông tin cập nhật về những điều mới mẻ xuất hiện trong lòng các Giáo Hội ấy trước và sau Công Ðồng Vatican II, trong đó nổi bật nhất là các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản.

(2) Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, do truyền thống, có xu hướng bảo thủ, nên chẳng những ít quan tâm đến các phong trào canh tân đổi mới, mà còn tỏ ra dè dặt thậm chí e ngại đối với những cái mới, trong đó có các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản.

(3) Trong Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, thường thì việc gì cũng xuất phát từ hàng giáo sĩ trong khi ở các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản thì phần chủ động lại là của chính anh chị em giáo dân.

(4) Trong Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, hễ một nhóm giáo dân nào chia sẻ, học hỏi Lời Chúa hay cầu nguyện dựa vào Thánh Kinh, mà không do các linh mục tổ chức, giảng dậy, điều hành thì thường bị nghi ngờ và rất dễ bị gán cho hai chữ Tin Lành, làm như Thánh Kinh không phải của Công Giáo hoặc chỉ dành riêng cho các linh mục tu sĩ mà th ôi!

Vì bốn lý do trên, nên chưa có Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản (đứng nghĩa) trong lòng Giáo Hội Việt Nam.

THAY LỜI KẾT

Lệnh truyền của Chúa Giêsu trước khi Người lên trời là làm cho mọi người trở thành môn đệ và sống giáo huấn của Phúc Âm (5) vẫn không có gì thay đổi. V ì  Chúa Thánh Thần không ngừng hoạt động trong tâm hồn người tín hữu và trong lòng Giáo Hội nên mỗi thời có những sáng kiến, hoạt động và đường lối truyền giáo mới thích hợp và hiệu quả hơn.

Vì thế mà Giáo Hội Việt Nam, nếu muốn đẩy mạnh việc Truyền Giáo hơn nữa, thì cần phải tìm tòi học hỏi với (Giáo Hội) chị, với (Giáo Hội) em cũng như biết lắng nghe Chúa Thánh Thần. Cụ thể và cấp bách là chúng ta cần có các linh mục, tu sĩ và giáo d ân dấn thân vào việc phổ biến, truyền bá về Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản và đứng ra thành lập các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản ấy trong các Giáo Xứ.

           Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

           New Orleans (LA/USA) ngày 02.10.2006.

…………………….

Chú thích

(1) Sergio Torres and John Eagleson (Eds), The Challenge of Basic Christian Communities: papers from the International Ecumenical Congress of Theology (1980: Sao Paulo, Brazil), Maryknoll: Orbis Books 1981; Andrew Dawson, Susan Peterson, The Birth and Impact of the Base Ecclesial Community, International Scholars Publications, 1998.

(2) Tại Châu Á, xin đọc Cora Mateo và Giám mục Orlando Quevedo, FABC Papers số 921, tháng 1.2000.

(3) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Tông huấn Giáo Hội tại Châu Á, số 9.

(4) Như trên, số 25.

(5) “Đức Giêsu đến gần, nói với các ông: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”  Mt 28, 18-20).

BÀI 11:  THAM GIA CÁC PHONG TRÀO VÀ HIỆP HỘI CANH TÂN ÐỂ TRUYỀN GIÁO 

VÀO ĐỀ

          Trong Tông Huấn “Giáo Hội tại Châu Á” Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và các Nghị Phụ đã công khai và long trọng nhìn nhận những hoạt động của Chúa Thánh Thần trong lòng Giáo Hội Á châu ngày nay, trong đó nổi bật nhất là sự xuất hiện của các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản và các Phong Trào & Hiệp Hội Canh Tân.

           Trong bài 10 chúng ta đã tìm hiểu về các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản. Trong bài 11 này chúng ta sẽ đề cập đến các Phong Trào và Hiệp Hội Canh Tân để hiểu biết và tích cực tham gia các Phong Trào và Hiệp Hội Canh Tân ấy vì đó là một trong những Ðưòng Lối Truyền Giáo thích hợp và cần thiết của Giáo Hội Công Giáo ngày nay.

TRÌNH BÀY

I. QUAN ÐIỂM CỦA GIÁO HỘI VỀ CÁC PHONG TRÀO VÀ HIỆP HỘI CANH TÂN.

Muốn biết rõ quan điểm của Giáo Hội về các Phong Trào và Hiệp Hội Canh Tân, chúng ta nên đọc lại diễn từ của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II gửi Ðại Hội Phong Trào Canh Tân Ðặc Sủng thế giới (1992) và nhận định của Ngài trong Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á (1999):

1.1 Trích diễn từ của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gởi Đại Hội Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng Thế Giới:

“Trong niềm vui và bình an của Chúa Thánh Thần, tôi xin chào mừng Đại Hội Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng Thế Giới.  Trong khi anh chị em chuẩn bị mừng 25 năm ngày khởi xướng Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng Công Giáo, tôi ước ao được liên kết cùng với anh chị em dâng lên Thiên Chúa lời chúc tụng và cảm tạ về những hoa quả đang nảy nở tràn đầy trong Giáo Hội.  Sự bộc phát của Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng sau Công Đồng Vatican II là món quà đặc biệt mà Chúa Thánh Thần ban cho Giáo Hội.  Đây là dấu chỉ thiết tha được sống trọn vẹn với phẩm giá của Phép Rửa và Ơn Gọi, là những người con thừa tự của Chúa Cha để nhận biết quyền năng ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, trong kinh nghiệm cá nhân hay nhóm cầu nguyện một cách mạnh mẽ, và đi theo giáo huấn mà Kinh Thánh đã chỉ dạy cho chúng ta trong ánh sáng của cùng một Thánh Thần, Đấng linh ứng cho Lời Kinh Thánh được viết ra.  Chắc chắn một trong những kết quả quan trọng nhất của sự thức tỉnh tâm linh là làm tăng lòng khao khát được trở nên thánh thiện thấy được nơi đời sống của mỗi người và trong toàn thể Giáo Hội.

 “Chúng ta phải tin rằng một sự thức tỉnh sâu đậm về Chúa Giêsu Kitô và công việc của Chúa Thánh Thần đáp ứng những nhu cầu cần thiết trong thời đại của chúng ta hôm nay, vì Thần Khí “là tâm điểm của đức tin người Kitô hữu và cũng là cội nguồn quyền năng mạnh mẽ của cuộc Canh Tân Hội Thánh”. Thật vậy, Chúa Thánh Thần chính là “nhân tố trọng yếu của sứ mệnh Giáo Hội”, để bảo tồn và dẫn dắt những nỗ lực mang những ân huệ của Lễ Hiện Xuống đến với mọi người.

“Vì những ân huệ mà Chúa Thánh Thần ban cho để giúp xây dựng Giáo Hội, mà anh chị em chính là những người lãnh đạo Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng, được thách đố để tìm những đường lối hữu hiệu cho những nhóm khác nhau mà anh chị em đại diện có thể biểu lộ được sự hiệp thông trọn vẹn cả tâm trí lẫn trái tim với Tòa Thánh và hội đồng Giám Mục. Anh chị em phải hợp tác tích cực hơn một cách tràn đầy hoa quả trong sứ mạng của Giáo hội trên khắp thế giới…. “hầu cho toàn thân được nuôi dưỡng, được kết cấu chặt chẽ nhờ mọi thứ gân mạch và dây chằng, và được lớn lên nhờ sức Thiên Chúa ban” (Cl 2,19).

 “Ngay thời điểm hiện tại của lịch sử Giáo Hội, Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng đóng góp một vai trò trọng đại trong việc cổ võ sự bảo vệ rất cần thiết của đời sống người Kitô giáo trong xã hội ngày nay, khi mà chủ nghĩa xác thịt thế gian và hưởng thụ vật chất đã làm suy yếu khả năng đáp trả sự linh ứng của Thánh Thần và khả năng biện phân ơn gọi tình yêu của Thiên Chúa.  Sự đóng góp của anh chị em trong việc tái truyền bá phúc âm, rao giảng Lời Chúa vào trong xã hội ngày nay là việc cần đặt lên hàng đầu bởi lời chứng cá nhân cho việc ngự trị của Thánh Thần đang ở trong mình bằng cách tỏ ra tho thấy sự hiện diện của Thánh Thần qua những việc làm thánh thiện và hiệp nhất. 

“Chứng từ của đời sống một người Kitô hữu là hàng đầu và không sứ mạng nào khác có thể thay thế được”. Còn điều gì có ý nghĩa và hữu hiệu hơn là sự lôi cuốn những người đã mất những đường hướng tâm linh được dẫn đến chân lý mà duy nhất điều này mới có thể làm ổn định sự sự không an nghỉ của trái tim con người qua chứng nhân sống của những Kitô hữu đầy sốt mến.  Làm chứng nhân cho Chúa là làm men dậy bột đầy quyền năng giữa những người có lẽ chưa thật sự ý thức được giá trị đích thật về ơn cứu độ mà Chúa Giêsu là Người duy nhất có thể ban cho ơn cứu độ.

“Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng cũng góp phần trong việc nuôi dưỡng sự tăng trưởng của đời sống tâm linh vững mạnh trên quyền năng của Chúa Thánh Thần hoạt động trong Giáo Hội, trong sự phong phú của truyền thống Giáo Hội, và đặc biệt thể hiện qua những Bí tích.  Thường xuyên rước Thánh Thể và siêng năng lãnh nhận Bí Tích Hòa Giải là điều cần thiết cho đời sống đích thực trong Chúa Thánh Thần, đây là những phương tiện mà chính Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta để khôi phục và gìn giữ những ân huệ của Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần luôn hướng dẫn chúng ta đến với Chúa Giêsu và Giáo Hội của Ngài, chính Thánh Thần sẽ dìu dắt cho những ai được Ngài chọn như các Giám Mục để chăm sóc cho Giáo Hội của Chúa (Cv 20,28).

‘Sẽ chẳng có xung đột xảy ra trong việc trung thành với Chúa Thánh Thần và việc trung thành với Giáo Hội và giáo huấn của Giáo Hội.  Cho dù Canh Tân Đặc Sủng thể hiện qua bất cứ hình thể nào – như những nhóm cầu nguyện, những cộng đồng giao ước, những cộng đồng đời sống và phục vụ –  là những dấu chỉ cho thấy sự sinh hoa trái sẽ luôn được tăng trưởng vững mạnh trong sự hiệp thông với Giáo Hội toàn cầu và Giáo Hội địa phương. Vai trò của anh chị em là sắp xếp, tổ chức để giúp Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng với nhiều khía cạnh khác nhau, được phối hợp trong sự hợp nhất với các linh mục chánh xứ vì mục đích chung, để sự liên kết được chặt chẽ và toàn vẹn cùng một chi thể. 

“ Đồng thời, sự thấm nhuần căn tính Công Giáo của anh chị em nhờ rút ra từ kho tàng của truyền thống Công Giáo là một phần đóng góp không thể thay thế được cho sự đối thoại đại kết được nuôi dưỡng bởi Chúa Thánh Thần, phải dẫn đến sự  trọn vẹn của tình huynh đệ hiệp nhất: trong việc tuyên xưng đức tin, trong việc cử hành thờ phượng Thiên Chúa, và trong sự hòa hợp huynh đệ của gia đình Thiên Chúa.” (1)

1.2 Trích Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á:

 “Thượng Hội Ðồng (Giám Mục Á Châu) cũng nhìn nhận vai trò các phong trào canh tân trong việc xây dựng sự hiệp thông, tạo các cơ hội cho người ta kinh nghiệm Thiên Chúa một cách thâm sâu hơn qua đức tin và các bí tích, và cổ võ việc hoán cải đời sống. Những ai tham gia các Hiệp Hội và các Phong Trào ấy hãy góp tay xây dựng Giáo Hội địa phương, không coi mình như những tổ chức thay thế các cơ chế giáo phận và sinh hoạt giáo xứ. Sự hiệp thông trong Giáo Hội sẽ trở nên vững chắc hơn, khi các người lãnh đạo các phong trào ấy tại địa phương cùng làm việc chung với các vị chủ chăn trong tinh thần bác ái, vì lợi ích của mọi người (1 Cr 1,13)” (2).

II. GIÁO HỘI VIỆT NAM VỚI CÁC CÁC PHONG TRÀO VÀ HIỆP HỘI CANH TÂN.

Những nguyên nhân khiến các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản (đúng nghĩa) chưa hình thành trong lòng Giáo Hội Việt Nam cũng là những nguyên nhân chính khiến các Phong Trào và Hiệp Hội Canh Tân khó phát triển trong lòng Giáo Hội Việt Nam.

Thật vậy:

(1) Giáo Hội Công Giáo Việt Nam không có hoặc có rất ít liên lạc với các Giáo Hội trên toàn thế giới nói chung và thuộc vùng Ðông Nam Á nói riêng trong một thời gian dài (từ năm 1975), nên không có thông tin cập nhật về những điều mới mẻ xuất hiện trong lòng các Giáo Hội ấy trước và sau Công Ðồng Vatican II, trong đó nổi bật nhất là các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản và các Phong Trào và Hiệp Hội Canh Tân.

(2) Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, do truyền thống, có xu hướng bảo thủ, trọng luật và bảo vệ cơ cấu nên chẳng những ít quan tâm, mà còn tỏ ra dè dặt, thậm chí e ngại, đối với các Phong Trào Canh Tân Ðổi Mới là những Ơn đặc sủng xuất phát từ Chúa Thánh Thần để làm cho các cơ cấu trong / của Giáo Hội sinh động và tươi trẻ (3).

(3) Trong Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, thường thì việc gì cũng xuất phát từ hàng giáo sĩ trong khi anh chị em giáo dân giữ phần chủ động rất lớn trong các Phong Trào và Hiệp Hội Canh Tân dưới sự linh hướng của hàng giáo sĩ. Ở Việt Nam hiện nay chỉ có vài ba linh mục dấn thân vào việc gây dựng Phong Trào Cầu Nguyện Thánh Linh trong khi hầu hết các giám mục, linh mục lại “dị ứng” với Phong Trào này.

(4) Trong Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, hễ một nhóm giáo dân nào sinh hoạt với danh xưng Nhóm Cầu Nguyện Thánh Linh hay Cầu Nguyện Chữa Lành thì thường bị nghi ngờ và rất dễ bị gán cho hai chữ rối đạo, làm như trong Công Giáo Chúa Thánh Thần không có vai trò gì và việc chữa lành chỉ có trong thời Chúa Giêsu còn tại thế và thời Giáo Hội sơ khai mà thôi (4).

Ngoài bốn lý do trên khiến các Phong Trào và Hiệp Hội Canh Tân khó phát triển trong lòng Giáo Hội Việt Nam, còn có một lý do khác do chính những người tham gia các Nhóm Cầu Nguyện Thánh Linh tạo ra.

Ðó là có một số giáo dân gia nhập Phong Trào hay Nhóm Thánh Linh chưa nắm rõ tinh thần, nội dung và phương pháp của Phong Trào hay Nhóm Canh Tân (cũng có nghĩa là chưa được huấn luyện đầy đủ) đã tự tung tự tác đứng ra tổ chức, điều hành các Nhóm và giảng dậy một cách tùy tiện không đúng Giáo Lý của Hội Thánh, khiến cho các vị lãnh đạo trong Giáo Hội phải e dè và nhiều giáo dân hoang mang, thắc mắc.

THAY LỜI KẾT

Không phải vì có nhiều tai nạn giao thông trên đường / phố mà các bậc cha mẹ cấm không cho con cái lái xe ra đường. Cũng thế không thể vì có những sai trật của một số tín hữu mà Giáo Hội Việt Nam thờ ơ, nghi ngại và ngăn cấm các Phong Trào Canh Tân trong đó chủ yếu là các Nhóm Cầu Nguyện Thánh Linh và Cầu Nguyện Chữa Lành.

Trái lại Giáo Hội Việt Nam, nếu muốn đẩy mạnh việc Truyền Giáo hơn nữa, thì cần phải tạo điều kiện cho Chúa Thánh Thần hoạt động để Người ban cho các tâm hồn và Giáo Hội của Chúa Kitô tại Việt Nam một Sức Sống Mới.

Trong tháng 6.2006 vừa qua trên mạng lưới Zenit Agency của Vatican có đăng một loại bài giới thiệu các Phong Trào và Hiệp Hội Canh Tân (5). Nhưng có lẽ việc giới thiệu ấy chẳng được mấy ai trong Giáo Hội Việt Nam quan tâm.

Vậy thì việc làm đầu tiên của chúng ta là tìm hiểu về các Phong Trào và Hiệp Hội Canh Tân ấy. Phải chăng đây là công việc của các Uỷ Ban Giám Mục về Truyền Thông? về Truyền Giáo? và về Giáo Dân?

           Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

           New Orleans (LA/USA) ngày 05.10.2006.

…………………….

Chú thích

(1) Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Diễn từ gửi Ðại Hội Phong Trào Canh Tân Ðặc Sủng Thế Giới,  ngày 14 tháng 3 năm 1992.

(2) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Tông huấn Giáo Hội tại Châu Á, số 25.

(3) Leonardo Boff đã có một cuốn sách nổi tiếng một thời:  GIÁO HỘI: CƠ CHẾ VÀ ÐẶC SỦNG. Thật ra thì cơ chế và đặc sủng là hai đặc điểm của Giáo Hội. Nhưng trong thực tế một Giáo Hội quá nặng về cơ chế – như Giáo Hội Việt Nam – thì đặc sủng sẽ không có đất sống.

(4) Xin mời đọc cuốn sách CHÚA GIÊSU ÐANG SỐNG của linh mục Emiliano Cardif. Bạn đọc có thể tìm thấy cuốn sách này trên mạng thanhlinh.net.

(5) Xin lỗi được nêu tên các Phong Trào và Hiệp Hội ấy bằng tiếng Anh theo bản tin Zenit bằng Anh ngữ: Beatitudes Community, Pope John XXIII Community, Missionary Contemplative Movement P.de Foucauld, Mission Community of Villaregia, Militia of the Immaculata, Militia Christi, Living in Spi-rituality Movement, Memores Domini  Lay Association, Marianist Lay Commu-nities, Prayer and Life worshops, Light-Life Movement, Life Ascending Inter-national, Movement of Catholic Students vân vân….

BÀI 12:  THÀNH LẬP CÁC CỘNG ÐOÀN KITÔ GIÁO  ÐỂ TRUYỀN GIÁO

VÀO ĐỀ

Xây dựng các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản hay tham gia các Phong Trào và Hiệp Hội Canh Tân là giả thiết đã có sẵn một Cộng Ðoàn Kitô Giáo, cụ thể là Giáo Xứ, ở địa phương. Vậy trước khi có Giáo Xứ hay muốn có Giáo Xứ thì công việc của Giáo Hội và của chúng ta là gì? Thưa là thành lập các Cộng Ðoàn Kitô Giáo. Ðó là việc đầu tiên phải làm nếu muốn Truyền Giáo.

Trong bài 6 tôi đã nêu ÐIỂM TRUYỀN GIÁO như một trong các Phương Tiện cần thiết cho việc Truyền Giáo tại Việt Nam hiện nay. Theo tiến trình tự nhiên thì Ðiểm Truyền Giáo sớm muộn gì cũng sẽ trở thành Cộng Ðoàn Kitô Giáo. Vì thế trong bài 12 này chúng ta sẽ xem xét việc thành lập các Cộng Ðoàn Kitô Giáo như một trong các Ðường Lối Truyền Giáo chính thống mà Công Ðồng Vatican II đã xác định rõ ràng.

TRÌNH BÀY

I. GIÁO HUẤN CỦA CÔNG ÐỒNG VATICAN II VỀ VIỆC THÀNH LẬP CÁC CỘNG ÐOÀN KITÔ GIÁO.

          “Chúa Thánh Thần là Ðấng kêu gọi mọi người đến với Chúa Kitô và thúc  đẩy tâm hồn họ vâng phục đức tin nhờ hạt giống Lời Chúa và việc rao giảng Phúc âm. Chính khi Ngài sinh những kẻ tin Chúa Kitô trong lòng Giếng Rửa Tội để sống đời sống mới, Ngài tập hợp họ thành một Dân Chúa duy nhất. Dân này là “dòng giống được tuyển chọn, hàng tư tế vương giả, dân tộc thánh thiện, dân được Thiên Chúa thu phục” (1).

“Vậy các nhà Truyền Giáo như những cộng tác viên của Thiên Chúa (2), phải gây dựng những cộng đoàn tín hữu sao cho họ biết sống xứng đáng ơn gọi của mình (3), để họ có thể thi hành những chúc vụ đã được Chúa trao phó cho họ: đó là chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả. Nhờ cách đó, Cộng Ðoàn Kitô hữu trở thành dấu chỉ nói lên sự hiện diện của Thiên Chúa nơi trần gian: thật vậy, nhờ Hiến Tế Thánh Thể, họ luôn được cùng Chúa Kitô vươn đến Chúa Cha (4), và khi đã được nuôi dưỡng cẩn thận bằng Lời Chúa (5), họ làm chứng về Chúa Kitô (6), và sau cùng dấn bước vào tình bác ái và được hun đúc trong tinh thần tông đồ” (…..).

          “Ngoài ra, để gieo trồng Giáo Hội và phát triển Cộng Ðoàn Kitô Giáo, cần  phải có nhiều thừa tác vụ khác nhau; những thừa tác vụ này một khi được ơn Chúa gọi khiến nẩy sinh từ chính Cộng Ðoàn tín hữu, phải được mọi người đặc biệt chăm lo cổ võ và vun trồng. Trong những thừa tác vụ đó, có chức vụ linh mục, phó tế và giảng viên giáo lý cũng như Công Giáo Tiến Hành” (7).

II. NHU CẦU & KHẢ NĂNG THÀNH LẬP CÁC CỘNG ÐOÀN KITÔ GIÁO TRONG LÒNG GIÁO HỘI VIỆT NAM  HIỆN NAY

2.1 Nhu cầu bao la và khả năng vô cùng lớn:

Nếu xét về tỷ lệ người Công Giáo trên tổng số người Việt Nam, thì cánh đồng Truyền Giáo của Giáo Hội Việt Nam còn bao la bát ngát, vì người Công Giáo mới chỉ chiếm một tỷ lệ rất khiêm tốn, khoảng 6-7% dân số.

