TÌM HIỂU ĐẠO HỒI 2 va 3

TÌM HIỂU ĐẠO HỒI (2)

 II. CĂN BẢN CỦA NIỀM TIN ĐẠO HỒI

 A. KHÔNG CÓ THẦN TÍNH NÀO KHÁC NGOÀI THIÊN CHÚA.
Bạn hãy nói : «Thiên Chúa là một, Thiên Chúa !… Đấng không thể thấu hiểu ! Ngài không sinh sản, Ngài không được sinh ra; Không ai ngang bằng Ngài ! » (Cr 1,12).

Trước tiên Đạo Hồi khẳng định duy nhất tính của Thiên Chúa : Thiên Chúa là duy nhất. Chỉ có Một ở nơi Ngài. Tín điều cơ bản này của đạo Hồi tách biệt các tín đồ khỏi «những người gán ghép », nghĩa là những người muốn đặt ngang hàng với Thiên Chúa những nhân vật khác. Theo họ, như vậy là xúc phạm đến duy nhất tính của Thiên Chúa. Đạo Hồi coi họ là những người đa thần, sách Coran rất nghiêm khắc với những loại người này. Tín điều Chúa Ba Ngôi của Kitô giáo thường bị hiểu là một hình thức gán ghép các nhân vật khác vào Thiên Chúa, do đó tín điều này xúc phạm đến duy nhất tính của Thiên Chúa.

Thiên Chúa là Đấng không thể thấu hiểu hay quán thông được. Người ta không thể nói gì về Ngài được nếu chính Ngài không mạc khải. Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo vũ trụ, vạn vật. Ngài là Đấng Duy Nhất, là Chủ Tể tối cao (Cr 13,16). Thiên Chúa là Đấng toàn năng. Ngai của Ngài bao phủ mọi tầng trời và trái đất.. Ngài cho trời cao đất thấp hiện hữu vững bền. Ngài là Đấng tối cao, Đấng không thể đạt tới được (Cr 2,256). Thiên Chúa là Đấng thấu suốt mọi sự. Anh chị em ở đâu, Ngài hiện diện ở đó với anh chị em. Ngài biết rõ mọi điều anh chị em làm. Ngài nhìn thấy toàn vẹn mọi điều chứa đựng trong tâm hồn anh chị em (Cr 57,4-6). Thiên Chúa là Đầng gần gũi con người : Ta gần gũi con người còn hơn mạch máu nơi cổ của họ (Cr 50,16). Thiên Chúa là Đấng đầy lòng nhân ái : Quả thật, Thiên Chúa là Đấng luôn trở lại với tội nhân thống hối. Ngài đầy lòng nhân ái (Cr 2,37). Thiên Chúa là thù địch của những người không tin : Ngài sẽ không tha thứ cho những người không tin, những người xúi dục kẻ khác đi sai đường của Ngài và cả những người chết trong sự bất tín (Cr 47,34).

Những danh xưng mỹ miều nhất thuộc về Thiên Chúa. Hãy kêu cầu khấn Ngài bằng những danh xưng của Ngài (Cr 7,180). Trung thành với giới điều của Coran, người đạo Hồi đã lẩy ra từ sách Coran và từ Truyền thống chín mươi chín danh xưng dành cho Thiên Chúa. Để được gần gũi với Thiên Chúa, người đạo Hồi thường suy niệm về những «Mỹ Danh » của Ngài. Nhiều người đọc những danh xưng ấy dưới hình thức lần chuỗi hạt gọi là ‘Sub’ha’. Tuy nhiên, không vì suy niệm mỗi danh xưng hay toàn thể các danh xưng mà người ta có thể hiểu biết mầu nhiệm của Thiên Chúa. Ngài luôn là Đấng bất khả quán thông. Còn danh xưng thứ một trăm của Thiên Chúa thì không thể thốt nên lời. Một số người cho rằng chỉ ở trên thiên đàng, người ta mới được mạc khải về danh xưng cao quý ấy.