 Nếu xét về các lãnh vực trần thế mà người Kitô hữu Việt Nam phải hiện diện như muối, như men thì công cuộc Phúc Âm hóa các môi trường lao động, kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, giáo dục còn bề bộn trăm bề.

Nếu xét về các điều kiện khách quan và chủ quan thì, dù còn nhiều khó khăn cản trở từ phía Nhà Nước, -từ chủ trương, chính sách đến biện pháp-, Giáo Hội Việt Nam vẫn còn rất nhiều khả năng để rao giảng Phúc Âm và thành lập các Cộng Ðoàn Kitô ở khắp các vùng, từ thành thị đến nông thôn, thậm chí cả ở vùng cao, vùng xa.

        Chỉ cần các Ủy Ban của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam và của các giáo phận như Ủy Ban Truyền Giáo, Truyền Thông, Văn Hóa, Giáo Dân, Gia Ðình, Giới Trẻ, Bác Ái Xã Hội ….. tập trung hoạt động của mình vào việc thành lập và xây dựng các Cộng Ðoàn Kitô Giáo ở khắp các giáo phận. Có nghĩa là Giáo Hội Việt Nam tập trung và huy động nhân sự và của cải vật chất vào công việc này thì chắc chắn sẽ gặt hái được nhiều kết quả tốt đẹp.

Cần lưu ý về sự  kiện này là trong 10-15 năm qua Giáo Hội Việt Nam đã bỏ ra rất nhiều tiền bạc để xây dựng và tu sửa các thánh đường và cơ sở vật chất. Giả như Giáo Hội Việt Nam chỉ  dành một phần trăm khoản tiền ấy cho công việc xây dựng con người, đào tạo cán bộ giáo dân thì sự phát triển sẽ hài hòa, cân bằng hơn. Và giả như trong nội bộ Giáo Hội Việt Nam có sự chia sẻ nhiều hơn nữa giữa các giáo xứ giầu và các giáo xứ nghèo, giữa các giáo xứ thành thị và các giáo xứ nông thôn hay vùng sâu vùng xa, thì chứng tá hiệp thông liên đới của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam càng nổi bật hơn nữa. Nhưng dường như còn thiếu một nhận thức, một nhậy cảm và sự điều phối chung trong lãnh vực này. Tiếc thay! (8).

2.2 Trọng tâm phải quan tâm khi thành lập Cộng Ðoàn Kitô Giáo:

Trước và trong khi thành lập một Cộng Ðoàn Kitô Giáo tại một địa phương nào đó, những người có trách nhiệm cần quan tâm đến những trọng tâm mà các Nghị  Phụ Công Ðồng Vatican II đã nêu lên ở trên. Cụ thể là:

 (1) Ðào tạo các Kitô hữu trong Cộng Ðoàn Kitô Giáo mới thành lập, cho họ có khả năng thi hành các chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả mà Chúa Kitô đã ban cho mọi Kitô hữu khi họ lãnh nhận Bí Tích Phép Rửa.

(2) Vun trồng và phát triển các thừa tác vụ khác nhau trong Cộng Ðoàn, không chỉ cổ võ ơn gọi linh mục, tu sĩ mà cả các ơn gọi khác như phó tế (9), giáo lý viên và tông đồ giáo dân nữa.

Thật ra hai công việc trên là nhiệm vụ không chỉ của các Cộng Ðoàn Kitô Giáo mới được thành lập mà là của tất cả các Cộng Ðoàn Kitô Giáo trên khắp nước Việt Nam, trên toàn thế giới. 

Ðó đây nhiều giáo xứ, giáo phận rầm rộ tổ chức ăn mừng ngày giáo xứ, giáo phận được 30, 50, 75, 100 năm. Trong những dịp lễ lạc vui mừng ấy, Ban Tổ  Chức không để thiếu thứ gì, có lẽ trừ một thứ: Mợi người cùng kiểm điểm xem Cộng Ðoàn Giáo Xứ, Giáo Phận mình đã chu toàn hai nhiệm vụ quan trọng trên như thế nào?

THAY LỜI KẾT

Xin phép nêu lên một đề nghị:   

Dù gặp nhiều khó khăn và trở ngại từ trong ra ngoài, các giáo phận vẫn nên mạnh dạn thành lập thêm nhiều Cộng Ðoàn Kitô Giáo mới, tại những vùng có những điều kiện tương đối.

Riêng đối với một số giáo phận như Sàigòn, Hà Nội, Xuân Lộc, Bà Rịa v.v… nên nghiên cứu việc cắt các Giáo Xứ lớn thành nhiều Giáo Xứ nhỏ. Làm như vậy sẽ giảm bớt sự chênh lệch về tài chánh và nhân sự giữa các giáo xứ và sẽ tạo cơ hội cho nhiều giáo dân tham gia vào việc xây dựng và phát triển Cộng Ðoàn Giáo Hội tức thi hành các chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của người môn đệ Chúa Kitô Giêsu.                  

           Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

 New Orleans (LA/USA) ngày 07.10.2006

           Lễ  Ðức Mẹ Mân Côi.

…………………….

Chú thích

(1) 1 Pr 2.9; Công Ðồng Vatican II, Sắc Lệnh về Hoạt Ðộng Truyền Giáo của Giáo Hội, số 15; Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, số 9.

(2)  1 Cr 3,9.

(3)  Ep 4,1.

(4) Công Ðồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, số 10,11.34.

(5) Công Ðồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải của Thiên Chúa, số 21.

(6) Công Ðồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, số 12, 35.

(7) Công Ðồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, số 23, 36; Sắc Lệnh về Hoạt Ðộng Truyền Giáo của Giáo Hội, số 15;

(8) Nhiều Cộng Ðoàn Kitô Giáo ở nông thôn hay vùng núi chỉ cần một khoản tiền nhỏ là có được một ngôi nhà nguyện hay mấy lớp giáo lý cho con em mà không được ai giúp, trong khi có nhiều nhà thờ còn tốt, còn đẹp ở thành phố hay các vùng trù phú bị phá đi để xây một cái mới.

(9) Tuy không xác định rõ là phó tế vĩnh viễn hay tạm thời, nhưng trong mạch văn chúng ta có thể hiểu là phó tế vĩnh viễn. Trong Giáo Hội Việt Nam chưa có loại phó tế này. Có lẽ vì ơn gọi linh mục, tu sĩ còn nhiều nên các Giám Mục Việt Nam không thấy cần phải phục hồi một thừa tác vụ có từ thời các Tông đồ mà Công Ðồng Vatican II đã khuyến khích các Giáo Hội địa phương tái lập, trong Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội “Ánh Sáng Muôn Dân”, số 29.

BÀI 13:  SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI ÐỂ TRUYỀN GIÁO

(CHÚC MỪNG CUỘC HỌP MẶT HỢP NHẤT TRUYỀN THÔNG CÔNG GIÁO VIỆT NAM TẠI NAM CALIFORNIA NGÀY 26- 27.10.2006). 

VÀO ĐỀ

Xin chia sẻ bản tin của Vatican về việc Tòa Thánh kêu gọi cổ võ sự hiện diện vui tươi sáng tạo và chuyên nghiệp của Truyền Thông Công Giáo:            

“Trong bài diễn thuyết cho các tham dự viên Hội Nghị Thế giới Truyền Hình Công Giáo, Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh Tarcisio Bertone nói Đức Thánh Cha Bênêđictô gửi thông điệp khuyến khích và hy vọng và nhận định rằng sức mạnh của ngành Truyền Hình và những cách thế mà Giáo Hội có thể sử dụng như là phương tiện hoàn thiện sứ mạng truyền giáo của mình.

Hội Nghị Quốc Tế được Hội Đồng Giáo Hoàng về Truyền Thông Xã Hội tổ chức, đứng đầu là Đức Tổng Giám Mục John Foley, nhận chức từ năm 1984. Hội Nghị Quốc Tế Truyền Thông khai mạc ngày hôm nay (10.10.2006) tại thủ đô Madrid, Tây Ban Nha và  sẽ kết thúc vào ngày thứ năm này.

Đức Hồng Y Bertone nói: “Giáo Hội không còn đặt vấn đề là có nên sử dụng Phương Tiện Truyền Thông hay không mà là Giáo Hội phải sử dụng chúng thế nào để hoàn thành tốt hơn và trung thành thi hành mệnh lệnh truyền giáo của chính Chúa Giêsu và làm thế nào có thể đáp ứng một cách thích hợp cho nhu cầu của thời đại chúng ta”.

Đức Hồng Y Bertone nhấn mạnh thêm rằng: “Cần phải có sự hiệp nhất lớn lao giữa Tòa Thánh và các Hội Đồng Giám Mục địa phương hầu khích lệ và ủng hộ những tổ chức hay công ty Truyền Hình khác nhau, và giúp cho những tổ chức khác sẽ tham gia vào truyền hình, để họ trung thành với danh tính Công giáo đang khi vẫn giữ được sắc thái, sự nhậy cảm và đặc tính văn hóa khác nhau của họ”.

“Giáo Hội có trách nhiệm hơn bao giờ hết dấn thân và trợ giúp và nhất là có sự hiện diện hài hòa và rộng rãi vào các phương tiện truyền thông xã hội khác nhau. Điều này có nghĩa là Giáo Hội cung ứng và đề nghị những mô thức văn hóa và nếp sống cho phù hợp với tôn chỉ của Giáo Hội hầu giúp hình thành những quyết định trong những môi trường khác nhau”.

“Trong ý hướng này, những Phương Tiện Truyền Thông Mới cung ứng một khung hình rất thuận lợi cho việc tham dự tích cực hơn vào đời sống công cộng, cùng với truyền thông xã hội, Giáo Hội cổ võ để những thành phần ít được may mắn hay yếu thế có thể dự phần và chia sẻ những kinh nghiệm đặc thù, vì thế sự thông hiệp với họ chính là trái tim cốt lõi của Giáo Hội vậy”.

Đức Hồng Y Bertone kết luận rằng: “Đừng nên sợ dấn thân vào k ỹ thuật mới, hãy tham phần vào với niềm hy vọng và tin tưởng, cần phải cổ võ sự hiện diện vui tươi, sáng tạo và chuyên nghiệm vào truyền hình. Chúng ta phải là những người thợ đồng hành của sự thật hầu có thể cung cấp Tin Mừng của Chúa trong những hình thái nhiều mặt của truyền thông: nghe, nhìn, đang khi làm chứng cho vẻ đẹp của tạo dựng” (1).

Vậy để tiếp nối các đề tài về Ðường Lối Truyền Giáo tại Việt Nam, trong bài 13 này chúng ta sẽ nói về các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội.

TRÌNH BÀY

I. GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI VỀ CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI.

Có thể nói từ khoảng 40-50 năm nay Giáo Huấn của Giáo Hội Công giáo về  các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội là cả một kho tàng rất phong phú. Công Ðồng Vatican II đã có riêng một trong 16 Văn Kiện là Sắc Lệnh về các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội (2). Trong các triều đại Giáo Hoàng hậu Công Ðồng, nhất là của Ðức Gioan Phaolô II,  tầm quan trọng của các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội cũng được nhắc đi nhắc lại nhiều lần.

            Sau đây tôi chỉ nêu hai trích dẫn quan trọng, một của Công Đồng Vatican II, một của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II:

1.1 Của Công Ðồng Vatican II:

“Trong những phát minh kỳ diệu về kỹ thuật, mà tài năng con người, nhờ Thiên Chúa trợ giúp, đã từng khai thác từ tạo vật, thì Giáo Hội là mẹ, đặc biệt ân cần tiếp đón và theo dõi từ những phát minh liên quan đặc biệt tới tinh thần con người, đến những phát minh tạo thêm những phương thế mới để truyền thông một cách hết sức dễ dàng đủ các loại tin tức, tư tưởng và mệnh lệnh. Tuy nhiên giữa các phát minh này, trổi vượt hơn cả là những phương tiện tự bản tính không những có thể liên hệ và ảnh hưởng đến từng người, mà còn đến chính đại chúng và toàn thể xã hội nhân loại như báo chí, điện ảnh, phát thanh, vô tuyến truyền hình và những thứ khác tương tự. Do đó những phương tiện này đáng được gọi là những phương tiện truyền thông xã hội. (3).

1.2 Của ÐứcThánh Cha Gioan Phaolô II:

Xin trích dẫn hai đoạn văn:

(1) “Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, «các phương tiện truyền thông xã hội trở nên quan trọng tới mức mà nhiều người cho đó là phương tiện chính yếu để thông tin và giáo dục, hướng dẫn và gợi hứng cách sống của cá nhân, gia đình và xã hội nói chung. Cách riêng, thế hệ trẻ đang lớn lên trong một thế giới bị tùy thuộc vào các phương tiện thông tin đại chúng». Thế giới hiện nay chứng kiến một nền văn hóa mới đang hiện lên rõ nét, nét văn hóa mới này không chỉ bắt nguồn từ nội dung mà văn hóa sẽ có thể diễn tả, nhưng cũng bắt nguồn từ những cách thông tin mới, những ngôn ngữ mới, những kỹ thuật mới và một tâm lý mới». Các phương tiện truyền thông xã hội đóng một vai trò rất đặc biệt trong việc hình thành khuôn mặt thế giới, hình thành các nền văn hóa và cách suy tư; vai trò đó đã đưa tới những thay đổi nhanh chóng và rộng rãi trong các xã hội Á châu.

Sứ mạng phúc âm hóa của Giáo Hội cũng không khỏi chịu tác động sâu xa của các phương tiện truyền thông đại chúng. Vì các phương tiện ấy càng ngày càng có ảnh hưởng nhiều hơn, ngay tại những vùng xa xôi của Châu Á¨, nên chúng cũng có thể hỗ trợ rất nhiều cho công cuộc loan báo Tin Mừng, tới hết mọi miền của lục địa. Tuy nhiên, «sử dụng các phương tiện truyền thông để phổ biến sứ điệp Kitô Giáo và giáo huấn chân chính của Giáo Hội mà thôi thì chưa đủ. Nhưng còn cần phải đưa sứ điệp ấy vào trong nền «văn hóa mới» do các phương tiện thông tin hiện đại tạo ra». Muốn vậy, Giáo Hội cần khám phá những cách thế để tận dụng mọi phương tiện truyền thông đại chúng vào kế hoạch mục vụ và hoạt động mục vụ, nhờ biết sử dụng cách hữu hiệu mà sức mạnh của Tin Mừng có thể đến và tiếp xúc một cách rộng rãi với từng cá nhân cũng như với toàn cả các dân tộc, đưa các giá trị của Nước Trời thâm nhập vào các nền văn hóa của Châu Á¨ (4).

(2) “Hiện tượng truyền thông hiện nay thúc đẩy Giáo Hội phải xem xét lại về mục vụ và văn hóa để có thể thích ứng được với thời đại của chúng ta. Hơn ai hết, các mục tử phải gánh lấy trách nhiệm này. Mọi điều khả thi đều phải được đưa ra thực hiện để Tin Mừng có thể thấm nhập vào xã hội, kích thích con người lắng nghe và chấp nhận sứ điệp của Tin Mừng” (5).

II. THỰC TẾ NGHÈO NÀN VỀ CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY.

VietCatholic News ngày 23.08.2005 có bài “Vài nhận định về các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội tại Việt Nam hiện nay” của linh mục Nguyễn Ngọc Sơn, thư ký Văn Phòng thường trực Hội Ðồng Giám Mục, trong đó phần hai trình bày về các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội của Giáo Hội Việt Nam. Tôi sẽ điểm nhanh các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội của Giáo Hội Việt Nam hiện nay, một phần dựa vào hiểu biết cá nhân, một phần dựa vào bài viết nói trên của cha Nguyễn Ngọc Sơn (6).

2.1 Sách Công Giáo

Từ năm 1975 việc in sách đạo rất khó khăn và thậm chí trong thời gian vài chục năm đầu gần như là việc không thể. Cho đến ngày 29-4-1999, Nhà Nưóc mới lập ra Nhà Xuất Bản Tôn Giáo để in các sách kinh, tác phẩm, giáo trình giảng dạy, văn hóa phẩm thuần túy tôn giáo của các tôn giáo. Riêng năm 2004, Công giáo có 58 ấn phẩm so với 150 của Phật giáo, 2 của Cao Đài, 5 của Phật giáo Hoà Hảo và 1 của Hồi giáo.

Trong lĩnh vực sách Công giáo, những sách xuất bản chính thức chỉ là một phần rất nhỏ so với các sách in không chính thức. Nhiều tác giả hay tập thể chỉ muốn in với số lượng nhỏ, trong thời gian rất ngắn để đáp ứng nhu cầu của công việc hay của cộng đồng nên đã dùng cách photocopy, in bìa, đóng xén như một cuốn sách in và lưu hành nội bộ để tránh thời gian xét duyệt bản thảo, sửa chữa bản văn, nộp các phí xuất bản.

Trong tình trạng hiện nay hầu hết những sách Công giáo không thông qua sự kiểm duyệt của Giáo Hội về mặt giáo lý để có Nihil Obstat và Imprimatur, cũng là một vấn đề đặt ra cho các Tòa Giám Mục.

2.2 Báo Công Giáo

Cả nước hiện nay có gần 6 triệu người Công giáo nhưng số lượng phát hành của báo Công giáo có thể nói là rất ít so với báo chí nói chung. Miền Bắc có tuần báo Người Công giáo Việt Nam với số lượng in khoảng 2.500 bản. Miền Nam có tuần báo Công giáo và Dân tộc với số lượng phát hành từ 13.000-15.000 bản và Nguyệt san Công giáo và Dân tộc với số lượng phát hành 3.500 bản. Cả ba tờ báo này đều do Uỷ ban Đoàn Kết Công Giáo chịu trách nhiệm (7).

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam có một bản tin chính thức với giấy phép của Cục Báo Chí, tên là Bản Tin Hiệp Thông, phát hành hai tháng một kỳ với số lượng rất hạn chế (2000 bản). Bản tin này vừa mới được giao cho Ủy Ban Giám Mục về Văn Hóa chịu trách nhiệm và cũng vừa mới được đưa lên mạng dunglac.net.

Một số Tòa Giám Mục cũng phát hành nội bộ những bản tin vắn gồm thư mục vụ của Giám Mục giáo phận, một số tin tức quan trọng, những bài giảng Chúa nhật và những thông báo cần thiết và số lượng từ vài chục đến vài trăm bản mỗi tháng.

2.3 Nhà In Công Giáo

Trước năm 1975, ở Miền Nam có một vài cơ sở in lớn của Công Giáo nhưng thì bị Nhà Nước cấm hoạt động sau ngày 30.4.1975. Vì thế hiện nay, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam không còn cơ sở in nào cả.

Trong tình hình ấy một số người Công giáo liên kết với các công ty in để thực hiện các ấn phẩm Công giáo, một số khác mở các cơ sở đóng sách, photo-copy, in lụa.

2.4 Thư Viện Công Giáo

Ở Việt Nam hiện nay, Giáo Hội Công Giáo chưa có thư viện chính thức về thần học Công Giáo. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã có dự án xây dựng tại Sài-gòn một thư viện loại này với các sách chuyển từ Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X (Đà Lạt) xuống, khoảng 40.000 đầu sách và nhận thêm các sách báo khác sau năm 1975, cả loại sách điện tử. Nhưng dự  án này chưa được thực hiện.

Ngoài ra, một số dòng tu như dòng Đa Minh, Dòng Tên, Dòng Phanxicô, Dòng Don Bosco và các Đại Chủng viện đều có những thư viện với số sách khá lớn. Trong đó phải kể đến Dòng Đa Minh và Chủng viện Thánh Giuse Sàigòn với lượng sách tới 10.000-20.000 tựa.

2.5 Phim Ảnh Công Giáo

Ở Việt Nam hầu như chưa có phim ảnh chính thức của Giáo Hội Công giáo. Ngay trong phạm vi toàn cầu, cũng có rất ít sản phẩm loại này dù rằng việc thực hiện các cuốn phim bằng các phương tiện nghe nhìn hiện đại ngày nay dễ hơn xưa rất nhiều. Người ta vẫn thu hình những cuộc lễ lớn của giáo phận hay Giáo Hội như Đại Hội La Vang, tang lễ Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II và bán những băng đĩa này cho giáo dân một cách không chính thức.

Ngoài ra, một vài cá nhân cũng chuyển dịch hay lồng tiếng Việt các phim ảnh có giá trị như Cuộc đời Đức Giêsu, Mẹ Têrêsa Calcutta hoặc các phim Kinh Thánh có nội dung giáo lý. Các phim này được phổ biến nội bộ với số lượng phát hành không nhiều, vì việc sao chép, in lại một cách bất công vẫn còn xảy ra hoặc do không muốn mất thời gian chờ đợi để có giấy phép chính thức.

2.6 Truyền Thanh Công Giáo

Giáo Hội Việt Nam không có đài phát thanh riêng. Tuy nhiên, người Công giáo Việt Nam vẫn có thể theo dõi những thông tin qua các chương trình Việt ngữ của đài phát thanh Vatican và Đài Chân lý Á Châu (Veritas of Asia) phát đi từ Phi-lippines.

Ở một số xứ đạo có hệ thống phát thanh nội bộ, có thể lên chương trình tiếp sóng với đài Chân lý Á Châu cho thính giả trong xứ. Nhưng đây là việc làm tế nhị.

2.7Truyền Hình Công Giáo

Kể từ khi đài truyền hình Đắc Lộ, do các linh mục Dòng Tên tại Sàigòn  điều hành, ngưng hoạt động vào năm 1975, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam không còn những hoạt động chính thức trong lĩnh vực truyền hình. Tuy nhiên, người Công Giáo Việt Nam vẫn có thể tác động gián tiếp lên các chương trình truyền hình của Nhà Nước bằng cách nêu những ý kiến nhận xét về các chương trình ấy. Họ cũng có thể tác động tích cực hơn bằng cách cộng tác với các nhân viên của các đài truyền hình để xây dựng những chương trình có giá trị về mặt đạo đức, nghệ thuật, văn hoá.