B. SÁCH CORAN

1. Mohammed là người trao truyền.

Kể từ « Đêm Định Mệnh » và cho đến ngày tạ thế, Mohammed trao truyền các sứ điệp mà các tín đồ đầu tiên của đạo Hồi nhìn nhận như những mạc khải thần linh. Họ là các đồng chí của Mohammed, họ nhớ hoặc ghi chép lại. Sau khi Mohammed chết được ba bốn năm, họ gom góp lại và làm thành cuốn Coran 114 chương vắn.

Truyền thống đạo Hồi phổ biến hơn cả khẳng định rằng Mohammed không biết viết biết đọc, không phải văn sĩ hay thi sĩ. Theo thiên tài riêng của ông thì ông hoàn toàn không đủ khả năng viết nên bản văn Coran tuyệt vời về những áng thơ và uy lực trong ý nghĩa tôn giáo. Đối với người đạo Hồi, Coran là một phép lạ lớn lao của Thiên Chúa và là dấu chứng về sự hiện hữu của Ngài. Chân lý xuất hiện thì lầm lạc phải tan biến. Hơn thế lầm lạc là phù du (Cr 17,81).

Người đạo Hồi tin vào các sứ giả Thiên Chúa sai đến. Họ phân biệt các ngôn sứ lớn và các ngôn sứ nhỏ. Có bốn vị ngôn sứ lớn :

• Abraham : Bạn thân của Thiên Chúa, người đạo Hồi đầu tiên, bởi lẽ ông là kẻ «vâng phục Thiên Chúa » trước hết, khi chấp nhận hiến tế con trai của ông là Ismael. Trong tiếng Ả Rập, Abraham là Ibrahim hay Brahim. Rất nhiều người đạo Hồi mang tên ông.

• Moise : Người đối thoại với Thiên Chúa và đã nhận cuốn Torah.

• Jesus : Sứ giả của Thiên Chúa, Lời của Thiên Chúa, Thần Khí của Thiên Chúa, sinh ra bởi Trinh Nữ Maria. Giống như Adam, Đức Giêsu không có cha, Ngài không phải là Con của Thiên Chúa, bởi vì Thiên Chúa không có con và ngài không chết vì bị đóng đanh.

• Mohammed : là « dấu ấn của các ngôn sứ » bởi vì ông hoàn hảo nhất và công chính hơn cả. Chính nhờ ông mà mạc khải của Thiên Chúa duy nhất được hoàn tất.

Các ngôn sứ nhỏ thuộc truyền thống Thánh Kinh : Ismael, Isaac, Jacob và các con của ông, Job, Jonas, Aaron, Salomon, David; thuộc truyền thống Ả Rập : Houd, Salih, Chu’ayb.

2. Coran và những mạc khải đã có trước.

Người đạo Hồi nhìn nhận ba sách mạc khải : Torah tức là năm cuốn đầu trong Thánh Kinh Cựu Ước; – Thánh Vịnh; – Phúc Âm. Nhưng truyền thống đạo Hồi coi các bản văn Thánh Kinh mà người Do Thái giáo và Kitô giáo dùng, thì theo dòng lịch sử, nhiều chỗ đã bị xuyên tạc. Cũng vậy, bốn câu truyện Phúc Âm có thể chỉ là sự giảng nghĩa lại theo một bản Phúc Âm đầu tiên mà cho tới nay người ta không tìm ra bản văn.

Kết luận, đối với người đạo Hồi, chỉ mình sách Coran mới đích thực là quy chiếu về Lời Chúa. Hơn thế, sách Coran còn thu thập và chung kết toàn thể nội dung của các sách thánh có trước.