2.8 Internet Công Giáo

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam chưa thực hiện được một website chính thức để giới thiệu những hoạt động của Giáo Hội cho tín hữu và cả những người ngoài Công Gáo như nhiều Hội Đồng Giám Mục trên thế giới cũng như trong khu vực đã làm. Trên mạng Internet hiện nay chúng ta thấy có một vài trang chủ của giáo phận, một số tổ chức dòng tu và cả cá nhân. Nhiều tín hữu Việt Nam hiện đang truy cập những mạng thông tin Công giáo ở nước ngoài.

Việc thiết lập và duy trì một website cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam do Hội Đồng Giám Mục Việt Nam chịu trách nhiệm là một nhu cầu cần thiết. Nhưng trong hoàn cảnh thiếu nhân sự hiện nay vẫn cần có một dòng tu hay một vài cá nhân chuyên nghiệp nhận lãnh trách nhiệm thực hiện.

III. MỘT VÀI ĐỀ NGHỊ VỀ NHỮNG VIỆC CẦN LÀM TRONG LÃNH VỰC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI  

Thực tế nghèo nàn về các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội của Giáo Hội  Công Giáo Việt Nam có nguyên nhân chính, một do bên ngoài áp đặt, một do bên trong là chính mình tạo nên. Vì thế tôi thấy có ba việc quan trọng sau đây, xin nêu lên để mọi người suy nghĩ và hành động cách thích hợp tùy theo khả năng và trách nhiệm của mình:

3.1 Đòi Nhà Nước: Trong bài 6 về các Phương Tiện cần thiết cho việc Truyền Giáo tại Việt Nam, tôi đã nêu ý kiến là Hội Đồng Giám Mục Việt Nam có quyền đòi Nhà Nước trả lại cho mình và cho các tôn giáo khác quyền sở hữu và điều hành các cơ sở y tế, giáo dục, xã hội và thông tin đại chúng.  Đây là vấn đề hết sức tế nhị, cần khôn ngoan, kiên trì và cả dũng cảm nữa của các vị lãnh đạo Giáo Hội Việt Nam.

3.2 Gây ý thức: Một việc làm quan trọng khác là gây ý thức cho người Công giáo về tầm quan trọng và tính hữu hiệu của các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội trong đời sống và công cuộc Truyền Giáo của Giáo Hội Việt Nam. Trong lãnh vực này có nhiều tài liệu cần được chuyển dịch sang tiếng Việt, và Giáo Hội nên tổ chức các đợt học hỏi, tọa đàm, hội thảo để tạo nên một nhận thức đúng đắn và thức thời. Hơn nữa, nếu Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã có Thư Mục Vụ về Sống Lời Chúa, thì cũng có thể có Thư Mục Vụ về các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội. Rất tiếc là trong Thư Mục Vụ mới nhất của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam  về “Sống Đạo Hôm Nay” không nhắc gì đến các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội (8).

3.3 Trọng dụng và chuẩn bị nhân sự chuyên môn: Giáo Hội Việt Nam có truyền thống bảo thủ và chậm tiến nên thường đi sau, về trễ trong hầu hết các lãnh vực. Vì thế trong lãnh vực Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội là một lãnh vực tương đối mới mẻ, Giáo Hội Việt Nam, cụ thể là Hàng Giáo Phẩm và Giáo Sĩ, cần phải nỗ lực thật nhiều trong việc TRỌNG DỤNG & CHUẨN BỊ NHÂN SỰ  CHUYÊN MÔN, tránh hai tình trạng:

* một là lãng phí “có người đó mà không xài”

* hai là chậm chân “nước đến chân mới nhẩy”

 (có lẽ phải nói là nước đến chân vẫn chưa chịu nhẩy mới đúng).

THAY LỜI KẾT

Chủ  đề của Hội Nghị về Truyền Giáo do Bộ Phúc Âm Hóa các Dân Tộc của Tòa Thánh Vatican và Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu tổ chức tại Chiêng Mai (Thái Lan) vào ngày 18-22.10.2006 là  “Kể  Chuyện Chúa Giêsu cho các dân tộc Á Châu.”  

Ngày nay mà kể chuyện về Chúa Giêsu cho người đương thời thì chắc chắn các nhà Truyền Giáo và mọi tín hữu Á Châu

không thể không dùng đến các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội là sách báo, phim ảnh, nghệ thuật, sân khấu, tuồng kịch, ca nhạc, kiến trúc, hội họa, truyền thanh, truyền hình, v.v…

           Giêrônimô Nguyễn Văn Nội
           Forth Worth (TX/USA) ngày 12.10.2006

…………………….

Chú thích

(1) Lm Trần Công Nghị (Vietcatholic News ngày 10.10.2006)

(2) Sắc lệnh về các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội được các Nghị Phụ bỏ phiếu và được Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI ban hành ngày 04 tháng 12 n ăm 1963.

(3) Công Ðồng Vatican II, Sắc lệnh về các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội, Lời mở đầu, số 1.

(4) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á, số 48.

(5) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Tông Thư gửi giới hữu trách Truyền Thông về “Sự Phát Triển Nhanh Chóng về Công Nghệ Truyền Thông”, số 8, ngày 24-1-2005 (xem Vietcatholic News ngày 24.02.2005).

(6) Xin mời đọc bài Vài nhận định về các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội tại Việt Nam hiện nay của linh mục Nguyễn Ngọc Sơn, thư ký Văn Phòng thường trực Hội Ðồng Giám Mục, đăng trên VietCatholic News ngày 23.08.2005.

(7) Ủy Ban Ðoàn Kết Công Giáo là một tổ chức có tính quần chúng, thuộc hệ thống mặt Trận Tổ Quốc của Nhà Nước Việt Nam.

(8) Thư Mục Vụ này được ký và phổ biến ngày 08 tháng 09 năm 2006 sau Hội Nghị  Thường Niên diễn ra tại Huế từ ngày 4 đến ngày 08.09.2006.

BÀI 14:  ĐỐI THOẠI VỚI MỌI NGƯỜI & MỌI DÂN TỘC ÐỂ TRUYỀN GIÁO

(HƯỚNG VỀ ĐẠI HỘI TRUYỀN GIÁO Á CHÂU TẠI CHIÊNG MAI, THÁI LAN, 18-22.10.2006)

VÀO ĐỀ

          Từ ngày 18 đến ngày 22.10.2006 tại Chiêng Mai (Thái Lan) sẽ diễn ra Đại Hội Truyền Giáo của các Giáo Hội Công Giáo Á Châu lần thứ I. Chủ đề được chọn cho Đại Hội Truyền Giáo lần I này là “KỂ VỀ CHÚA GIÊSU Ở CHÂU Á = TELLING THE STORY OF JESUS IN ASIA”  (xin phép được thêm:  “VÀ CHO NGƯỜI Á CHÂU”). Theo một bản tin được đưa trên UCA NEWS thì Đại Hội sẽ tập trung vào 4  khía cạnh của chủ đề trên:  Khía cạnh thứ nhất là câu chuyện của Chúa Giêsu nơi các dân tộc Á Châu  (trong gia đình, giới trẻ, phụ nữ, di dân). Khía cạnh thứ hai là câu chuyện của Chúa Giêsu trong các tôn giáo của Châu Á  (Phật Giáo, Hồi Giáo, các tôn giáo truyền thống). Khía cạnh thứ ba là câu chuyện của các nền văn hóa Á Châu có liên quan tới Chúa Giêsu (văn hóa bản xứ, văn hóa đương thời, văn hóa truyền thống). Khía cạnh cuối cùng là câu chuyện về cách thức Con Thiên Chúa hướng dẫn đời sống Hội Thánh tại Châu Á (các Thánh người Châu Á, sự thánh thiện, Ðức Mẹ Maria). 

Để thể hiện sự hiệp thông với các đại biểu dự Đại Hội Truyền Giáo các Giáo Hội Công Giáo Á Châu lần thứ I nói trên và cũng để tiếp nối các đề tài về Ðường Lối Truyền Giáo, bài 14 này sẽ trình bày việc Đối Thoại với mọi người và mọi dân tộc  nói chung, với mọi người và dân tộc Việt Nam nói riêng, như một Đường Lối Truyền Giáo của Giáo Hội ngày nay.

TRÌNH BÀY

I. GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI VỀ CÁCH TRUYỀN GIÁO BẰNG ĐỐI THOẠI.

1.1 Ý nghĩa của đối thoại:

“Đối thoại có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.

* Trước hết, ở cấp độ thuần túy con người, nó có nghĩa là thông tin cho nhau nhằm đưa đến một mục đích chung, hoặc ở một cấp độ sâu xa hơn, nó nhằm nói đến một sự hiệp thông liên nhân vị (giữa con người với nhau).

* Thứ đến, đối thoại có thể sử dụng theo nghĩa một thái độ cung kính và thân thiện (lãnh vực hành động), thấm nhập hoặc cần thấm nhập tất cả các sinh hoạt cấu tạo nên sứ mệnh truyền bá Phúc Âm của Giáo Hội. Đúng hơn gọi là “tinh thần đối thoại”.

* Nghĩa thứ ba nằm trong một bối cảnh của thực trạng đa tôn giáo, đối thoại có nghĩa là “toàn bộ những tương quan liên tôn, tích cực và xây dựng, với những người và những cộng đồng của các tín ngưỡng dị biệt, nhằm tìm cách quen biết nhau và làm phong phú cho nhau” (1).

1.2 Tầm quan trọng của đối thoại:

 “Trong thời gian nhóm họp Công Đồng Vatican II, Đức Phaolô VI trong Thông Điệp “Ecclesiam Suam” đã tuyên bố rằng, vấn đề quan hệ giữa Giáo hội và thế giới hôm nay chính là một trong những mối bận tâm lớn  nhất  của thời đại.  Ngài viết rằng “vấn đề ấy đã xuất hiện và mang tính khẩn trương tới mức tạo ra một gánh nặng trên tâm hồn chúng ta, cũng như trở thành một yếu tố kích thích, một lời mời gọi chúng ta”. Kể từ Công Đồng ấy, Giáo Hội luôn tỏ ý muốn theo đuổi quan hệ ấy trong tinh thần đối thoại. Tuy nhiên, muốn đối thoại không phải chỉ là một chiến thuật để sống chung hòa bình  giữa các dân tộc; nhưng đó là một phần thiết yếu trong sứ mạng Giáo Hội, vì nó xuất phát từ chính sự đối thoại yêu thương của Chúa Cha với nhân loại thông qua Chúa Con trong quyền  năng Chúa Thánh Thần. Giáo Hội chỉ có thể hoàn thành sứ mạng của mình theo một cách giống như cách Thiên Chúa đã làm trong Đức Giêsu Kitô: Ngài đã trở thành con người, chia sẻ cuộc sống con người và nói bằng ngôn ngữ loài người để truyền đạt sứ điệp cứu độ. Sự đối thoại mà Giáo Hội đề xuất được xây dựng dựa trên nền tảng là logic của sự Nhập Thể (đã làm người, thì sinh sống ăn nói như mọi người, với mọi người để loan báo và thực hiện sứ điệp cứu độ). Bởi đó không phải vì điều gì khác hơn là do liên đới một cách nhiệt tình, vô vị lợi mà Giáo Hội đã mở cuộc đối thoại với những con người Á Châu đang tìm kiếm sự thật trong tình thương” (2).

1.3 Mọi người và mọi dân tộc là đối tượng đối thoại chung của người / Giáo Hội Công Giáo:

“Là bí tích của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại, Giáo Hội không thể làm gì khác hơn là tham gia đối thoại với mọi dân tộc, vào mọi thời và ở mọi nơi. Để đáp trả sứ mạng đã lãnh nhận, Giáo Hội ra đi gặp gỡ các dân tộc trên thế giới, và ý thức mình là “đàn chiên nhỏ” giữa tập thể nhân loại rộng lớn (x. Lc 12,32), nhưng cũng ý thức mình là men trong khối bột của thế giới (x. Mt 13,33)” (3).

1.4 Mọi người Việt Nam và dân tộc Việt Nam là đối tượng đối thoại của riêng người / Giáo Hội Công Giáo Việt Nam:

Hệ luận đương nhiên của khẳng trên của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II  là: Người và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam phải đối thoại với mọi người Việt Nam và với dân tộc Việt Nam. Thư Chung 1980 của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã khẳng định mối tương quan mật thiết giữa người và Giáo Hội Công Giáo và mọi người Việt Nam và dân tộc Việt Nam, vì đất nước Việt Nam là mảnh đất chung của người không Công Giáo và Công Giáo Việt Nam; dân tộc Việt Nam là đối tượng phục vụ của người và  Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Dân tộc Việt Nam hơn 80 triệu người Việt Nam thuộc 54 sắc tộc, sống trên mảnh đất hình chữ S từ biên giới Trung -Việt đến Mũi Cà Mâu, từ biên giới Lào-Campuchia-Việt Nam đến Biển Đông. Trong số hơn 80 triệu người Việt Nam mới chỉ có khoảng 7-8 triệu người đã biết Chúa Giêsu Kitô. Do đó việc “kể về Đức Giêsu ở Việt Nam và cho người Việt Nam” là một sứ mạng lớn lao và trọng đại vô cùng, đòi người và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, hết thế hệ này đến thế hệ khác, phải tiếp nối nhau thực hiện.

II. LÀM THẾ NÀO ĐỂ NGƯỜI VÀ GIÁO HỘI VIỆT NAM  ĐỐI THOẠI ĐƯỢC VỚI MỌI NGƯỜI VIỆT NAM VÀ VỚI DÂN TỘC VIỆT NAM?

Quả là vấn đề lớn lao không dễ gì có câu trả lời thỏa đáng. Chỉ xin nêu 3 điều cơ bản nhất để gợi ý cho nhiều người cùng suy nghĩ, trao đổi, nghiên cứu và tìm tòi chung.  

2.1 Gắn liền với thân phận con người và dân tộc Việt:

Việc người và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam phải làm trước tiên là chấp nhận thân phận của mình gắn liền với thân phận của dân tộc Việt Nam và nhất là của tầng lớp người nghèo, người thiểu số, người bị kỳ thị và bị thiệt thòi nhất. Dân tộc Việt Nam đã bao năm khốn khổ vì chiến tranh, chia rẽ, hận thù, nay còn tiếp tục phải khốn khổ vì đói nghèo, lạc hậu và thiếu tự do, dân chủ. Người và Giáo Hội Công Giáo không thể làm ngơ trước hiện trạng ngổn ngang của đất nước và tiền đồ của Tổ Quốc Việt Nam. Người và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam phải cùng với những người thiện chí, làm hết sức mình để đất nước Việt Nam phát triển, con người Việt Nam được tôn trọng và thăng tiến toàn diện, xã hội Việt Nam được tự do, dân chủ, công bằng và tiến bộ. Nếu cần phải chịu thiệt thòi cách này cách khác, vì mục đích cao cả ấy, thì người và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam phải sằn sàng chấp nhận, để làm chứng cho Tin Mừng.

2.2 Xác định mình chỉ là đàn chiên nhỏ giữa tập thể rộng lớn:

So với tổng dân số Việt Nam hơn 80 triệu người thì tỷ lệ người Công Giáo mới chỉ là 6-7%, nghĩa là người Công Giáo chỉ là một thiểu số nhỏ bé trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Thái độ thích hợp là sống khiêm nhường, hòa đồng và cộng tác với mọi thành phần để cùng nhau xây dựng một đất nước phát triển cho kịp với thời đại mà vẫn giữ gìn và phát huy được truyền thống văn hóa, tôn giáo của cha ông tổ tiên để lại.

2.3 Xác tín mình là muối, là men, là ánh sáng giữa lòng xã hội Việt Nam:

          Tuy chỉ là một thành phần nhỏ trong cộng đồng lớn của dân tộc, nhưng người Kitô hữu Việt Nam phải xác tín vai trò trách nhiệm nặng nề của mình đối với đồng bào ruột thịt và đối với dân tộc Việt Nam. Đó là vai trò và trách nhiệm làm muối, làm men, làm ánh sáng mà Chúa Giêsu Kitô đã giao phó cho từng người khi chịu Phép Thanh Tẩy (4). Đó là vai trò và trách nhiệm – cùng với những người thành tâm yêu nước – xây dựng một xã hội công bằng mà theo đánh giá của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (5) thì đây là công việc cấp bách nhất vì có quá nhiều bất công, chênh lệch về của cải, chức quyền, điều kiện sống và cơ hội tiến thân trong xã hội Việt Nam ta hiện nay . 

THAY LỜI KẾT

“Kể về Chúa Giêsu ở Châu Á và cho người Á châu” nói chung và “Kể về Chúa Giêsu ở Việt Nam và cho người Việt Nam” nói riêng là người và Giáo Hội Công Giáo đối thoại với mọi người trên hết và trước hết về phẩm giá và ơn gọi của họ. Phẩm giá và ơn gọi ấy không phải do xã hội hay chế độ chính trị ban cho, mà là do chính Thiên Chúa đã ban cho mỗi người và cho mọi người khi họ được sinh ra làm người. Đó là trách nhiệm và vinh dự của chúng ta là những người đã đón nhận được ánh sáng mạc khải tròn đầy từ Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật.

           Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

           Kansas City (MO/USA) ngày 17.10.2006

…………………….

Chú thích

(1) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Đối thoại và Rao Truyền, số 9.

(2) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á, số 29.

(3) như trên, số 48.

(4) “Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.  Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.” (Mt 5,13-16; Mc 9,50; Lc 14, 34-35).

(5) “Lòng mến Chúa yêu người thôi thúc chúng ta góp phần xây dựng một xã hội trong đó con người có điều kiện để sống xứng với phẩm giá của mình. Bởi vì con người là hình ảnh của Thiên Chúa, nên mọi người có quyền được tôn trọng và phát huy những khả năng Chúa ban để phục vụ xã hội một cách hiệu quả nhất. Đồng thời, bởi vì con người là anh em của nhau, được tác tạo do quyền năng của Thiên Chúa và là đối tượng của ơn cứu chuộc trong Chúa Giêsu Kitô, nên mỗi người cần được đối xử với lòng kính trọng và yêu thương chân thành như là mục đích của sự phát triển toàn diện, để họ không bao giờ bị biến thành phương tiện cho sự phát triển kinh tế, cho sự thăng tiến xã hội của bất kỳ tổ chức hay thế lực nào.

      “Để xây dựng một xã hội công bằng, ngoài việc giáo dục để biết tôn trọng những quyền căn bản của con người, cũng cần có một đường lối thích hợp bảo đảm thực hiện được quyền này. Công việc này đòi hỏi sự đóng góp từ nhiều phía. Là Kitô hữu, được mời gọi để trở thành ánh sáng cho thế gian, muối cho đời, men trong bột, chúng ta hãy tập trung xây dựng một cộng đoàn trong đó mọi thành phần đều được yêu thương và được đối xử công bằng.

      “Sự công bằng cần phải đi đôi với lòng tôn trọng sự thật, vì tôn trọng sự thật là điều kiện để xây dựng một cộng đoàn yêu thương. Chúng tôi tin chắc rằng gương sáng phát xuất từ cộng đoàn của những người con cái Chúa sẽ có ảnh hưởng tích cực trong xã hội chúng ta” (Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Thư Mục Vụ 2006, số 7: Góp phần xây dựng một xã hội công bằng).

BÀI 15:  ĐỐI THOẠI ĐẠI KẾT VÀ LIÊN TÔN ĐỂ TRUYỀN GIÁO

VÀO ĐỀ

Trách  nhiệm của người và Giáo Hội Công Giáo là phải đối thoại với mọi người và mọi dân tộc. Trong số các đối tượng chung ấy có hai hạng đối tượng đặc biệt mà Đức Gioan Phaolô II đã lưu ý:

“Những nỗ lực đối thoại của Giáo Hội, trước hết nhắm tới những người cùng chia sẻ niềm tin vào Đức Kitô là Chúa và là Đấng Cứu Tinh.

Nỗ lực đó còn đi xa hơn thế giới Kitô Giáo để đến với những tín đồ thuộc các Truyền Thống Tôn Giáo khác, dựa trên căn bản là ai cũng có một tâm hồn khát vọng tôn giáo.

Đối Thoại Đại Kết và Đồi Thoại Liên Tôn chính là Ơn gọi đích thực của Giáo Hội” (1). 

Vậy sau khi đã tìm hiểu về đối thoại với mọi người và mọi dân tộc trong bài trước (bài 14), nay chúng ta tìm hiểu thêm về đối thoại với các Kitô hữu không Công Giáo (Đối Thoại Đại Kết) và với các Tín Đồ các Tôn Giáo ngoài Kitô Giáo (Đối Thoại Liên Tôn).

TRÌNH BÀY

I. GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI VỀ CÁCH TRUYỀN GIÁO BẰNG ĐỐI THOẠI  ĐẠI KẾT VÀ ĐỐI THOẠI LIÊN TÔN.

1.1  Đối Thoại Đại Kết:

(a) “Đối Thoại Đại Kết có lý do là các tín đồ cùng tin Chúa Kitô tại  Châu Á chỉ là thiểu số, muốn đem dân tộc Á châu về với Chúa Kitô như lệnh truyền của Ngài thì cần phải hiệp nhất, hiệp thông với nhau. Có hiệp nhất thì thế giới mới tin rằng Chúa Cha đã cử Chúa Con đến, như Đức Giêsu Kitô đã cầu nguyện.”

(b) “Muốn đối thoại đại kết thành công phải có thái độ sau:

(1o) Bác ái được biểu lộ trong ước muốn sẵn sàng cộng tác với các tín đồ khi có thể,

(2o) Trung thành với Giáo Hội Công giáo dù biết nhiều tín đồ Công Giáo có nhiều khuyết điểm,

(3o) Suy xét phân định để biết những cái tốt cái hay đáng ca ngợi,

        (4o) Thành thật muốn gạn đục khơi trong và đổi mới” (2).

1.2 Đối Thoại Liên Tôn:

(a) “Đối Thoại Liên Tôn không phải chỉ để giúp hai bên hiểu biết nhau và được thêm phong phú, nhưng là thành tố trong sứ vụ Phúc Âm hóa. Dẫu biết rằng các tôn giáo khác có những cái chân thật và thánh thiện, như là phản ảnh sự thật soi sáng muôn dân, Giáo Hội vẫn phải đối thoại để chứng thực cho các tín đồ bạn biết chỉ có Đức Giêsu Kitô có thể cứu độ trọn vẹn, và chỉ có Giáo Hội của Ngài là phương thế thông thường để được cứu độ.”

(b) “Muốn đối thoại liên tôn thành công phải có mấy điều kiện sau đây:

–  Trong tiến trình đối thoại liên tôn, không được từ bỏ các nguyên tắc truyền thống đức tin và xác tín tôn giáo, cũng không được hòa hoãn giả tạo, nhưng phải chứng tỏ cho nhau thấy mỗi bên muốn cho nhau được tiến bộ hơn về tôn giáo mình, và xóa bỏ đi những thành kiến, bất khoan dung và hiểu lầm.

           – Kitô hữu còn phải có một đức tin trưởng thành và chắc chắn, phải sống hạnh phúc trong cộng đoàn đức tin của mình. Vì thế cần phải được đào tạo để đối thoại.

           – Phải đối thoại “bằng cuộc sống và bằng tấm lòng”, một tấm lòng khiêm tốn dịu dàng, không tự phụ cũng không trịch thượng trong khi gặp gỡ nhau” (3).

1.3 Hình thức hay phương cách đối thoại:

(a) Đối thoại bằng cuộc sống: mỗi người cố gắng sống tinh thần cởi mở và sống với nhau như láng giềng tốt, cùng nhau chia vui sẻ buồn, chia sẻ các vấn đề và lo âu của con người.

(b) Đối thoại bằng cộng tác với nhau trong công việc phát triển con người toàn diện, và giải phóng con người trọn vẹn.

(c) Đối thoại bằng trao đổi thần học: các nhà chuyên môn tìm cách đào sâu kiến thức về các gia sản tôn giáo của nhau và thẩm định các giá trị siêu nhiên nơi các tôn giáo.

(d) Đối thoại bằng chia sẻ kinh nghiệm tôn giáo: đi sâu vào chính truyền thống tôn giáo của mình, chia sẻ những giá trị siêu nhiên phong phú của mình, chẳng hạn những giá trị liên quan đến cầu nguyện và chiêm niệm, đến đức tin và những con đường tìm đến Thiên Chúa hoặc Đấng Tuyệt Đối (4).

II. ĐỐI THOẠI ĐẠI KẾT VÀ ĐỐI THOẠI LIÊN TÔN ĐỐI VỚI GIÁO HỘI VIỆT NAM HÔM NAY  

2.1 Đối Thoại với Anh Chị Em Tin Lành Việt Nam:

Ở Việt Nam, ngoài các  tín hữu Công  Giáo dường như chỉ có các anh chị em Tin Lành (thuộc nhiều hệ phái) là Kitô hữu, tức cùng tin nhận Chúa Giêsu Kitô là Chúa và là Đấng Cứu Độ như người Công Giáo. 

Nhưng cũng phải thành thật mà nhìn nhận rằng giữa Công Giáo và Tin Lành Việt Nam còn nhiều xa cách và thành kiến từ thượng tầng cơ cấu Giáo Hội cho đến hạ tầng cơ sở là các tín đồ. Những cuộc gặp gỡ thân tình để trao đổi, học hỏi lẫn nhau, chia sẻ cho nhau về cách sống và loan truyền Niềm Tin còn rất hiếm.  

Trước ngày chiến tranh kết thúc vào cuối tháng 4.1975, tại Miền Nam đã có một số nỗ lực đại kết giữa Công Giáo và Tin Lành mà cụ thể nhất là kế hoạch cùng dịch Thánh Kinh để có bản dịch chung có thể sử dung cho cả Công Giáo lẫn Tin Lành. Nhưng kế hoạch tốt lành ấy đã chết ngấm với ngày 30.4.75.

Trong lãnh vực này Giáo Hội Việt Nam còn thua xa Giáo Hội Kampuchia là một Giáo Hội nhỏ bé vì họ đã có bản dịch Đại Kết Thánh Kinh năm 1999 (5).

Có hai điều mà người Công Giáo Việt Nam thua xa Anh Chị Em Tin Lành và thẳng thắn mà nói thì người Công Giáo phải bái phục Anh Chị Em Tin Lành:

Đó là việc các tín hữu Tin Lành siêng năng hỏi hỏi Thánh Kinh và rất nhiệt thành và tin tưởng phó thác vào Chúa trong công cuộc Truyền Đạo. Linh mục Antôn Nguyễn Ngọc Sơn đã đặt vấn đề cho mình và cho cả Giáo Hội Việt Nam nhân dịp Đại Hội Truyền Giáo Á Châu đang diễn ra ở Chiang Mai (Thái Lan) như sau:

“Nhìn vào Giáo Hội Việt Nam trong suốt 45 năm qua, tỷ lệ người có đạo ngày càng giảm so với dân số cả nước: vào năm 1960, tỷ lệ đó là 7,17%, cuối năm 2005 chỉ còn 7,04%. Chúng ta sống đạo như thế nào mà không làm tăng thêm được 1% dân số Công giáo?”

“Trong khi đó công cuộc truyền giáo của anh em Hội Thánh Tin Lành lại đáng cho chúng ta suy nghĩ. Ở Việt Nam từ 400.000 tín hữu vào năm 1999 đã tăng lên 1.200.000 vào năm 2005, nghĩa là tăng gấp 3 lần chỉ trong vòng 6 năm” (6).

2.2 Đối Thoại Liên Tôn:

          “Nước tôi có 6 tôn giáo chính là Phật Giáo, Công Giáo, Phật Giáo Hoà Hảo, Cao Đài, các hệ phái Tin Lành và Hồi Giáo.

“Ngoài ra, rất nhiều người theo đạo ông bà thờ cúng tổ tiên và cũng có nhiều người vô thần ….

“Phật giáo có khoảng gần 10 triệu người trên tổng số 84 triệu dân, chiếm khoảng 12% dân số. Người Công giáo chúng tôi có gần 6 triệu người, chiếm khoảng 7% dân số.

          “Trong dòng lịch sử dân tộc, các thế lực ngoại xâm suốt gần 12 thế kỷ đã dùng chính sách chia để trị tìm mọi cách chia rẽ đồng bào các tôn giáo vì sợ họ hợp nhất thành một lực lượng chống đối chính quyền, khiến cho đồng bào theo các tôn giáo có cái nhìn không mấy thiện cảm về nhau và hầu như rất ít khi cộng tác với nhau trong hoạt động từ thiện, bác ái xã hội.” (7).

          Nhưng mối tuơng quan giữa Công Giáo và các tôn giáo ngoài Kitô giáo tại Việt Nam không thể nói được là khá hơn từ 31 năm nay. Chính quyền Cộng Sản miệng nói là “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết…” nhưng lại chủ trương không để các lãnh đạo tôn giáo gặp gỡ, trao đổi riêng và cộng tác với nhau, cũng chỉ vì sợ các tôn giáo liên kết chống lại hoặc lật đổ họ.

          Vì thế mà cuộc đối thoại liên tôn chỉ có thể thực hiện được ở mức cá nhân hay tập thể nhỏ và cũng chỉ trong những vụ việc bác ái, từ thiện hay hữu nghị cụ thể và ngắn hạn. Khó mà có được những kế hoạch chung và lâu dài nhằm phục vụ lợi ích đích thực của dân chúng và của các tôn giáo trong nước.

THAY LỜI KẾT

“Kể về Chúa Giêsu tại Việt Nam” (Telling the story of Jesus in Viet Nam) thì đáng lẽ dễ nhất đối với người và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam là kể về Chúa Giêsu với anh chị em Tin Lành, anh chị em Phật Tử, Hòa Hảo, Cao Đài và Hồi Giáo. Rồi với các anh chị em đạo Ông Bà. Khó nhất là với anh chị em vô thần duy vật.

Với anh chị em Tin Lành thì chúng ta đã có chung một Niềm Tin vào Chúa Kitô và một Phép Rửa.

Với các tín đồ các tôn giáo ngoài Kitô giáo thì chúng ta đã có chung một tâm tình tôn giáo và lòng khát khao Đấng Siêu Việt cũng như một đời sống luân lý tương đối đậm nét.

Thế nhưng dường như với tất cả mọi hạng người, hữu thần hay vô thần, thuộc Kitô giáo hay không Kitô giáo…thì người và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn trong đối thoại.  

Tại sao vậy?

Phải chăng tại vì người Công Giáo Việt Nam chưa được chuẩn bị  cho một công việc lớn lao như vậy?

Mặt khác ngay giữa nội bộ chúng ta với nhau còn chưa có cuộc đối thoại thì làm sao chúng ta có khả năng đối thoại với người bên ngoài?  Cứ đọc lại những bài của các người / các bên liên quan tới việc phổ biến Nghi Thức Thánh Lễ mới đây thì thấy điều quả quyết trên không phải là hồ đồ hay mang tính vu khống!

          Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

          Atlanta (GA/USA) ngày 21.10.2006

…………………….

Chú thích

(1) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á, số 29,3.

(2) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á, số 30,2.

(3) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Thông điệp “Sứ Vụ Đấng Cứu Thế”; Tông Thư “Khi ngàn năm thứ ba tới”

và Công đồng Vaticanô II, Tuyên Ngôn “Vào thời đại chúng ta” được ban hành ngày 28 tháng 10 năm 1965.

(4) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Đối thoại và Rao Truyền, số 42.

(5) Năm 1999 tôi được tổ chức Food for the Hungry International mời dự một Hội Nghị Quốc Tế về chủ đề “Sự Phát Triển Con  Người Toàn Diện theo Thánh Kinh” tại thủ đô Phnom-Penh. Có gần 200 đại biểu, phần đông là tín hữu Tin Lành người bản xứ, tham dự Hội Nghị này và cuốn Thánh Kinh bản dịch Đại Kết của Công Giáo và Tin Lành Kampuchia đã được giới thiệu tại Hội Nghị này.

(6) Lm Nguyễn Ngọc Sơn, trích bài “Xuất phát lại từ Chúa Kitô.”

(7) Lm Nguyễn Ngọc Sơn, trích bài “Niềm Vui của Sự Liên Đới.”

BÀI 16:  TIẾP XÚC CÁ NHÂN LÀ CÁCH TRUYỀN GIÁO ĐƠN SƠ VÀ DỄ THỰC HIỆN NHẤT 

VÀO ĐỀ

Theo các tài liệu của Giáo Hội thì TIẾP XÚC CÁ NHÂN được xem là một trong những Đường Lối Truyền Giáo đơn sơ và dễ thực hiện nhất. Thật vậy nếu việc Đối Thoại Đại Kết hay Đối Thoại Liên Tôn đòi người Công Giáo phải có một số điều kiện về kiến thức, tâm lý và một hoàn cảnh nào đó thì Tiếp Xúc Xá Nhân là chuyện thường ngày và dường như chẳng đòi hỏi gì nhiều ở người Giáo Dân.

Đại Hội Truyền Giáo Á Châu lần thứ nhất vừa được tổ chức tại Chiang Mai (Thái Lan) từ ngày 18 đến ngày 22 tháng 10 vừa qua, với chủ đề “Kể chuyện Chúa Giêsu Kitô tại Á Châu” (Telling the story of Jesus in Asia) càng làm cho cách Truyền Giáo bằng Tiếp Xúc Cá Nhân này trở thành quan trọng, vì kể chuyện về Chúa Giêsu giả thiết phải có người kể và người nghe tức là có Sự Tiếp Xúc Cá Nhân.

TRÌNH BÀY

I. GƯƠNG CỦA CHÍNH CHÚA GIÊSU KITÔ VÀ CỦA CÁC TÔNG ĐỒ.

1.1 Trong Sứ Điệp của Đại Hội Truyền Giáo Á Châu lần thứ nhất vừa được nhắc đến ở trên có đoạn văn này: “Chúa Giêsu được mệnh danh là một người kể chuyện. Là một Sư Phụ (Rabbi), một vị Thầy (teacher), Ngài thích nhất là sử dùng phương pháp kể các Dụ Ngôn, để giải thích những Mầu Nhiệm sâu kín của Nước Trời. Có ai mà chưa nghe về câu chuyện của người Samaritanô nhân hậu hay câu chuyện người con hoang đàng? Những dụ ngôn của Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta thiết lập một quan hệ mật thiết với Thiên Chúa và với những người anh chị em chung quanh chúng ta.”

          1.2 Đọc lại các Sách Phúc Âm, Sách Tông Đồ Công Vụ và các Thư của các Tông Đồ, chúng ta khám phá ra rằng Chúa Giêsu và các Tông Đồ chuyên dùng cách tiếp xúc cá nhân để rao giảng Tin Mừng. Sau đây là một vài cuộc tiếp xúc nổi bật của các ngài được ghi lại trong Thánh Kinh Tân Ước:

          (a) Chúa Giêsu:

          * Chúa Giêsu tiếp xúc với Gioan Tẩy Giả bên bờ sông Giócđan (Mt 3,13-15).

* Chúa Giêsu mời gọi bốn môn đệ đầu tiên (Mt 4,18-22).

* Buổi gặp gỡ trao đổi của Chúa Giêsu với ông Nicôđêmô (Ga 3,1-21).

* Cuộc trò chuyện của Chúa Giêsu với người phụ nữ Samari bên bờ giếng Giacóp (Ga 4,1-26).

* Chúa Giêsu giảng dậy và chữa bệnh (Mt 4,23-25; Lc 6,17-19).

(b) Thánh Phêrô, Tông Đồ Trưởng:

* Thánh Phêrô tiếp xúc với dân chúng và giảng giải cho họ về hoạt động của Thiên Chúa trong Ngày Lễ Ngũ Tuần (Cv 2,14-41).

* Thánh Phêrô chữa lành một người què bên cửa Đền Thờ (Cv 3,1-10).

* Thánh Phêrô tiếp xúc, trò chuyện với ông Cornêliô. Sau đó ngài giảng dậy và rửa tội tại nhà ông (Cv 10,1-48).

          (c) Thánh Phaolô, Tông Đồ Dân Ngoại:

                * Thánh Phaolô nổi tiếng với các Hành Trình Truyền Giáo và xây dựng các cộng đoàn ở các nơi, nhờ tài tiếp xúc cá nhân và tài rao giảng của ngài. Sau đây là một đoạn của Sách Tông Đồ Công Vụ minh chứng sự tiếp xúc cá nhân có tầm quan trọng như thế nào:

                “Khi tới Giêrusalem, ông Saolô tìm cách nhập đoàn với các môn đệ. Nhưng mọi người vẫn còn sợ ông, vì họ không tin ông là một môn đệ. Ông Banaba liền đứng ra bảo lãnh đưa ông Saolô đến gặp các Tông Đồ, và tường thuật cho các ông nghe chuyện ông ấy được thấy Chúa hiện ra trên đường và phán dạy làm sao, cũng như việc ông ấy đã mạnh dạn rao giảng nhân danh Đức Giêsu tại Đamát thế nào. Từ đó ông Saolô cùng với các Tông Đồ đi lại hoạt động tại Giêrusalem. Ông mạnh dạn rao giảng nhân danh Chúa. Ông thường đàm đạo và tranh luận với những người Do Thái theo văn hóa Hy Lạp. Nhưng họ tìm cách giết ông. Các anh em biết thế, liền dẫn ông xuống Xêdarê và tiễn ông lên đường về Tácxô.” (Cv 9, 26- 30).

II. ĐIỀU KIỆN ĐỂ TIẾP XÚC CÁ NHÂN ĐEM  LẠI KẾT QUẢ CHO VIỆC TRUYỀN GIÁO.  

Tiếp xúc cá nhân, tuy rằng là Đường Lối Truyền Giáo đơn giản và dễ thực hiện nhất, nhưng cũng đòi một vài điều kiện tối thiểu. Có bốn điều kiện cơ bản, cốt yếu nhất mà tôi xin nêu ra đây:

2.1 Một tấm lòng chân tình:

Trước hết là một tấm lòng chân tình trong khi giao dịch, tiếp xúc với bất cứ người nào. Tấm lòng chân tình sẽ tạo được sự tin tưởng và quý mến nơi những người chúng ta tiếp xúc. Người giả trá, gian xảo sẽ làm cho người ta sợ sệt, nghi ngại, cảnh giác và lánh xa.

2.2 Một thái độ thân thiện, cởi mở:

Thái độ thân thiện, cởi mở là điều kiện thứ hai trong tiếp xúc cá nhân. Người thân thiện, cởi mở sẽ khiến đối tác cũng thân thiện, cởi mở để đối lại. Còn thái độ dửng dưng và khép kín sẽ chỉ tạo nên những người đối thoại thờ ơ và khép kín mà thôi.

2.3 Một ngôn ngữ thích hợp:

Điều kiện thứ ba giúp cho các cuộc tiếp xúc cá nhân thành công là sử dụng một ngôn ngũ thích hợp: với người bình dân thì chúng ta nói năng một cách bình dân, dễ hiểu; Với người trí thức thì chúng ta nói bằng ngôn ngữ văn hoa, trí thức. Với người Miền Bắc thì dùng kiểu nói khác với người Miền Trung hay người Miền Nam.

Trong Công Giáo Tiến Hành có Phương Pháp Truyền Giáo dùng người cùng môi trường, cùng nghề nghiệp là căn cứ vào thực tế này là chỉ những người cùng môi trường, nghề nghiệp mới biết phải nói gì và phải nói thế nào với những người mà mình muốn đem về với Chúa và Giáo Hội. Vì thế:  y tá, bác sĩ thì truyền giáo cho y tá, bác sĩ; bệnh nhân thì truyền giáo cho bệnh nhân; học sinh, sinh viên thì truyền giáo cho học sinh, sinh viên; giáo chức thì truyền giáo cho giáo chức; công nhân viên, lao động thì truyền giáo cho công nhân viên, lao động; người buôn bán thì truyền giáo cho người buôn bán; bộ đội thì truyền giáo cho bộ đội…

Hiện nay ở Việt Nam, nhất là ở các thành phố lớn như Hà Nội, Sàigòn, Đà Nẵng. Nha Trang… có nhiều nhóm “đồng đẳng” (tức người cùng môi trường, cùng giới, cùng bệnh) đang hoạt động tích cực nhằm giúp đỡ các cô gái điếm, các bệnh nhân HIV-AIDS, các trẻ em đường phố… lấy lại niềm tin và xây dựng lại cuộc sống, sau lỡ lầm hoặc lây bệnh. Vì những người cùng cảnh ngộ có thể thuyết phục được những người kém may mắn giống như họ một cách dễ dàng hơn, qua và bằng tiếp xúc cá nhân và chuyện trò tâm sự.   

 2.4 Một Đức Tin sống động:

Điều kiện thứ bốn là điều kiện mang tính quyết định.  Đó là  một Đức Tin sống động có sức chuyền ánh sáng và sức nóng vào các tâm hồn những người gặp gỡ, tiếp xúc với chúng ta. Nếu không có một Đức Tin có sức lan tỏa như thế, người Công Giáo chẳng giúp ích được bao nhiêu cho những người chưa biết Chúa mà họ gặp và trò chuyện hằng ngày.

THAY LỜI KẾT

Mới đây tôi được nghe một linh mục già rất đáng kính kể lại câu chuyện này:

Ở Hàn Quốc (tức Nam Hàn) đã có lúc có cuộc gia nhập Đạo Công Giáo một cách ồ ạt và tập thể, đến nỗi người Công Giáo không biết phải làm thế nào để giúp những người mới trở lại. Họ đành phải nói với những anh chị em tân tòng rằng:

“Anh chị em cứ nhìn chúng tôi sống thế nào thì anh chị em bắt chước mà sống như thế.” 

Người Công Giáo Hàn Quốc nói được như vậy quả là tuyệt vời! Vì không  gì bằng gương sáng của một đời sống đức tin lành thánh, yêu thương, bác ái cụ thể mà người tân tòng cảm nhận được qua TIẾP XÚC CÁ NHÂN với anh chị em cựu tòng!

Ước chi mỗi người Công Giáo Việt Nam chúng ta cũng nói được với đồng bào lương dân của mình như thế!

          Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

         Atlanta (GA/USA) ngày 26.10.2006

BÀI 17:  NGHỆ THUẬT TIẾP XÚC CÁ NHÂN  CỦA CÁC CÁN BỘ TRUYỀN GIÁO

VÀO ĐỀ

Trong bài trước tôi đã trình bày đề tài: “Tiếp Xúc Cá Nhân là một Đường Lối Truyền Giáo đơn sơ và dễ thực hiện nhất” Thật vậy, bất kỳ người Công giáo nào cũng có thể tiếp xúc với những người không công giáo ở nhiều nơi khác nhau như trong khu xóm, ngoài chợ, trong công ty xí nghiệp, bệnh viện, trường học, quán ăn v.v… Nhưng nếu bạn là cán bộ truyền giáo và nhất là nếu bạn thật sự muốn có kết quả trong việc tiếp xúc với những người chưa nhận biết Chúa thì những gì được trình bày trong bài trước là chưa đủ.

Trong khi suy nghĩ và tìm tài liệu để viết thêm về đề tài này thì tôi gặp được bài TIẾP XÚC CÁ NHÂN, một tài liệu của Phong Trào Cursillo tại Hoa Kỳ, ngành tiếng Việt (1). Tôi mạn phép sử dụng tài liệu này để soạn bài 17, chỉ nhắm mục đích giúp cho các anh chị em cán bộ truyền giáo có thêm Phương Pháp và Kỹ Năng trong Nghệ Thuật Tiếp Xúc Cá Nhân mà thôi. 

TRÌNH BÀY

I. TIẾP XÚC CÁ NHÂN LÀ MỘT NGHỆ THUẬT MÀ CÁC CÁN BỘ TRUYỀN GIÁO CẦN CÓ.  

1.1 Chỉ có tình bạn chân thành mới mở lối cho đối thoại và mở được cửa lòng người. Nghệ thuật tiếp xúc cá nhân bao gồm việc tạo cơ hội, sự lịch thiệp và cung cách tiếp xúc theo tinh thần tông đồ. Người tiếp xúc làm bạn với tất cả mọi người để mọi người sẽ trở thành bạn của Chúa Kitô. Điều cần lưu ý là người nói và cách nói quan trọng cho người nghe hơn là điều được nói ra.