3. Sách thánh của đạo Hồi.

Theo đạo Hồi, toàn thể Lời Chúa được chứa đựng trong «Thân Mẫu của Thư Tập » (Mère du Livre : Umm al Kitab) bên cạnh Thiên Chúa, để trên một cái bàn được gìn giữ cẩn thận, theo như những thuật ngữ được xử dụng trong sách Coran (Ch. 13,39; 85,22). Coran là bản chép lại toàn hảo của một số lời được chính Thiên Chúa chọn lọc từ «Thân Mẫu của Thư Tập ». Cũng vậy, bản viết của Coran và ngay những nét chữ đều bày tỏ ý nguyện thần linh. Do đó, ngôn ngữ Ả Rập được Thiên Chúa dùng để ngỏ lời với loài người, là ngôn ngữ thánh.

4. Sách Coran là kim chỉ nam cho các tín đồ.

Là hồng ân Thiên Chúa ban cho loài người, sách Coran chứa đựng những điều phải tin, những hướng đi tinh thần cho loài người, những quy luật phụng tự, những giới điều luân lý. Coran cũng là bộ luật xã hội, quy định những tương quan mỗi người phải sống với nhau, những khoản luật hôn phối và đời sống gia đình. Coran được coi như cuốn sách Nhắc Nhở, Hướng Dẫn, Phán Biệt, Chỉ Nam, Lãnh Đạo, bao gồm toàn diện đời sống con người, cá nhân và xã hội. Vì thế, tín đồ đạo Hồi cố gắng học thuộc lòng, nếu không thể học trọn vẹn thì ít ra một vài chương quan trọng.

Fatima, con gái của Mohammed viết cho chồng : « Anh phải chiến đấu với nhiều nỗi lắng lo, việc làm ăn của anh quá khổ cực. Chính vì thế anh dễ tức giận. Nếu như anh có một cuốn Coran, thì anh hãy đọc vài câu, vài đoạn, anh sẽ tìm lại sự bình thản. Coran là lời của Thiên Chúa. Biết Coran, anh sẽ biết tất cả những sự việc khác ».

5. Sách Kinh Thánh và sách Coran

« Lời Chúa trong đạo Hồi, chính là sách Coran; Lời Chúa trong đạo Kitô, chính là Đức Kitô » (Seyyed Hossein Naser).

Như tác giả Hồi giáo phát biểu trên đây, trong đạo Hồi có sự sung mãn của Lời Chúa. Chính là sách Coran với nhiều ý nghĩa tôn giáo. Còn đối với người kitô, Lời Chúa chính là Đức Kitô phục sinh, Đấng thông ban Thánh Thần cho loài người. Sách Coran có một chỗ đứng đối với người đạo Hồi như sách Thánh Kinh đối với người kitô.

Kinh ‘La Fatiha’, là chương khai mở sách Coran và mọi hành động của tín đồ : «Nhân danh Thiên Chúa, Đấng Nhân Từ, luôn thực hiện lòng nhân ái. Ngợi khen Thiên Chúa, Chúa Tể mọi Thế Giới, Đấng Nhân Từ, luôn thực hiện lòng nhân ái. Vua của Ngày Phán Xét. Chúng con thờ lạy Chúa, chúng con kêu cầu Chúa thương giúp đỡ. Xin hướng dẫn chúng con đi trong con đường thẳng, con đường của những người được Chúa ban cho muôn vàn ơn phúc. Không phải con đường của những kẻ cứ khêu cơn thịnh nộ hay cố chấp đi trong lầm lạc».

C. SUNNA hay HADITH

1. Tầm quan trọng của Hadith.

Những người đạo Hồi đầu tiên rất chăm chú đón nhận các sứ điệp của Coran. Họ cũng rất quan tâm đến những lời nói và cử chỉ của Mohammed trong đời sống thường nhật. Họ muốn bắt chước ngôn sứ. Vì là người được Thiên Chúa sai đến, nhiều điểm trong cách sống của ông đáng nên gương cho người đạo Hồi. Một ‘Sunna’, cũng gọi là ‘Hadith’ là một lời hay một cách sống của ngôn sứ Mohammed, hay đôi khi của một trong các vị đồng chí của ông, được ghi lại