1.2 Tiếp xúc cá nhân là một nghệ thuật mang thiên hình vạn trạng, với nhiều cung cách, âm điệu cần thiết được áp dụng tùy theo hoàn cảnh và phải trải qua một tiến trình có lớp lang thứ tự đàng hoàng. Tiến trình tiếp xúc cá nhân gồm 2 phần cũng là 2 giai đoạn là “đánh động” và “chuyển thông”.

Giai đoạn đầu là đánh động. Theo ngôn ngữ và văn hóa Tây Ban Nha  là “sounding” = thăm dò, có thể được hiểu là thăm dò thái độ một người để người ấy phản ứng, nói lên ý kiến, cảm nhận của mình về một sự việc nào đó; hoặc tác động một người để xác định tâm tư người đó. Giai đoạn này giúp ta biết rõ đối tượng, tức biết vị thế của người đối thoại một cách chính xác và giúp ta khám phá được tư tưởng của họ.

Đây là giai đoạn tìm hiểu cẩn trọng, tạo ảnh hưởng nơi mỗi cá nhân và trong mỗi trường hợp để biết rõ sự giao động trong tâm hồn của người chúng ta tiếp xúc, thái độ và hoàn cảnh sống của họ để giúp ta hiểu rõ đối tượng, thông cảm với họ và đem chân lý đến với họ một cách hữu hiệu hơn.  

Giai đoạn đánh động này có 2 tác dụng là tìm hiểu và lượng giá, được thực hiện dè dặt, cẩn trọng, tương kính và yêu thương. Nếu ta để cho người ta tiếp xúc nhận thấy mình là nạn nhân của một cuộc chất vấn, tệ hại hơn nữa là cuộc tra hỏi, và không được chia sẻ trong tình bằng hữu, người  ấy sẽ khép kín tâm hồn lại, chỉ hé mở cho chúng ta biết chút ít về họ mà thôi. 

Tìm hiểu và lượng giá là một việc làm tế nhị, không thúc bách và phải biết tự chế ngự chính mình, tránh tò mò và hiếu kỳ. Chúng ta phải có trực giác bén nhậy và nhận thức đầy đủ về tha nhân để có thể đặt họ vào đúng chỗ mà không cần đi sâu vào chi tiết.  

Tóm lại giai đoạn đánh động nhằm mục đích: quan sát – nghiên cứu – định vị trí và mở lối khai thông.

1.3 Giai đoạn hai của nghệ thuật tiếp xúc cá nhân là thông chuyển  mà ngôn từ Tây Ban Nha gọi là “stabbing” hay đâm thọc, tựa như động tác dùng mũi lao phóng vào con bò ở đấu trường.

Đối với chúng ta, thông chuyển là một việc làm chuyển giao chân lý để cho chân lý in sâu vào lòng đối tượng, như là mũi tên được phóng ra và đi thẳng vào trọng tâm của vấn đề, hầu khuấy động lương tri của người ta tiếp xúc.

Nói một cách đơn giản, một khi ta quen một người nào đó, biết tính tình, sở thích và lối sống của người ấy, ta tìm cách chinh phục người ấy bằng cách nói chuyện với người ấy và nói những điều gì để ảnh hưởng tới người ấy. Sứ mạng của ta là làm sao chuyển dịch một người từ một vị trí họ đang đứng sang vị trí họ phải đứng.

          1.4 Nếu muốn việc tiếp xúc cá nhân của chúng ta thành một hoạt động đồ nghiêm túc và có đầu có đuôi, chúng ta sẽ cẩn thận ghi lại các sự kiện liên quan tới cá nhân và gia đình người ta tiếp xúc, các vấn đề đã trao đổi, các phản ứng thái độ của người ta tiếp xúc trong một cuốn sổ tay như một thứ NHẬT KÝ TRUYỀN GIÁO.

          1.5 Trước và sau khi tiếp xúc với một người nào đó, chúng ta cầu nguyện đặc biệt cho người ấy và gia đình người ấy bằng cách dâng người ấy và gia đình người ấy cho Chúa và xin Chúa chúc lành và hướng dẫn cuộc gặp gỡ tiếp xúc của chúng ta.

II. MỘT VÀI THÍ DỤ RÚT RA TỪ CÁCH TIẾP XÚC CÁ NHÂN CỦA CHÚA GIÊSU TRONG PHÚC ÂM.  

2.1 Trường hợp ông Gia kêu: 

(1) Tường thuật của Phúc Âm Mátthêu 19,1-10:  ”Sau khi vào Giêrikô, Đức Giêsu đi qua thành phố ấy. Và kìa, có một người tên là Giakêu; ông đứng đó xem cho biết Đức Giêsu là ai, nhưng không được vì dân chúng thì đông mà ông lại lùn. Ông liền chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để xem Đức Giêsu, vì Người sắp đi qua đó. Khi Đức Giêsu tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông: “Này ông Gia kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!”. Ông vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Người. Thấy vậy mọi người xầm xì với nhau: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!”. Còn ông Gia kêu thì đứng mà thưa với Chúa rằng: “Thưa Ngài, này đây phân nữa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn. Đức Giêsu nói với ông ta rằng: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.”

(2) Diển giải để hiểu rõ hơn: Chúa Giêsu thấy ông Giakêu, người giầu có và tội lỗi nhưng khao khát nhìn thấy Chúa. Khi đến chỗ cây sung, Người ngẩng mặt và lên tiếng trước: “Này ông Gia kêu, xuống mau đi vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!”. Ông mừng rỡ và đột nhiên biến đổi con người, theo chân Chúa và Chúa đã nói một điều quan trọng: ” Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất”.

(3) Bài học:  Bài học quý giá ta học được nơi Chúa là sự quan tâm của Ngài dành đối tượng tiếp xúc cùng cách Ngài chuyển thông ơn hoán cải cho ông Gia kêu một cách rất đơn sơ nhưng đầy hiệu quả.

2.2 Trường hợp người phụ nữ Samari: 

(1) Tường thuật của Phúc Âm Gioan 4,7-10:   ”Có một người phụ nữ Samari đến lấy nước. Đức Giêsu nói với người ấy: “Chị cho tôi xin chút nước uống!”. Quả thế, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn. Người phụ nữ Samari liền nói: ” Ông là người Do Thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông nước uống sao? “. Quả thế, người Do Thái không được giao thiệp với người Samari. Đức Giêsu trả lời: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban và ai là người nói với chị: “cho tôi chút nước uống “, thì hẳn chị đã xin, và người ấy ban cho chị nước hằng sống.” 

(2) Diển giải để hiểu rõ hơn:  Để đáp lại câu hỏi về nước hằng sống, Đức Giêsu trả lời: “Ai uống nước này sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” (Ga 4,13-14).

Sau cùng “Người phụ nữ đó để vò nước lại vào thành và nói với người ta: “Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Kitô sao? ” Họ ra khỏi thành và đến gặp Người.” (Ga 4,28-30).

(3) Bài học:  Trong cuộc tiếp xúc này, ta thấy Chúa đã lên tiếng trước như thể muốn làm quen. Chúa xin người phụ nữ Samari nước uống. Nghe lời ấy chị cảm thấy mình được chú ý, được kính trọng, là người có thể làm ơn và là người có tiềm năng tốt.

Đó là một Tin Mừng lớn lao đối với chị, một Tin Mừng giải thoát chị  khỏi mặc cảm, mở lòng trí chị  hướng về Đấng có sức giải thoát chị khỏi tội lỗi và dẫn chị đến sự sống đời đời. Thế rồi cuộc trao đổi đi từng bước đi lên.

Sau cùng, người đàn bà tội lỗi ấy đã trở thành kẻ loan Tin Mừng rất nhiệt tình cho dân ngoại: “Truyền giáo như vậy là dùng chính những người tội lỗi, yếu đuối hèn hạ làm người cộng tác để rao giảng ơn tha thứ, sự phục hồi nhân phẩm và niềm tin vào Chúa Kitô; chính họ là người đưa tin hấp dẫn khiến nhiều người suy nghĩ chú ý ” 

THAY LỜI KẾT

Trong thực tế, việc tiếp xúc cá nhân có nhiều cách mà mỗi hoàn cảnh, mỗi cá nhân, nhờ sự khôn ngoan và nhất là nhờ sự trợ giúp của Chúa Thánh Linh. Muốn cho việc tiếp xúc cá nhân đạt được thành quả, điều cốt yếu là sự cầu nguyện và hi sinh. Ta nói với Chúa về người bạn trước khi nói với bạn về Chúa. Sự học hỏi trau dồi kiến thức thần học giáo dân là một khía cạnh cần cố gắng. Thái độ khiêm cung, nhã nhặn, lịch thiệp, vồn vã và chân tình là những đức tính cần có của chúng ta mỗi khi giao tiếp để, qua mỗi người, mọi người cùng dắt tay nhau phục vụ anh chị em và phụng sự Chúa.

          Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.

          Kansas City (MO/USA) ngày  01.11.2006

          Lễ Kính Các Thánh Nam & Các Thánh Nữ.

…………

Ghi Chú:

(1) Tài liệu này do Ông Nguyễn Đức Tuyên ở Quận Cam (California/USA) trình bày.

BÀI 18:  HOẠT ĐỘNG CHO SỰ THĂNG TIẾN CON NGƯỜI ĐỂ TRUYỀN GIÁO

VÀO ĐỀ

Trước khi đi vào nội dung bài 18, xin chia sẻ với quí độc giả bản tin của Vietcatholic News ngày 2 tháng 11 năm 2006 về “Hội Nghị Quốc tế Chống Nghèo Đói” vừa diễn ra tại San Francisco (Hoa Kỳ):

San Francisco – Gần 1000 người đã tham dự Hội Nghị Quốc Tế chống Nghèo Đói tại San Francisco trong 2 ngày 27-28/10/2006. Hôị nghị qui tụ các lãnh tụ các tôn giáo, kinh tế gia, và các chuyên viên về phát triển, các nhà khoa bảng, thương gia và lao động, đến từ khắp nơi trên thế giới.
         Tổng Giám Mục George H. Niederauer của San Francisco phát biểu rằng: “Chúng ta có trách nhiệm nêu lên bi kịch luân lý về sự nghèo đói trên toàn cầu. Chúng ta ngồi lại với nhau để đưa ra những điều quan tâm, động lực nguồn tài trợ và suy nghĩ làm thế nào đức tin của chúng ta sẽ biến thành hành động và xây dựng một thế giới mới công bằng hơn”.
        Tổng Giáo Phận San Francisco đồng bảo trợ Hội Nghị này cùng với Văn Phòng Họi Đồng Giám Mục Hoa Kỳ.
        Mở đầu Hội Nghị, các diễn giả từ India, Kenya và Brazil đã trình bày cho thấy tình trạng nghèo đói tại Á châu, Phi châu và Nam Mỹ, những nơi mà phần lớn dân chúng sống trong cảnh nghèo đói nhất.
       Qua màn truyền hình chuyển vận từ xa, giáo sư đại học Columbia là Jeffrey Sachs nói rằng “sự quyết tâm dấn thân từ các cuốc gia cho Mục Tiêu Phát Triển Thiên Niên Kỷ (Millennium Development Goals) không phải là vấn đề các nước giầu giúp nước nghèo nhưng là mối liên hệ của con người với con người trong sự liên đới”.
       Trong một thế giới mà hiện này phân nửa dân chúng sống trong nghèo đói và hơn 1 tỉ người phải sống chật vật nghèo đói từng ngày thì ý niệm loại trừ nghèo đói trên thế giới xem ra là một ảo tưởng.”

Tình trạng của hơn phân nửa dân số thế giới sống trong nghèo đói và hơn 1,1 người phải sống chật vật túng thiếu từng ngày khiến cho những người có lương tâm phải đau lòng và xấu hổ, cho những người Kitô hữu chúng ta cảm thấy mình “có tội”. Giáo huấn của Chúa Giêsu và của Giáo Hội Công Giáo về “thăng tiến con người” (1) trở nên cấp bách đòi mỗi người, mỗi cộng đoàn chúng ta phải khẩn cấp hoạt động cho sự “thăng tiến con người”, vì đó là Đường Lối Truyền Giáo đích thực nhất.

TRÌNH BÀY

I. GIÁO HUẤN CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ TRONG SÁCH PHÚC ÂM.

1.1 Hai giới răn “quan trọng ngang nhau”của Đạo Chúa:

          “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó.” Ông kinh sư nói với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ” (2).

1.2 Khuôn vàng thước ngọc của môn đệ Chúa Giêsu Kitô: 

          “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó” (3).

1.3 Giới răn riêng của Thày Giêsu: 

          “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (4).

1.3 Lý do thâm sâu : Làm hay không làm cho người nghèo điều gì  là làm hay không làm cho chính Chúa điều ấy:

            “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy. Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy”       

       * Làm như thế là:  “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han.

       * Không làm như thế là:  “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi không đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã không thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi không đến hỏi han.” (5).

II. GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI VỀ THĂNG TIẾN CON NGƯỜI

2.1 Của Công Đồng Vatican II (nêu nguyên tắc thần học và mục vụ): 

          “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô. Quả vậy không có gì thực sự của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ” (6).

2.2 Của Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu và Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á:

Năm 1998 trong khuôn khổ chuẩn bị Mừng Năm Thánh 2000, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã triệu tập Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới về Châu Á. Tài liệu đúc kết của Thượng Hội Đồng Giám Mục này được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II biên soạn thành Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á. Tông huấn này đã công bố năm 1999 tại Ấn Độ. Tông Huấn đã dành trọn chương VI cho vần đề “thăng tiến con người”. Để giúp quí độc giả hiểu nội dung chương VI nói trên, tôi xin chia sẻ những câu hỏi đáp trong một tài liệu gọi là  “Học Hỏi Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á” do một nhóm linh mục và giáo dân đã soạn cho Hội Đồng Giám Mục Việt Nam năm 2000-2001.

          * Hỏi: Tại sao Giáo Hội quan tâm đến con người và các vấn đề của con người?

          – Thưa:  Giáo Hội quan tâm đến con người và các vấn đề của con người vì sứ mạng của Giáo Hội là loan báo Tin Mừng cho cộng đồng nhân loại mà Giáo Hội là thành phần và có mối liên đời sâu sắc như Công đồng Vatican đã xác định trong  Lời Mở Đầu Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay “Vui Mừng và Hy Vọng” (7).

         * Hỏi: Giáo Hội thể hiện sự quan tâm đối với con người và các vấn đề của con người bằng cách nào?

          – Thưa: Giáo Hội thể hiện sự quan tâm ấy bằng cách đưa ra những giáo huấn về xã hội. Đó là những nguyên tắc có tính hướng dẫn mọi hoạt động của Kitô hữu cũng như của những người thành tâm thiện chí, khi họ muốn phục vụ sự phát triển đích thực của con người, nhất là của người nghèo và những người bị thiệt thòi trong xã hội.

          * H: Thế nào là sự phát triển đích thực và toàn diện của con người theo học thuyết xã hội của Giáo Hội?

          – Thưa: Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á khẳng định: “Con người, chứ không phải của cải hay kỹ thuật là tác nhân chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển. Thế nên  sự phát triển mà Giáo Hội cổ võ vượt xa những vấn đề kinh tế và kỹ thuật. Sự phát triển ấy bắt đầu và kết thúc với sự toàn vẹn của con người, đã được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và đã được Thiên Chúa ban cho một phẩm giá cũng như các quyền con người bất khả nhượng” (8).

         * H: Về vấn đề phát triển con người tại Châu Á, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nói gì?

          – Thưa: Về vấn đề phát triển con người tại Châu Á, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng “ý thức rất rõ tại nhiều nơi trên thế giới quyền con người vẫn liên tục bị xâm phạm, nhất là tại Châu Á, nơi có biết bao nhiêu triệu người đang phải chịu sự kỳ thị, bóc lột, nghèo đói và bị gạt ra bên lề xã hội”. Cách cụ thể các ngài nêu những ưu tiên cho hoạt động thăng tiến con người, như bảo vệ sự sống, chăm sóc sức khỏe, đề cao giáo dục, xây dựng hòa bình, ngăn chặn những tiêu cực của toàn cầu hóa,giảm hoặc xóa nợ cho các nước nghèo, bảo vệ môi trường. Các ngài còn nói lên nhu cầu đặt ra cho toàn thể Dân Chúa tại Châu Á là phải nhận thức rõ về sự thách đố không thể né tránh hay từ khước được, khi phải bênh vực các quyền con người và cổ võ cho công lý và hòa bình.  (9).

          * H: Theo Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á, thì người nghèo là ai? và Giáo Hội phải làm gì cho họ?

          – Thưa: Theo Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á, thì  người nghèo là “những người di cư, những dân tộc bản địa và bộ tộc, phụ nữ và trẻ em, những người đang bị kỳ thị vì văn hóa, mầu da, chủng tộc, giai câp, tình trạng kinh tế hay vì cách suy nghĩ của mình”.  Và Giáo Hội phải đặc biệt thương yêu, trợ giúp, chăm sóc để họ giữ gìn được phẩm giá và bảo tồn được văn hóa của mình (10).

2.3 Của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam trong Thư Mục Vụ ngày 8.9.2006: 

        Thư Mục Vụ 2006 của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, với chủ đề “Sống Đạo Hôm Nay”, kêu gọi mọi người Công giáo Việt Nam thực hiện hai điều là dấn thân phục vụ và góp phần xây dựng một xã hội công bằng:

          (1) Dấn thân phục vụ sự sống và phẩm gía con người:

          “Đời sống bác ái có thể thực hành bằng nhiều cách, nhưng Thư Mục Vụ năm nay nhấn mạnh đặc biệt đến việc dấn thân phục vụ. Vì thế, chúng tôi mời gọi anh chị em hãy phát huy tinh thần liên đới và yêu thương phục vụ Tin Mừng Chúa Giêsu, phục vụ sự sống và phẩm giá con người, đặc biệt những người nghèo khổ: nghèo kiến thức, nghèo vật chất, nghèo tình thương, nghèo niềm hy vọng, nghèo hạnh phúc”  (11).
          (2) Góp phần xây dựng một xã hội công bằng:

          “Lòng mến Chúa yêu người thoi thúc chúng ta góp phần xây dựng một xã hội trong đó con người có điều kiện để sống xứng với phẩm giá của mình. Bởi vì con người là hình ảnh của Thiên Chúa, nên mọi người có quyền được tôn trọng và phát huy những khả năng Chúa ban để phục vụ xã hội một cách hiệu quả nhất. Đồng thời, bởi vì con người là anh em của nhau, được tác tạo do quyền năng của Thiên Chúa và là đối tượng của ơn cứu chuộc trong Chúa Giêsu Kitô, nên mỗi người cần được đối xử với lòng kính trọng và yêu thương chân thành như là mục đích của sự phát triển toàn diện, để họ không bao giờ bị biến thành phương tiện cho sự phát triển kinh tế, cho sự thăng tiến xã hội của bất kỳ tổ chức hay thế lực nào.

          Để xây dựng một xã hội công bằng, ngoài việc giáo dục để biết tôn trọng những quyền căn bản của con người, cũng cần có một đường lối thích hợp bảo đảm thực hiện được quyền này. Công việc này đòi hỏi sự đóng góp từ nhiều phía. Là Kitô hữu, được mời gọi để trở thành ánh sáng cho thế gian, muối cho đời, men trong bột, chúng ta hãy tập trung xây dựng một cộng đoàn trong đó mọi thành phần đều được yêu thương và được đối xử công bằng.

          Sự công bằng cần phải đi đôi với lòng tôn trọng sự thật, vì tôn trọng sự thật là điều kiện để xây dựng một cộng đoàn yêu thương. Chúng tôi tin chắc rằng gương sáng phát xuất từ cộng đoàn của những người con cái Chúa sẽ có ảnh hưởng tích cực trong xã hội chúng ta.” (12).

THAY LỜI KẾT

Giáo Huấn về trách nhiệm và sứ mạng “thăng tiến con người” của Chúa Giêsu Kitô và của Giáo Hội hết sức phong phú và đầy đủ. Vần đề vẫn là làm sao người Công Giáo Việt Nam đem những Giáo Huấn ấy vào thực tế. Đó là vấn đề cốt lõi của Đạo Chúa và là sự tồn vong của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Với tư cách là chi thể, mỗi người chúng ta có phần trách nhiệm của mình. Co một loạt các câu hỏi tôi xin đặt ra cho bản thân mình và cho mọi thành phần Dân Chúa ở Việt Nam là:

(1) Sự sống và phẩm giá con người ở Việt Nam đã được Giáo Hội, Chính Quyền và Xã hội tôn trọng đủ chưa?

(2) Sự sống và phẩm giá của những người/nhóm người nào ở Việt Nam đang bị chà đạp? bị ai hay cơ chế xã hội nào chà đạp?

(3) Tôi đã và đang làm gì để đồng bào tôi bớt đói nghèo, lạc hậu, có công ăn, việc làm, nhà ở, trường học, bệnh viện, có cuộc sống xứng đáng và phẩm giá được tôn trọng?

(4) Tôi và Giáo Hội tôi đã và đang làm gì để cả người giáo dân và người lương dân Việt Nam được phát triển về mặt kinh tế, tài chánh, văn hóa, xã hội, chính trị, tôn giáo và tâm linh?

          Trả lời cách thẳng thắn, trung thực cho 4 câu hỏi trên là một cuộc xét mình đích thực. Đó là bước đi căn bản để có thể thực thi Lời Chúa và Giáo Huấn của Giáo Hội trong lãnh vực thăng tiến con người ngày hôm nay.

          Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

          Kansas City (MO/USA) ngày 03.11.2006

…………………….

Ghi chú:

(1) Giáo huấn của Chúa Giêsu và của Giáo Hội về “thăng tiến con người” là một kho tàng vô cùng phong phú. Vì giới hạn của bài viết nên tôi chỉ nêu một ít điều quan trọng và tiêu biểu nhất mà thôi.

(2) Mc 12,29-32.

(3) Mt 6,12; Lc 6,31.

(4) Ga 13, 34-35.

(5) Mt 25,31-46.

(6) Lời mở đầu Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay “Vui Mừng và Hy Vọng” số 1.

(7) như trên.

(8) Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á, số 33.

(9) như trên.

(10) nhu trên số 34.

(11) Thư Mục Vụ 2006 của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, số 6.
(12) như trên, số 7.

BÀI 19:  PHỤNG VỤ LỜI CHÚA  & BÀI GIẢNG CHÚA NHẬT LÀ ĐƯỜNG LỐI TỐI ƯU CỦA VIỆC LOAN BÁO TIN MỪNG VÀ THÁNH HÓA CÁC TÂM HỒN

VÀO ĐỀ

Nhiều người lầm tưởng rằng truyền giáo là việc làm chỉ nhằm các người ở bên ngoài Giáo Hội mà quên rằng, truyền giáo có ba đối tượng rất rõ ràng:

(a) Đối tượng thứ nhất là những người chưa biết, chưa tin Chúa,

(b) Đối tượng thứ hai là những người đã biết và tin Chúa nhưng đã bỏ Chúa và Giáo Hội,

(c) Đối tượng thứ ba là những người đang tin Chúa và đang giữ/sống Đạo, ở nhiều mức độ khác nhau.

Đối với những người đang tin Chúa và đang giữ/sống Đạo cũng có nhiều cách loan báo Tin Mừng và Phúc Âm hóa khác nhau như các lớp/khóa giáo lý, các buổi hội thảo, các ngày tĩnh tâm, linh thao, các cử hành Phụng Vụ  và các bài giảng của các Thừa Tác Viên có chức thánh (hồng y, giám mục, linh mc, phó tế).

Trong bài này chúng ta sẽ đề cập đến Phụng Vụ Lời Chúa nói chung và bài giảng Ngày Chúa Nhật nói riêng như là một Đường Lối Truyền Giáo và Thánh Hóa tối ưu của Giáo Hội.

TRÌNH BÀY

I. GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI VỀ PHỤNG VỤ NÓI CHUNG VÀ PHỤNG VỤ LỜI CHÚA NÓI RIÊNG

1.1 Của Công  Đồng Vatican II:

       Công đồng Vatican II đã dành một trong bốn Hiến Chế cho Phụng Vụ. Với Hiến Chế Sacrosantum Concilium (Phụng Vụ Thánh), Phụng Vụ của Giáo Hội đã được canh tân một cách toàn diện: từ qui định về Năm Phụng Vụ (A,B,C) và các bài Thánh Kinh được chọn đọc trong các ngày Lễ Chúa Nhật và ngày thường cho đến việc ấn định dùng tiếng địa phương và linh mục chủ tế đứng (ngồi) hướng về cộng đoàn trong cử hành.

       Mục tiêu và ý nghĩa truyền giáo của Phụng Vụ cũng được Công Đồng nhấn mạnh đặc biệt ngay ở Lời Mở Đầu (1) của Hiến Chế khi đề cập đến “Vai trò của Phụng Vụ trong mầu nhiệm Giáo Hội”:

           “Thật vậy, nhờ Phụng Vụ, nhất là trong hiến tế tạ ơn, mà “công cuộc cứu chuộc chúng ta được thực hiện” (2). Phụng Vụ góp phần rất nhiều để giúp các tín hữu đem cuộc sống mình diễn tả và biểu lộ cho những người khác mầu nhiệm Chúa Kitô và bản tính đích thực của Giáo Hội chân chính, một Giáo Hội có đặc tính vừa nhân loại vừa thần linh, vừa hữu hình vừa hàm chứa những thực tại vô hình, vừa nhiệt thành hoạt động vừa chiêm niệm, vừa hiện diện nơi trần gian nhưng đồng thời cũng là lữ khách. Tuy nhiên, trong Giáo Hội, yếu tố nhân loại cũng qui hướng và lệ thuộc vào yếu tố thần linh, những thực tại hữu hình phải qui hướng về những thực tại vô hình, những hoạt động phải hướng về việc chiêm niệm, và những gì hiện tại phải hướng về thành đô tương lai là nơi chúng ta đang tìm kiếm (3). Hằng ngày, Phụng Vụ kiến tạo những người bên trong Giáo Hội thành đền thánh trong Chúa, thành nơi cư ngụ của Thiên Chúa trong Thánh Thần (4) để đạt tới mức sung mãn của Chúa Kitô (5). Nhờ đó, Phụng Vụ còn kiện cường sức lực cho họ cách lạ lùng để rao giảng Chúa Kitô; và như vậy Phụng Vụ cũng bày tỏ cho những kẻ bên ngoài thấy Giáo Hội như một dấu chỉ nêu cao trước mặt các dân nước (6) ngõ hầu con cái Thiên Chúa đang tản mác được qui tụ nên một (7) cho tới khi thành một đàn chiên theo một Chúa chiên (8)”.

1.2 Của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI:

“Việc rao giảng Tin Mừng này sẽ mặc nhiều hình thái khác nhau mà lòng nhiệt thành sẽ tạo nên cảm hứng một cách gần như bất tận. Quả thật có rất nhiều biến cố trong cuộc sống và hoàn cảnh con người tạo cơ hội cho việc loan báo – một cách kín đáo nhưng ấn tượng – điều mà Chúa cần nói trong hoàn cảnh ấy hay một hoàn cảnh đặc biệt nào khác. Chỉ cần có sự nhậy bén tâm linh để đọc ra sứ điệp của Thiên Chúa trong các biến cố. Nhưng vào lúc mà Phụng Vụ được canh tân bởi Công Đồng Vatican II đã đề cao giá trị của Phụng Vụ Lời Chúa thì sẽ là thiếu sót lớn nếu không nhận ra bài giảng là một công cụ có khả năng và rất dễ thích nghi cho việc loan báo Tin Mừng. Chắc hẳn cần phải công nhận và tận dụng những đòi hỏi và những tiềm năng của việc giảng để bài giảng đạt được tất cả tính hiệu quả về mục vụ. Nhưng nhất là phải xác tín về giá trị của bài giảng và thực hiện bài giảng ấy với lòng yêu mến.

“Bài giảng kín múc sức mạnh và cường độ từ cử hành Thánh Thể. Vì được nối kết với cử hành Thánh Thể một cách “có một không hai”, bài giảng chắc chắn đóng một vai trò đặc biệt trong công cuộc loan báo Tin Mừng nếu bài giảng diễn tả niềm tin sâu sắc của thừa tác viên và được đượm thấm tình yêu. Các tín hữu tập hợp thành Hội Thánh của Lễ Vượt Qua, cử hành Lễ của Chúa là Đấng hiện diện ở giữa họ, chờ đợi rất nhiều ở bài giảng và sẽ hưởng lợi rất nhiều từ bài giảng nếu bài giảng được giảng một cách đơn sơ, rõ ràng, trực tiếp, thích ứng với hoàn cảnh, gắn liền với Giáo Huấn Phúc Âm và trung thành với Quyền Giảng Dạy của Giáo Hội, được linh động bởi lòng nhiệt thành tông đồ, chan chứa niềm hy vọng, làm nẩy sinh bình an và hợp nhất. Nhiều cộng đoàn giáo xứ và cộng đoàn khác sống và được liên kết với nhau nhờ có bài giảng ngày Chúa Nhật khi bài giảng ấy có được những phẩm chất kể trên.

“Chúng ta nên thêm rằng: nhờ có canh tân phụng vụ mà việc cử hành Thánh Thể không phải là thời gian duy nhất thích hợp cho bài giảng. Bài giảng có tầm quan trọng riêng, nên không được coi nhẹ bài giảng trong các cử hành các bí tích, hoặc trong các cử hành á phụng vụ, trong các cuộc tập hợp của các tín hữu. Bài giảng luôn là cơ hội đặc biệt cho việc thông chuyển Lời Thiên Chúa” (9).

II. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA NÓI CHUNG VÀ BÀI GIẢNG NGÀY CHỦ NHẬT NÓI RIÊNG ĐỐI VỚI GIÁO DÂN VIỆT NAM

2.1 Từ những giáo huấn trên của Công đồng Vatican II và của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, chúng ta có thể rút ra một số điểm then chốt về  Phụng Vụ Lời Chúa nói chung và về bài giảng Ngày Chúa Nhật nói riêng:

          (a) Phụng Vụ nói chung và Phụng Vụ Lời Chúa nói riêng ngoài mục đích chúc tụng, ngợi khen Thiên Chúa còn nhắm xây dựng con người Kitô hữu, giúp họ trở nên người tín hữu trưởng thành và người chiến sĩ trên cánh đồng truyền giáo. 

(b) Bài giảng có tầm quan trọng đặc biệt – có thể nói là không thể thiếu – trong Phụng Vụ Lời Chúa và trong cử hành các Bí Tích, để giúp đỡ các tín hữu có hiểu biết, yêu mến và thực hành Phúc Âm trong đời sống cá nhân cũng như cộng đồng xã hội. 

(c) Bài giảng, nhất là của Ngày Chúa Nhật, phải đạt một số yêu cầu để có thể đem lại nhiều ơn ích thiêng liêng cho người nghe giảng, như:

– Bài giảng phải diễn tả niềm xác tín của thừa tác viên có chức thánh (hồng y, giám mục, linh mục hay phó tế).

– Lời lẽ của bài giảng phải đơn sơ, rõ ràng và dễ hiểu, không cầu kỳ, cao xa và phô trương.

– Bài giảng phải là lời của người giảng trực tiếp nói với người nghe là các tín hữu là anh chị em của mình trong gia đình Chúa là Giáo Hội.

– Bài giảng phải phù hợp với người nghe (trình độ văn hóa và đức tin, nhận thức về Đạo cũng như về Đời, nhu cầu tâm linh, vấn đề khúc mắc) hầu nâng cao dần dần hiểu biết, kinh nghiệm sống Đức Tin của những người ấy.

– Bài giảng phải thấm nhuần Giáo Lý Phúc Âm, trung thành với sự giảng dậy của Giáo Hội ngày hôm nay.

– Bài giảng phải có sức đốt cháy các tâm hồn bằng lửa yêu mến Chúa và đem lại bình an và hy vọng cho các tâm hồn, nhất là cho các tâm hồn sầu khổ vì yếu đuối, tội lỗi hay gặp khó khăn thử thách.

2.2 Nói chung người giáo dân Việt Nam ít học, đời sống vất vả, không có thời giờ học hỏi, đào sâu Giáo Lý, Thánh Kinh. Do đó việc giáo dục đức Tin cậy dựa rất nhiều vào các bài giảng của linh mục chánh phó xứ. Nhưng nếu theo những tiêu chuẩn vừa nêu trên về Phụng Vụ Lời Chúa nói chung và về các bài giảng Chúa Nhật nói riêng chúng ta sẽ phải đau lòng nhìn nhận rằng:

* Có nhiều buổi Phụng Vụ Lời Chúa không chu toàn được vai trò mà Công Đồng đã đưa ra. Bằng chứng là rất nhiều người giáo dân không tấn tới về mặt tâm linh và không thay đổi cách sống đức tin dù họ dự lễ và nghe giảng hằng tuần.

* Có nhiều bài giảng chỉ là những lời “trống rỗng”, không hồn, thiếu lửa, nhưng lại đầy cái “tôi” của người giảng.

* Có nhiều bài giảng khiến người nghe có cảm tưởng không được chuẩn bị nghiêm túc, gặp đâu nói đó hay nhai đi nhai lại những điều sáo ngữ.

* Thậm chí có một số bài giảng đã bị biến thành diễn đàn để xỉ vả và làm nhục những “con chiên” đã dám làm phật lòng, trái ý “chủ chăn”.

      2.3 Nhận định trên không chỉ là của nhiều giáo dân mà còn là sự thú  nhận của nhiều linh mục. Trong một đợt thường huấn linh mục của một giáo phận nọ của Việt Nam, ban thư ký đã đúc kết buổi trao đổi liên quan đến bài giảng như sau:

         “Bị cám dỗ truyền ban một kiến thức hơn là rao truyền Lời Chúa. Do đó bài giảng thiếu cái hồn của Tin Mừng. Ngoài ra bài giảng còn thiếu chuẩn bị và nội dung bài giảng thường đặt nặng luân lý, sửa lỗi hơn là đào sâu để khám phá nội dung chủ yếu của Lời Chúa. Có khi người linh mục nại đến không có giờ, nhu cầu giáo dân thì nhiều, công việc quá bận rộn, nên việc chuẩn bị cho bài giảng quá lơ là” (10).

THAY LỜI KẾT

          Theo truyền thống, Giáo Hội Việt Nam luôn đề cao việc cử hành và tham dự Bí Tích. Điều này rất đúng với Giáo Lý, vì Bí Tích và Phụng Vụ có tính sống còn đối với Cộng đoàn Hội Thánh.  

          Nhưng trong thực tế thì việc cử hành Phụng Vụ Lời Chúa và việc giảng dạy Lời Chúa lại chưa được hàng ngũ Thừa Tác Viên  có chức thánh coi là nhiệm vụ SỐ MỘT của mình. Đã đành rằng hàng ngày có một cử hành Phụng Vụ Lời Chúa mà phải làm sao cho sốt sáng và hữu ích cho giáo dân, không phải là việc dễ dàng. Cũng thế mỗi tuần phải soạn một hay nhiều bài giảng đạt yêu cầu cũng không phải là công việc đơn giản. Có lẽ đây là một gánh nặng của các linh mục mà ít người giáo dân  ý thức và cảm thông. Nhưng về phía các linh mục có lẽ các cha cũng nên tự hỏi: Có công việc nào mà mình có thể và nên giao cho giáo dân làm không, để mình có nhiều thời gian hơn cho NHỮNG ƯU TIÊN HÀNG ĐẦU trong mục vụ? Nếu giáo dân thông cảm hơn với những khó khăn của linh mục và đồng thời các linh mục cũng biết san sẻ một số công việc cho giáo dân, thì mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn và các buổi Phụng Vụ Lời Chúa và bài giảng sẽ chất lượng và bổ ích hơn cho người tham dự và  lắng nghe với lòng khao khát.

          Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

          Garden Grove (CA/USA) ngày 12.11.2006

…………………….

Ghi chú:

(1) Hiến Chế Phụng Vụ Thánh, số 2,

(2) Kinh Dâng lễ Chúa Nhật thứ 9 sau lễ Hiện Xuống.

(3) Xem Dt  13,14.

(4) Xem Ep 2,21-22.

(5) Xem Ep 4,13.

(6) Xem Is 11,12.

(7) Xem Ga 11,52.

(8) Xem Ga 10,16

(9) Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Tông Huấn Loan Báo Tin Mừng, 43.

(10) Xem Bản đúc kết thường huấn linh mục của giáo phận X., tháng 10.2003.

VIỆC GIẢNG DẬY VÀ HỌC HỎI GIÁO LÝ

LÀ ĐƯỜNG LỐI TRUYỀN GIÁO KHÔNG ĐƯỢC XEM NHẸ

 

VÀO ĐỀ

Những ai quan tâm đến sự tồn vong và phát triển của Giáo Hội Việt Nam không thể không vui mừng khi biết rằng mới đây Đại Hội Giáo Lý Toàn Quốc lần thứ nhất (chắc tính từ 1975!) đã được tổ chức tại Nha Trang. Đúng ra Đại Hội này đã phải được tổ chức từ lâu, vì chưng, khách quan mà nói, thì không có gì quan trọng cho sự tồn vong và phát triển của Giáo Hội cho bằng việc giảng dậy và học hỏi Giáo lý.    

Trong bài này tôi sẽ đề cập đến việc giảng dậy và học hỏi Giáo lý như một Đường Lối Truyền Giáo mà Giáo Hội Việt Nam không được xem nhẹ, nếu chúng ta không muốn Giáo Hội mai một và có hàng giáo dân dốt nát về Giáo Lý, Thánh Kinh, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Và tôi sẽ nêu lên một số việc mà tôi cho là quan trọng và cấp bách liên quan tới mục vụ huấn giáo mà Giáo Hội Việt Nam cần làm, để mọi người, nhất là những người có trách nhiệm lớn trong Giáo Hội, cùng nhau suy nghĩ và tìm cách thực hiện.

TRÌNH BÀY

I. GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI VỀ VIỆC GIẢNG DẬY VÀ HỌC HỎI GIÁO LÝ VÀ VIỆC HUẤN LUYỆN GIẢNG VIÊN GIÁO LÝ

1.1 Của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI về việc giảng dậy và học hỏi giáo lý.

“Một cách truyền giáo (loan báo Tin Mừng) không thể bị xem nhẹ là việc giảng dậy và học hỏi giáo lý. Trí khôn, nhất là của trẻ em và người trẻ, cần được học hỏi – thông qua việc giảng dạy và học hỏi một cách có hệ thống – những giáo huấn căn bản là nội dung sống động của chân lý mà Thiên Chúa đã muốn đem đến cho chúng ta, và Giáo Hội đã diễn tả một cách phong phú trong dòng lịch sử lâu dài. Không ai chối cãi được rằng việc giảng dậy và học hỏi này cần được tổ chức bằng những hình thái cụ thể của đời sống Kitô hữu và không chỉ ở trong ý niệm mà thôi. Thật ra nỗ lực truyền giáo sẽ được hưởng lợi rất nhiều – trong các lớp giáo lý ở nhà thờ, hay ở trường học (những nơi có thể thực hiện được) và trong mọi trường hợp là ở trong gia đình người Kitô hữu – nếu những người dạy giáo lý có được những bản văn thích hợp và được cập nhật với sự khôn ngoan và chuyên môn, dưới quyền giảng dạy của các Giám Mục. Các phương pháp phải được thích nghi với lứa tuổi, nền văn hóa và thái độ của những người liên hệ. Các phương pháp luôn phải tìm cách ghi sâu vào trí nhớ, trí hiểu và tâm hồn những chân lý cơ bản là những chân lý phải thâm nhập vào toàn bộ cuộc sống. Trước hết cần phải chuẩn bị cho có những nhà giáo dục tốt – giáo lý viên của giáo xứ, thày cô giáo, các người làm cha làm mẹ là những người ao ước chính họ trở nên hoàn thiện trong nghệ thuật cao trọng này – là điều hết sức cần thiết và đòi hỏi phải có học hỏi về tôn giáo. Hơn nữa không được xem thường bất kỳ phương pháp huấn luyện trẻ thơ  nào, nhất là trong hoàn cảnh hiện nay là lúc việc giảng dậy giáo lý đã trở nên cấp bách, dưới hình thái các lớp giáo lý, cho rất nhiều người trẻ và người trưởng thành, là những người một khi được tác động bởi ơn thánh, sẽ dần dần khám phá ra dung mạo của Chúa Kitô và cảm thấy nhu cầu phải hiến thân cho Người” (1).

 

1.2 Của Công  Đồng Vatican II về việc huấn luyện giảng viên giáo lý.

Cũng thế, có một đạo binh thực sự đáng khen và rất đáng thưởng công nhờ việc truyền giáo nơi muôn dân, đó là đạo binh các giảng viên giáo lý nam cũng như nữ; là những người đã thấm nhuần tinh thần tông đồ, họ vất vả rất nhiều để mang lại sự trợ giúp đặc biệt và hoàn toàn cần thiết cho việc bành trướng đức tin và Giáo Hội.

“Trong thời đại chúng ta, chức vụ của các giảng viên giáo lý rất quan trọng vì số giáo sĩ ít oi không đủ để rao giảng Phúc Âm cho quần chúng quá đông đúc cũng như để thi hành mục vụ. Vì thế, việc huấn luyện những giảng viên này phải được kiện toàn và thích nghi với tiến bộ văn hóa, để như những cộng tác viên đắc lực của chức linh mục, họ có thể hoàn thành đến mức tối đa nhiệm vụ của họ, nhiệm vụ đang đặt nặng trên vai họ những trọng trách mới mẻ và rộng lớn hơn.

“Bởi vậy phải tăng thêm nhiều trường học thuộc giáo phận và miền, để các giảng viên giáo lý tương lai vừa được học hỏi về giáo lý công giáo, nhất là về môn Thánh Kinh và Phụng Vụ, vừa được học hỏi về phương pháp dạy Giáo lý và thực hành mục vụ, lại được tự luyện theo luân lý Kitô giáo (2) trong khi không ngừng cố gắng trau dồi đời sống đạo đức và thánh thiện. Ngoài ra còn phải có những buổi hội thảo hay những khóa học tập định kỳ, để các giảng viên giáo lý được cải tiến trong những môn học hay nghệ thuật hữu ích cho thừa tác vụ cũng như để nuôi dưỡng và củng cố đời sống thiêng liêng của mình nữa. Thêm vào đó, đối với những ai hoàn toàn tận hiến cho công cuộc này, phải cung cấp cho họ một khoản thù lao cân xứng để họ có một mức sống xứng đáng và được bảo đảm về mặt xã hội (3).

“Ước mong rằng Thánh Bộ Truyền Bá Ðức Tin đặc biệt trợ cấp cách thích đáng cho công cuộc đào tạo và nâng đỡ các giảng viên giáo lý. Nếu thấy cần và thích hợp, phải thành lập một Tổ Chức giúp các giảng viên này.

“Ngoài ra các Giáo Hội cũng nên biết ơn nhìn nhận công việc quảng đại của các giảng viên giáo lý trợ tá mà Giáo Hội đang cần họ giúp đỡ. Chính các giảng viên giáo lý chủ sự các buổi đọc kinh chung trong cộng đoàn và giảng dạy giáo lý. Cũng phải đặc biệt lo cho họ được huấn luyện về giáo lý và đường thiêng liêng. Hơn nữa, ước mong rằng nơi nào thấy thuận lợi, nên công khai cử hành một nghi lễ phụng vụ để ủy thác sứ mệnh pháp lý (4) cho các giảng viên giáo lý đã được huấn luyện đầy đủ, ngõ hầu họ được thêm uy tín với dân chúng mà phục vụ đức tin” (5).

 

II. MỐI QUAN TÂM CỦA GIÁO HỘI VIỆT NAM VỀ VIỆC GIẢNG DẠY VÀ HỌC HỎI GIÁO LÝ  VÀ VỀ VIỆC ĐÀO TẠO GIẢNG VIÊN GIÁO LÝ

2.1 Giáo Hội Việt Nam luôn quan tâm đến việc giảng dậy và học hỏi giáo lý:

Ở thành phố cũng như ở nông thôn Việt Nam, hoạt động nổi bất nhất của các giáo xứ, sau việc cử hành Các Bí Tích, là việc giảng dậy và học hỏi Giáo Lý. Sau Thánh Đường thì Phòng Giáo Lý cũng là mối quan tâm thứ hai trong kế hoạch xây cất cơ sở ở đại đa số các giáo xứ. Đó là hai sự việc nói lên sự quan tâm đến vấn đề huấn giáo của Giáo Hội Việt Nam. Nhưng hai sự kiện đó chưa thể nói hết được tất cả mối quan tâm của Giáo Hội Việt Nam về công tác mục vụ quan trọng này như chúng ta sẽ thầy ngay sau đây. 

 

2.2 Giáo Hội Việt Nam chưa quan tâm đủ đến mục vụ huấn giáo

Đi sâu vào đời sống các giáo xứ và các giáo phận chúng ta sẽ thấy rằng, trong lãnh vực giảng dậy và học hỏi giáo lý, còn rất nhiều điều Giáo Hội Việt Nam chưa làm hoặc chưa có thể làm để thực hiện những chỉ đạo của Giáo Hội về huấn giáo. Chúng ta có thể tìm thấy những bằng chứng “không thể chối cãi được” về khẳng định ấy, chẳng hạn như:

 

(1) Việc giảng dậy Giáo Lý ở các Giáo Xứ Việt Nam hiện nay

Việc giảng dậy giáo lý ở hầu hết các nơi là công việc gần như được khoán trắng cho giáo dân. Ở một số ít nơi  thì việc điều hành tổ chức mục vụ này được giao cho các nữ tu (nam tu sĩ rất ít người nên không đóng vai trò lớn trong mục vụ huấn giáo này). Thậm chí có nơi linh mục coi xứ chẳng ngó ngàng gì đến công việc hệ trọng này. Trong bản đúc kết đợt thường huấn của các linh mục của giáo phận X, về việc giảng dạy giáo lý ở các giáo xứ, ban thư ký đã ghi lại ý kiến của các linh mục như sau :

“Khi giảng dạy, thường thì không dọn bài  vì nhận thấy trình độ người giáo dân thấp, cho nên không muốn dành thời giờ dọn bài, cho đó là việc dư thừa vô ích. Có những nơi, linh mục khoán trắng cho giáo dân, mà quên rằng, linh mục chính là thầy dạy giáo lý đầu tiên” (6).

Một sự kiện khác: Nếu việc giảng dậy và học hỏi Giáo Lý có được quan tâm thì các giáo xứ cũng chỉ mới quan tâm đến các thiếu nhi và thiếu niên. Còn với thanh niên và người trưởng thành thì chưa mấy giáo xứ có chương trình và các lớp khóa/thích hợp  trừ khóa giáo lý hôn nhân cho những người trẻ sắp lập gia đình, để nâng cao và đào sâu vốn liếng sống Đạo của người giáo dân.

(2) Việc đào tạo Giáo Lý Viên cho các giáo xứ, giáo phận ở Việt Nam

Việc thu nhận và đào tạo các giáo lý viên cũng là vấn đề lớn còn bỏ ngỏ. Có một ít giáo phận đã cố gắng tổ chức chương trình đào tạo giảng viên giáo lý với các khóa. Nhưng nhiều nơi vẫn phải chấp nhận tình trạng “có sao làm vậy”. Nhiều giáo lý viên chỉ có lòng nhiệt thành mà không được đào tạo chính quy, không có đủ vốn giáo lý, sư phạm và tâm lý cần thiết. Vì thế mà việc giảng dậy và học hỏi giáo lý còn mang tính “từ chương” học sinh học thuộc lòng và thụ động. 

 

3. Uỷ Ban Giáo Lý Đức Tin toàn quốc và của các giáo phận Việt Nam

Nếu Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã thiết lập Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin toàn quốc, thì Ủy Ban này cũng mới chỉ bắt đầu hoạt động vài năm nay. Công việc thì nhiều chẳng khác chi dẫy núi Trường Sơn mà số thành viên thì đếm trên đầu ngón tay và không chuyên nghiệp. Hơn nữa tất cả các linh mục thành viên đều là những chánh phó xứ hay các giáo sư đại chủng viện bận bịu với trăm công ngàn việc của giáo xứ hay của chủng viện, nên thời gian và công sức dành cho Ủy Ban chẳng được bao nhiêu. Ở cấp toàn quốc cũng như ở cấp các giáo phận, còn thiếu những vị chuyên trách, chỉ lo một công việc là Giáo Lý của Hội Đồng Giám Mục hay của giáo phận mà thôi.

Xuống cấp các giáo phận thì chúng ta thấy không phải giáo phận nào cũng đã có Ban Giáo Lý Giáo Phận. Và lại thường có tình trạng “hữu danh vô thực” nghĩa là trên giấy tờ thì có ban có bệ đầy đủ nhưng trên thực tế thì không có người làm việc (7).

 

4. Chương trình Giáo Lý thống nhất và các thủ bản sách Giáo Lý

Ở các giáo phận Miền Bắc thì tôi không rõ, còn trong Nam thì có ba bộ Sách Giáo Lý được nhiều người biết đến và sử dụng nhiều nhất là Bộ Sách Giáo Lý của Sàigòn, bộ sách Giáo lý của Xuân Lộc và Bộ Sách Giáo lý của Nha Trang.

Việc có một Chương Trình Giáo lý thống nhất và có thủ bản thống nhất cũng là một vần đề lớn. Dĩ nhiên công việc này cũng không dễ dàng gì vì sự khác nhau và chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, giữa Miền Bắc (trên vĩ tuyến 17) và Miền Nam (dưới vĩ tuyến 17). 

 

5. Các Trung Tâm Giáo Lý và Mục Vụ của các Giáo Phận ở Việt Nam

Ở cấp toàn quốc cũng như ở cấp giáo phận chúng ta chưa có một trường hay trung tâm đào tạo Giảng Viên Giáo Lý và đảm trách về huấn giáo của Giáo Hội Việt Nam hay của giáo phận. Từ ít năm nay một số giáo phận đã có Trung Tâm Mục Vụ hay Tòa Giám Mục mới được xây dựng có thể dùng làm nơi tổ chức các khóa/đợt huấn luyện giáo dân nói chung, Giảng Viên Giáo Lý nói riêng; nhưng cũng mới ở bước đầu, còn thiếu nhân sự và tài chánh, thiếu kế hoạch và chương trình. 

THAY LỜI KẾT

            Chúng ta có thể nói rằng Giáo Hội Việt Nam tuy có quan tâm đến việc giảng dậy và học hỏi Giáo Lý và đến việc đào tạo Giảng Viên Giáo Lý, nhưng quả thật là Giáo Hội Việt Nam chưa quan tâm đủ đến mục vụ huấn giáo quan trọng này, vì còn rất nhiều việc cần làm như vừa trình bày ở trên. Theo quan điểm cá nhân tôi thì vấn đề phải giải quyết trước hết là não trạng và cách làm việc của lãnh đạo thượng tầng của Giáo Hội Việt Nam từ cấp toàn quốc đến cấp giáo phận. Nếu Giáo Lý là vấn đề quan trọng bậc nhất thì vốn đầu tư vào lãnh vực mục vụ này cũng phải đứng hàng đầu trong các đầu tư của Giáo Hội hay giáo phận. Đầu tư từ con người, cho đến cơ sở vật chất và phương tiện làm việc. Bên lề Hội Nghị Thần Học Thường Niên từ 22 đến 26 tháng 4 vừa qua của các nhà thần học Ấn Độ, với chủ đề “GIÁO DÂN TRONG GIÁO HỘI: CĂN TÍNH VÀ SỨ MẠNG TẠI ẤN ĐỘ NGÀY NAY”, bà Valerie D’Souza, một nhà thần học giáo dân, đã nói với Thông Tấn Xã Công Giáo Á Châu rằng: “Giáo hội cần phải ưu tiên đầu tư vào việc đào tạo giáo dân. Trong khi Giáo hội chi những khoản khổng lồ cho việc đào tạo các linh mục và tu sĩ, thì Giáo hội không chịu tốn kém gì cho giáo dân cả.” Một thành phần giáo dân xứng đáng được Giáo Hội ưu tiên đầu tư là Các Giảng Viên Giáo Lý với các Trung Tâm Đào Tạo Giảng Viên Giáo Lý và hoạt động của các Ban Giáo Lý giáo phận hay toàn quốc.

        Ưóc mong các Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục và các linh mục Việt Nam đồng tình với quan điểm trên của bà Valerie D’Souza và tìm cách thực hiện điều ấy ngay từ bây giờ, để củng cố và phát triển Cộng Đồng Dân Chúa tại Việt Nam là Cộng Đồng đã được xây dựng bằng Xương Máu của các Thánh Tử Đạo Việt Nam mà chúng ta mừng kính hôm nay.

 

 

          Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

          Ontario (CA.USA) ngày 19.11.2006

          Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam.

…………………….

Ghi chú:

(1) Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Tông Huấn Loan Báo Tin Mừng, số 44.

(2) Xem Gioan XXIII, Tđ. Princeps Pastorum, 28-11-1959 : AAS 51 (1959), trang 855.

(3) Ở đây nói những người vẫn được gọi là “catéchistes à plein temps”, “full time catechists” (những thầy giảng, kẻ giảng).

(4) Sứ mệnh pháp lý theo giáo luật là quyền hành do Giáo Quyền có thẩm quyền ban cho, như quyền dạy dỗ, quyền cử hành các nghi thức để phục vụ Giáo Hội.

(5) Công Đồng Vaticanô II, Sắc Lệnh Truyền Giáo, số 17.

(6) Xem Bản đúc kết thường huấn linh mục của giáo phận X., tháng 10.2003.

(7) Xin nêu lên trường hợp của giáo phận Sàigòn, một giáo phận lớn và nhiều nhân sự:  Thời Đức Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình, (kể từ 1975 trở về sau) trên danh nghĩa thì có một linh mục có chức vụ Trưởng Ban Huấn Giáo giáo phận. Nhưng vị linh mục này chẳng có cộng tác viên để lập thành Ban Huấn Giáo và  thật ra ngài cũng chẳng làm gì nhiều, một phần vì hoàn cảnh khó khăn lúc bấy giờ, một phần vì cá tính của ngài. Trong khi đó có một nhóm linh mục, tu sĩ và  giáo dân cảm thấy nhu cầu phải có bộ Giáo lý thích hợp với hoàn cảnh mới thay thế cho cuốn Giáo Lý Tân Định (dưới dạng hỏi thưa) nên tình nguyện làm việc chung với nhau, soạn ra bộ Giáo Lý Khai Tâm, Rước Lễ và Thêm Sức, được đấng bản quyền chấp nhận. Nhưng sau khi Đức Tổng Bình qua đời, thì Đức Giám Quản lại giao việc soạn Giáo Lý cho một linh mục không ở trong nhóm này và nhóm này cũng không được mời hợp tác. Còn từ ngày Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn nhậm chức Tổng Giám Mục Sàigòn cho đến nay thấm thoát đã hơn 8 năm rồi, Ban Giáo Lý vẫn chưa được thành lập. Hình như vì Tòa Tổng Giám Mục chưa tìm được một linh mục để giao trách nhiệm Trưởng Ban (!).

TRUYỀN GIÁO QUA VIỆC CỬ HÀNH

VÀ ĐÓN NHẬN CÁC BÍ TÍCH & Á BÍ TÍCH

 

VÀO ĐỀ

Đời sống của người Công Giáo thì ngoài những chân lý phải tin, còn có những việc phải thực hiện như sống bác ái, yêu thương và những bí tích phải đón nhận. Khi đón nhận các bí tích là như chúng ta mở rộng tâm hồn đón nhận hồng ân Chúa.    

Vì thế mà việc cử hành và đón nhận các bí tích và á bí tích cũng được Giáo Hội coi la một Đường Lối Truyền Giáo.

TRÌNH BÀY

I. GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI VỀ ĐƯỜNG LỐI TRUYỀN GIÁO QUA VIỆC CỬ HÀNH VÀ ĐÓN NHẬN CÁC BÍ TÍCH VÀ Á BÍ TÍCH

1.1 Giáo lý cơ bản về các Bí Tích và Á Bí Tích nói chung.

(1) Các Bí tích là những dấu chỉ khả giác và hữu hiệu của ân sủng, do Đức Ki-tô thiết lập và ủy thác cho Hội Thánh; qua các Bí Tích, sự sống thần linh được trao ban cho chúng ta. Có bảy Bí Tích: Rửa Tội, Thêm Sức, Thánh Thể, Thống Hối, Xức Dầu Bệnh Nhân, Truyền Chức Thánh và Hôn Phối (1).

(2) Các Á Bí Tích là những dấu chỉ thánh thiêng do Hội Thánh thiết lập để thánh hóa một số hoàn cảnh trong cuộc sống. Các Á Bí Tích gồm một lời cầu nguyện, kèm theo là dấu thánh giá và những dấu chỉ khác. Trong số các Á Bí Tích, quan trọng nhất là các phép lành. Các phép lành này là một lời ca ngợi Thiên Chúa và một lời khẩn nguyện để kêu xin những hồng ân của Thiên Chúa; cũng có những việc thánh hiến con người cũng như các đồ vật được dùng vào việc thờ phượng Thiên Chúa (2).

 

1.2 Giáo huấn của Công Đồng Va-ti-can II.

(1) Trong số 6 của Hiến Chế Phụng Vụ Thánh của Công Đồng Va-ti-can II, có đoạn sau đây nói về công cuộc cứu chuộc do Giáo Hội thực hiện trong Phụng Vụ và Bí Tích để tiếp nối công việc của Chúa Ki-tô:

Vì vậy, như Chúa Ki-tô được Chúa Cha sai đi thế nào, thì chính Người cũng sai các Tông Ðồ đầy tràn Thánh Thần đi như vậy, không những để trong khi rao giảng Phúc Âm cho mọi thụ tạo (3) các Ngài loan báo Con Thiên Chúa đã dùng cái chết và sự sống lại của Người để giải thoát chúng ta khỏi quyền lực Sa-tan (4) và sự chết, đồng thời dẫn đưa chúng ta vào nước Chúa Cha, nhưng còn để các Ngài thực thi công cuộc cứu chuộc mà các Ngài đã loan báo, nhờ Hiến Tế và các Bí Tích, trung tâm điểm của toàn thể đời sống phụng vụ. Như vậy, nhờ phép Rửa Tội, con người được tháp nhập vào mầu nhiệm phục sinh của Chúa Ki-tô: cùng chết, cùng chịu mai táng, cùng sống lại (5), được lãnh nhận tinh thần dưỡng tử, “do đó chúng ta xưng hô Chúa là Áp-ba, Cha” (Rm 8,15) và như thế được trở nên kẻ phụng thờ đích thực mà Chúa Cha tìm kiếm (6). Cũng thế, mỗi khi ăn tiệc của Chúa, họ loan truyền việc Chúa chịu chết cho tới khi Chúa lại đến (7). Do đó, chính trong ngày Hiện Xuống, ngày Giáo Hội xuất hiện nơi trần gian, “những người suy phục lời giảng” của Phê-rô, “đều chịu phép Rửa Tội”. Họ “kiên tâm theo lời giáo huấn của Tông Ðồ, thông công trong việc bẻ bánh và cầu nguyện… ngợi khen Thiên Chúa, lại được lòng toàn dân” (Cv 2,41-42; 47). Kể từ đấy, Giáo Hội không bao giờ bỏ việc cùng nhau qui tụ để cử hành mầu nhiệm phục sinh: bằng việc đọc “những lời chỉ về Người trong bộ Thánh Kinh” (Lc 24,27), bằng việc cử hành Lễ Tạ Ơn trong đó hiện tại hóa “sự vinh thắng và khải hoàn nhờ cái chết của Người” (8), đồng thời “cảm tạ Thiên Chúa về ân điển khôn tả của Ngài” (2 Cr 9,15) trong Chúa Giê-su Ki-tô, “để ca tụng sự vinh hiển của Ngài” (Ep 1,12) nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần.

(2) Cũng trong Hiến Chế Phụng Vụ Thánh nói trên, các số 59, 60 và 61 nói về Bản Chất và Phụng Vụ các Bí Tích khác và các Á Bí Tích như sau:

         * Bản tính các bí tích: “Các Bí Tích có mục đích thánh hóa con người, xây dựng thân thể Chúa Ki-tô, và sau cùng là thờ phương Thiên Chúa. Tuy nhiên, là những dấu chỉ, các Bí Tích còn giữ vai trò giáo huấn nữa. Không những các Bí Tích giả thiết phải có đức tin, mà còn dùng lời nói và sự vật để nuôi dưỡng, củng cố và diễn tả đức tin đó. Do đó, được gọi là các Bí Tích Ðức Tin. Thực ra các Bí Tích ban ân sủng, nhưng việc cử hành các Bí Tích còn là việc chuẩn bị các tín hữu đón nhận ân sủng đó một cách hữu hiệu để thờ phượng Chúa đúng cách và để thực thi đức bác ái.”

“Do đó, việc rất quan trọng là làm sao cho các tín hữu dễ dàng hiểu được những dấu chỉ của các Bí Tích, và hết sức siêng năng lui tới đón nhận các Bí Tích, là những Bí Tích được lập ra để nuôi dưỡng đời sống Ki-tô hữu.” (số 59).

* Các Á Bí Tích: “Ngoài ra, Giáo Hội Mẹ Thánh còn thiết lập những Á Bí Tích. Ðó là những dấu chỉ thánh, vì một phần nào phỏng theo những Bí Tích, nhờ đó biểu trưng những hậu quả – nhất là những hậu quả thiêng liêng – và thông ban hậu quả đó nhờ sự bầu cử của Giáo Hội. Nhờ các Á Bí Tích ấy, con người được chuẩn bị lãnh nhận hậu quả chính yếu của các Bí Tích và thánh hóa những hoàn cảnh khác biệt trong cuộc sống.” (số 60).

           * Phụng vụ các Bí Tích và Á Bí Tích: “Vì thế, Phụng Vụ các Bí Tích và Á Bí Tích mang lại những hiệu quả này là: đối với các tín hữu đã được chuẩn bị chu đáo, thì hầu hết mọi biến cố trong đời sống sẽ được thánh hóa nhờ thánh ân xuất phát từ mầu nhiệm phục sinh của Chúa Kitô chịu thương khó, chịu chết và sống lại, vì Người là nguồn mạch ban năng lực cho tất cả các Bí Tích và Á Bí Tích. Hầu như không có việc xử dụng của cải vật chất một cách chính đáng nào lại không có thể đưa tới mục đích thánh hóa con người và ca khen Thiên Chúa.” (số 61).

1.3 Giáo huấn của Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI.

“Không ai nhấn mạnh đủ là việc loan báo Tin Mừng không chỉ cốt yếu ở việc giảng dậy giáo lý. Vì loan báo Tin Mừng phải đụng đến đời sống: đời sống tự nhiên sẽ mang một ý nghĩa mới nhờ vào các viễn tượng mà việc loan báo Tin Mừng mở ra cho thấy; và đời sống siêu nhiên không chỉ là không có tội mà còn là sự thanh tẩy và nâng cao đời sống tự nhiên lên nữa.

“Đời sống siêu nhiên này tìm thấy cách diễn tả sống động trong bẩy bí tích và trong sự tỏa sáng tuyệt vời của ơn thánh và sự thánh thiện mà các bí tích ấy sở hữu.

“Vì thế việc loan báo Tin Mừng (hay Phúc âm hóa) thể hiện hết khả năng của mình khi việc ấy thực hiện mối tương quan mật thiết, hoặc mối  hiệp thông liên lỉ và không hề bị sứt mẻ, giữa Lời Chúa và các Bí Tích. Trong một nghĩa nào đó thì khi đối nghịch việc loan báo Tin Mừng với việc đón nhận các Bí Tích – như người ta thường làm – là người ta phạm một sai lầm.  Quả đúng là việc ban phát Bí Tích mà thiếu sự hỗ trợ vững chắc của sự hiểu biết về giáo lý liên quan tới các Bí Tích ấy và sự thiếu trình độ tổng quát về giáo lý có thể làm cho các Bí Tích mất đi tính hiệu quả sâu rộng. Vai trò của loan báo Tin Mừng cốt yếu là giáo dục Đức Tin cho dân Chúa bằng cách hướng dẫn mỗi người Ki-tô hữu sống các Bí Tích như là Bí Tích của Lòng Tin, mà không đón nhận các Bí Tích một cách thụ động hay một cách miễn cưỡng.” (9).

 

II. GIÁO HỘI VIỆT NAM VỚI VIỆC CỬ HÀNH VÀ ĐÓN NHẬN CÁC BÍ TÍCH VÀ Á BÍ TÍCH

Liên quan tới việc cử hành và đón nhận các Bí Tích và Á Bí Tích, có thế nói Giáo Hội Việt Nam có điểm mạnh và điểm yếu riêng của mình.

 

2.1 Điểm mạnh của Giáo Hội Việt Nam

Là các Bí Tích và Á Bí Tích rất được đề cao trong trong đời sống đạo của người giáo dân, thậm chỉ việc siêng năng “chịu” các Bí Tích và “nhận” các Á Bí Tích đã nghiễm nhiên trở thành tiêu chuẩn phân biệt người đạo đức, sốt sáng với người khô khan, nguội lạnh.

 

2.2 Điểm yếu của Giáo Hội Việt Nam

Mặc dầu nhiều người Công Giáo Việt Nam quan niệm cách sai lầm rằng chỉ phải học giáo lý để “chịu” các Bí Tích, thì trình độ hiểu biết của đại đa số giáo dân về các Bí Tích và Á Bí Tích còn rất hạn chế khiến việc “chịu” các Bí Tích  và “nhận” các Á Bí Tích trở thành máy móc và hình thức.

 

THAY LỜI KẾT

Cùng với đà phát phiển đáng mừng về nhiều mặt của xã hội và con người Việt Nam hiện nay, ước chi về các mặt riêng của mình, người Công Giáo Việt Nam cũng có những phát triển rõ rệt như trình độ hiểu biết về Giáo Lý, Thánh Kinh, Thần Học, Phụng Vụ và Bí Tích của giáo dân được nâng cao và đào sâu; sự dấn thân phục vụ con người và xã hội của mọi thành phần Dân Chúa được đẩy mạnh.

           

          Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

          Garden Grove (CA.USA)  ngày 13.12.2006

…………………….

Ghi chú:

(1) Toát yếu Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo số 224; Xem GLHTCG số 1113-1131.

(2) Toát yếu Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo số 351; Xem GLHTCG số  1667-1672, 1677-1678.

(3) Xem Mc 16,15.

(4) Xem Cv 26,18.

(5) Xem Rm 6,4 ; Ep 2,6 ; Cl 3,1 ; 2 Tm 2,11.

(6) Xem Ga 4,23.

(7) Xem 1 Cr 11,26.

(8) Công Ðồng Trentô, khóa 13, 11-10-1551, Sắc lệnh De SS. Euch., ch. 5: Concilium Tridentinum, Diariorum Actorum, Epistolarum, Tractatuum nova collectio, x.b. Soc. Goerresiana, bộ VII. Actorum phần IV, Friburgi Brisgoviae 1961, trg 202.

(9) Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI, Tông Huấn “Loan Báo Tin Mừng”, số 47.

LÒNG ĐẠO ĐỨC BÌNH DÂN

CŨNG LÀ MỘT ĐƯỜNG LỐI TRUYỀN GIÁO

 

 

VÀO ĐỀ

Trong đời sống người Công Giáo có hai hình thái cũng là hai lãnh vực biểu lộ biểu lộ lòng tin và phụng thờ Thiên Chúa: trong cử hành Phụng Tự chính thức của Giáo Hội và trong thực hành lòng đạo đức bình dân. Cả hai hình thái hay hai lãnh vực trên đều quan trọng và cần thiết, nên cả hai đều cần được hiểu rõ và thực hành đến nơi đến chốn.

Trong loạt bài TRUYỀN GIÁO TẠI VIỆT NAM, chúng ta đã có hai bài 19 & 21 đề cập đến Phụng Vụ Lời Chúa và bài giảng Chúa Nhật và việc cử hành các Bí Tích và Á Bí Tích như là đường lối Truyền Giáo chính thống của Giáo Hội Công Giáo. Bài 22 này sẽ nói về giá trị của “lòng đạo đức bình dân” như là một đường lối khác của công cuộc loan báo Tin Mừng.    

TRÌNH BÀY

I. TÌM HIỂU VỀ LÒNG ĐẠO ĐỨC BÌNH DÂN.

1.1 Mối tương quan giữa đời sống cầu nguyện và lòng đạo đức bình dân của người Ki-tô hữu.

Theo Công Đồng Va-ti-ca-nô II thì đời sống cầu nguyện của Giáo Hội tập trung vào mọi cử hành Phụng Vụ, vì đó là “hành động của Đức Ki-tô linh mục và của thân thể Người là Giáo Hội”, không một hình thức phụng tự nào khác có thể thay thế được, “mọi việc cử hành phụng vụ đều là hành vi chí thánh và không một hành vi nào khác của Giáo Hội có hiệu lực bằng, xét cả về danh hiệu lẫn đẳng cấp” (Hiến Chế Phụng Vụ Thánh, số 7) Tuy nhiên các nghị phụ Công Đồng cũng công nhận rằng: “đời sống thiêng liêng không chỉ giới hạn trong việc tham dự Phụng Vụ Thánh. Bởi vì người Ki-tô hữu được mời gọi cầu nguyện chung, nhưng cũng phải vào phòng riêng âm thầm cầu nguyện cùng Chúa Cha, hơn nữa phải cầu nguyện không ngừng như lời vị Sứ đồ đã dạy” (Hiến Chế Phụng Vụ Thánh, số 12). Những hình thức cầu nguyện riêng tư đó được gọi là: lòng đạo đức bình dân (1).

 

1.2 Thế nào là Lòng Đạo Đức Bình Dân?

Lòng đạo đức bình dân không phải là một hình thức cầu nguyện dành cho dân dã thuộc giới bình dân, nhưng là một phương thức cầu nguyện dành cho hết mọi tín hữu, dù tín hữu đó là một nhà bác học hay nông dân, là giáo hoàng hay người giáo dân bình thường.

Gọi là đạo đức bình dân để phân biệt với Phụng Vụ Thánh là “sinh hoạt tột đỉnh mà Giáo Hội hướng tới” và là “nguồn mạch tuôn trào mọi năng lực của Giáo Hội” (Hiến Chế Phụng Vụ Thánh, số 10).

Phụng Vụ Thánh bao gồm việc cử hành Bí Tích Thánh Thể, các bí tích và các Á Bí tích, các cử hành khác của Giáo Hội như đọc kinh theo Các Giờ Kinh Phụng Vụ, những nghi thức mai táng Ki-tô hữu, nghi thức cung hiến thánh đường hay nghi thức tuyên khấn dòng dành cho các tu sĩ nam nữ. Chính Đức Ki-tô hành động trong Phụng Vụ, cho nên hành động của Giáo Hội như là Thân thể của Người trong Phụng Vụ chính là tham gia vào hành vi cứu rỗi của Chúa Ki-tô thượng tế (x. Hiến Chế Phụng Vụ Thánh, số 7) (2).

1.3 Những hình thái thông thường của Lòng Đạo Đức Bình Dân.

Lòng đạo đức bình dân là phương cách cầu nguyện nhằm “biểu lộ đức tin nhờ những yếu tố văn hóa của môi trường cụ thể, qua việc diễn tả và khơi gợi một cách mạnh mẽ và hữu hiệu tình cảm của những ai cùng sống trong môi trường đó”, bởi đó lòng đạo đức bình dân được diễn tả qua nhiều hình thức đa dạng và biến đổi hoặc nẩy sinh thêm tùy theo suy tư thần học hay hoàn cảnh chính trị, xã hội của từng thời đại nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống thiêng liêng của người tín hữu. Ít người biết đến nguồn gốc lòng đạo đức bình dân mang tính cổ xưa. Có thể ghi nhận sự hiện hữu của lòng đạo đức bình dân trong thế hệ Ki-tô tiên khởi: “những thứ này trước hết phát xuất từ truyền thống Do Thái; hơn nữa phù hợp với gương sáng của Chúa Giê-su và của Thánh Phao-lô, những sáng kiến này của các Ki-tô hữu tiên khởi khơi nguồn cảm hứng từ những lời khuyên của các Ngài là phải dâng lời cầu nguyện liên lỉ (x. Lc 18,1; Rm 12,12; 1 Tx 5,17) lên Thiên Chúa để đạt được hoặc khởi sự mọi điều trong việc tạ ơn (x. 1 Cr 10, 31; 1 Tx 2, 13; Cl 3,17). Người Do Thái đạo đức bắt đầu ngày sống của mình bằng việc ngợi khen và cảm tạ Thiên Chúa, và họ làm mọi việc trong tinh thần đó suốt cả ngày. Như thế mọi thời điểm, dù vui dù buồn, đều là cơ hội để dâng lên một lời kinh ca ngợi, cầu xin hay tạ lỗi. Các sách Tin Mừng và những bản văn khác trong Tân Ước đều chứa đựng những lời khẩn nài dâng lên Chúa Giê-su; và khi những lời ấy được tín hữu lập đi lập lại bên ngoài bối cảnh Phụng Vụ, thì đã ít nhiều trở thành các kinh nguyện tắt, nhờ đó họ bày tỏ lòng sùng mộ của họ tập trung vào Chúa Ki-tô. Ta có thể nghĩ rằng các tín hữu đã có thói quen lập lại những cụm từ trong Kinh Thánh như: ‘Lạy Chúa Giê-su, con vua Đa-vít, xin thương xót con’ (Lc 18,38); ‘Lạy Chúa Giê-su, nếu Chúa muốn, Chúa có thể chữa lành con’ (Mt 8,1); ‘Lạy Chúa Giê-su, xin nhớ đến con khi Chúa vào Nước Chúa’ (Lc 23,42); ‘Lạy Chúa và là Thiên Chúa của con’ (Ga 20,28); ‘Lạy Chúa Giê-su, xin đón nhận linh hồn con’ (Cv 7,59). Hình thức đạo đức này sẽ trở nên khuôn mẫu, từ đó triển khai nên vô vàn lời kinh mà tín hữu ở mọi thời dâng lên Đức Ki-tô”.

Một ít hình thức lòng đạo đức bình dân như kinh Mân Côi và áo Đức Bà được thích nghi từ những thực hành trong dòng tu. Thí dụ như một lời kinh ca tụng Đức Ma-ri-a được trước tác từ trình thuật Truyền Tin của Lu-ca được khám phá trên các mảnh gốm vào thế kỷ III tại một di tích lịch sử của tu viện Coptic: “Kính mừng Ma-ri-a, đầy ơn phúc, Chúa ở cùng bà, cả Chúa Thánh Thần nữa. Thầy cả của bà mặc áo công chính. Những kẻ tôn kính bà sẽ vui mừng hớn hở. Lạy Chúa, vì Đa-vít tôi tớ Chúa, xin Chúa hãy cứu vớt dân Người; hãy chúc phúc phần dân Chúa chọn. Kính mừng Đấng đồng trinh vinh hiển, Ma-ri-a đầy phúc. Chúa ở cùng bà. Bà có phúc hơn mọi người nữ. Và phúc thay hoa quả lòng bà; vì Đấng bà thụ thai chính là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng cứu chuộc linh hồn chúng con”.

 Một số thực hành lòng đạo đức bình dân nhằm đến việc sùng kính Thánh Tâm Chúa Giê-su và Ảnh tượng hay Ảnh Làm Phép Lạ, được xem như có nguồn gốc trong những mặc khải tư, có nghĩa là qua một số thị kiến hay sứ điệp được trao ban cho một người tín hữu.

Vì lòng đạo đức bình dân được nẩy sinh nhằm đáp ứng những nhu cầu thiêng liêng của người tín hữu trong những nền văn hóa khác nhau, nên lòng đạo đức bình dân mang nhiều sắc thái đa dạng thay đổi theo thời gian và tùy theo nền văn hóa. Khi nói về sự đa dạng trong việc sùng kính Đức Ma-ri-a, Đức Phao-lô VI đã giải thích rằng: Giáo hội “không tự trói mình với bất cứ một sự diễn tả riêng tư nào của một thời kỳ văn hóa cá thể hay là với những ý niệm nhân loại học riêng biệt làm nền tảng cho những sự diễn tả ấy. Giáo Hội hiểu rằng một sự diễn tả tôn giáo bên ngoài, tuy tự nó là hoàn toàn đúng, nhưng có thể ít thích hợp hơn cho những người nam và người nữ của những thời đại và của những nền văn hóa khác nhau”.

Các hình thức của Lòng đạo đức bình dân qui chiếu vào những đối tượng sau đây:

  • Chúa Giê-su: lòng đạo đức bình dân đặc biệt tập trung vào khuôn mặt của Đức Ki-tô với các hình thức: Tôn sùng Trái Tim Chúa, Kiệu và chầu Thánh Thể, Chặng Đàng Thánh Giá, việc diễn tả Biến Cố Nhập Thể, Cuộc Thương Khó và Sự Phục Sinh Chúa, v.v…
  • Đức Mẹ Ma-ri-a: việc tôn sùng Đức Ma-ri-a rất đa dạng như: dành riêng ngày thứ bảy để kính nhớ Đức Mẹ; Tuần Tam Nhật, Thất Nhật, Cửu Nhật; tháng Đức Mẹ với các hình thức tôn sùng phong phú, các kinh về Đức Mẹ đặc biệt như: kinh Truyền Tin, kinh lạy Nữ Vương Thiên Đàng, kinh Mân Côi, các Kinh cầu Đức Mẹ, ở Việt Nam có kinh “Đức Mẹ La Vang”; việc tận hiến cho Đức Mẹ; việc mang áo Ca-mê-lô và những áo khác; việc mang trong mình hoặc chưng bày trong nhà các ảnh tượng Đức Mẹ, các trung tâm hành hương về Đức Mẹ, v.v…
  • Các Thánh được trình bày đặc biệt qua các kinh, như kinh cầu, ở Việt nam có kinh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, những cuộc rước ảnh các Thánh, những Tuần Tam Nhật, Thất Nhật, Cửu Nhật, việc tôn kính ảnh tượng, v.v…
  • Việc chuyển cầu cho những người đã qua đời, đặc biệt ở Việt Nam có kinh giỗ cầu cho người thân đã qua đời nhân dịp 30 ngày, một năm, hay hàng năm (3).

 

II. GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI VỀ LÒNG ĐẠO ĐỨC BÌNH DÂN 

2.1 Giáo huấn của Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI:

“Ở đây chúng ta đụng chạm đến một khía cạnh của công cuộc Loan Báo Tin Mừng mà chúng ta không thể không quan tâm. Chúng tôi muốn nói đến điều mà ngày nay thường được gọi là LÒNG ĐẠO ĐỨC BÌNH DÂN (popular religiosity).

Lòng đạo đức bình dân tìm ra những cách biểu lộ đặc biệt của việc tìm kiếm Thiên Chúa và của lòng tin, cả trong những vùng mà Giáo Hội đã được thành lập hàng trăm năm, cả trong những vùng mà Giáo Hội đang được hình thành. Trong một thời gian dài, những cách diễn tả này đã được xem là thiếu tinh tuyền và đôi khi bị khinh thường, nhưng ngày nay chúng đã được tái khám phá ở khắp mọi nơi. Trong Thượng Hội Đồng Các Giám Mục mới đây các Giám mục đã nghiên cứu ý nghĩa của những cách diễn tả lòng đạo đức bình dân với tinh thần thực tế và lòng nhiệt thành mục vụ rất đáng kể.

Hẳn nhiên là lòng đạo đức bình dân có giới hạn của nó. Lòng đạo đức bình dân thường bị xâm phập bởi những méo mó về tôn giáo và mê tín dị đoan nữa. Thường nó dừng lại ở mức độ của hình thái phụng tự không phải do lòng tin. Nó cũng có thể đưa đến chỗ phát sinh những giáo phái và làm nguy hại cho cộng đoàn Giáo Hội đích thực.

“Nhưng nếu được hướng dẫn cách đúng đắn, nhất là bằng khoa sư phạm về Truyền Giáo, lòng đạo đức bình dân sẽ có nhiều giá trị. Nó diển tả sự khao khát Thiên Chúa mà chỉ những người đơn sơ và nghèo khó mới có thể biết đến. Nó làm cho người ta có khả năng sống quảng đại và hy sinh đến độ hy sinh anh dũng khi liên quan tới việc biểu lộ lòng tin. Nó bao hàm một ý thức sắc bén về những thuộc tính của Thiên Chúa như tình phụ tử, sự quan phòng, sự hiện diện yêu thương và lien lỉ. Nó làm phát sinh những thái độ nội tâm ở mức độ cao không tìm thấy ở bất cứ đâu: sự kiên nhẫn, cảm thức về thập giá trong đời sống thường ngày, sự siêu thoát, thái độ rộng mở với tha nhân, lòng mộ đạo. Vì những khía cạnh trên, chúng tôi sẵn lòng gọi là: “lòng đạo đức bình dân” (popular piety), có nghĩa là tôn giáo của người dân.

“Đức Ái Mục Vụ truyền cho những người mà Chúa đã đặt làm lãnh đạo các cộng đoàn Giáo Hội phải có thái độ thích hợp đối với thực tại này là một thực tại rất phong phú nhưng đồng thời cũng rất dễ bị tổn thương. Trên hết là những người ấy phải nhậy bén với lòng đạo đức bình dân, biết cách cảm nghiệm những chiều kích nội tâm và những giá trị không thể chối cãi được của lòng đạo đức bình dân ấy, sẵn sàng giúp nó vượt qua những nguy cơ lạc hướng. Khi được hướng dẫn một cách đúng đắn, lòng đạo đức bình dân có thể giúp càng ngày càng nhiều người thực sự gặp được Thiên Chúa trong Đức Giê-su Ki-tô” (4).

2.2 Giáo huấn của Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II:

Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II trong tông thư Vicesimus Quintus Annus đã nói:  “Lòng đạo đức bình dân không thể bị làm ngơ, hay bi đối xử một cách dửng dưng, khinh miệt, vì giá trị của nó rất phong phú và tự thân nó diễn tả nền tảng tín ngưỡng của con người trước Thiên Chúa. … Các việc đạo đức của Dân Chúa, cũng như những hình thức sùng mộ khác đều được đón nhận và cổ vũ, miễn là chúng không thay thế và không lẫn lộn với những cử hành Phụng Vụ” (5).

2.3 Giáo huấn của Thánh Bộ Phượng Tự và Kỷ Luật Bí Tích:

Thánh Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích cũng đã khẳng định: “Theo huấn quyền, lòng đạo đức bình dân là một thực tại sống động ở trong lòng Giáo Hội: lòng đạo đức ấy có nguồn gốc trong sự hiện diện liên tục và tích cực của Thánh Thần, Đấng ban sự sống cho toàn thể Giáo Hội.…

Thánh Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích ghi nhận: “không thể nào bỏ qua những việc đạo đức được tín hữu thực thi trong một số miền một cách sốt sắng và với ý ngay lành đến cảm động. Cũng thế, ta có thể khẳng định rằng cảm thức tôn giáo lành mạnh của người bình dân, nhờ vào cội rễ rất Công giáo của họ, có thể là một liều thuốc giải độc đối với các giáo phái và là một bảo đảm cho lòng trung thành đối với sứ điệp cứu rỗi. Lòng đạo đức bình dân cũng là công cụ Chúa ban để giữ gìn đức tin, trong những miền mà các Ki-tô hữu thiếu sự giúp đỡ mục vụ; hơn nữa ở những nơi mà việc loan báo Tin Mừng chưa được đầy đủ, dân chúng biểu lộ phần lớn đức tin của họ nhờ lòng đạo đức bình dân. Cuối cùng, lòng đạo đức bình dân là một khởi điểm thích hợp và không thể thay thế, giúp giáo dân đạt tới một đức tin chín chắn và sâu sắc hơn” (6).

III. LÒNG ĐẠO ĐỨC BÌNH DÂN TRONG LÒNG GIÁO HỘI VIỆT NAM

Liên quan tới việc thực hành lòng đạo đức bình dân, có thế nói Giáo Hội Việt Nam cũng có điểm mạnh và điểm yếu riêng của mình.

 

2.1 Điểm mạnh của Giáo Hội Việt Nam

Là lòng đạo dức bình dân được phát triển rất mạnh trong đời sống đạo của người giáo dân, thậm chỉ đôi khi long đạo đức bình dân lấn át cả việc Phụng Vụ chính thức. Trong những năm gần đây ở một số nơi chúng ta ta thấy một số thực hành mới được du nhập vào đời sống cầu nguyện, nhưng lại chỉ là những kinh mới thêm vào những kinh cũ, những sùng mộ mới thêm vào những sùng mộ đã có từ trước. Tôi không có ý nói là những kinh mới, những sùng mộ mới kia là không có giá trị. Ý tôi muốn nói là không thấy có những cung cách hay hình thái đột biến làm thay đổi cuộc sống đức tin của giáo dân ở chiều sâu tâm linh.

 

2.2 Điểm yếu của Giáo Hội Việt Nam

Là nhiều người Công Giáo Việt Nam thực hành lòng đạo đức bình dân mà không hiểu ý nghĩa, khiến những thực hành ấy dễ trở thành “hình thức” chỉ có ở bên ngoài. Nhiều người khác coi nhẹ việc học hỏi, đào sâu giáo lý, không quan tâm đến việc đọc và suy niệm Lời Chúa để cầu nguyện nên dễ rơi vào cách sống đạo hời hợt, vẫn nặng đọc kinh và trọng các hình thức bề ngoài mà thiếu lòng đạo sâu xa, thiếu đời sống kết hợp riêng tư với Thiên Chúa.

 

THAY LỜI KẾT

Vấn đề của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam chúng ta là làm sao một đàng duy trì, đào sâu và thanh luyện các cách thể hiện lòng đạo đức bình dân, một đàng phải đẩy mạnh việc học hỏi Thánh Kinh và Giáo lý trong hàng ngũ giáo dân. Tại Sài-gòn từ ngày đi vào hoạt động, Học Viện Mục Vụ Giáo Phận (nay đổi thành Trung Tâm Mục Vụ Giáo Phận) đã cho những tín hiệu hết sức đáng mừng:  Ngoài những khóa tín lý cơ bản, kinh thánh nhập môn, luân lý, phụng vụ, bí tích … còn có những khóa Thánh Kinh một trăm tuần (7) thu hút khoảng trên dưới 400 anh chị em giáo dân tham dự mỗi lớp tối thứ năm và thứ sáu hàng tuần. Ước chi các trung tâm khác, các giáo phận khác cũng nỗ lực theo cùng một chiều hướng chung là nâng cấp và thăng tiến giáo dân.

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

          Sài gòn ngày 31.12.2006

…………………….

Ghi chú:

(1) Lm Hà Văn Minh, “LÒNG ĐẠO ĐỨC BÌNH DÂN”, bài  thuyết trình tại Tọa Đàm “SỐNG ĐẠO THEO CUNG CÁCH VIỆT NAM” do Ủy Ban Giám Mục về Giáo Dân phối hợp với Tòa Tổng Giám Mục Huế  tổ chức tại Trung Tâm Mục Vụ Tổng Giáo Phận Huế trong ba ngày 20, 21 và 22 tháng 4 năm 2004.

(2) Như trên.

(3) Như trên.

(4) Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI, Tông Huấn “Loan Báo Tin Mừng”, số 48.

(5) Xem số (1).

(6) Xem số (1).

(7) Khóa Thánh Kinh 100 tuần được tổ chức (chia sẻ và giảng dậy) theo phương pháp và tài liệu THE BIBLE IN 100 WEEKS của linh mục Marcel le Dorze, MEP. Tài liệu và phương pháp này đã rất phổ biến trong các Giáo Hội Nhật Bản và Hàn Quốc, nay mới được du nhập vào Việt Nam.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: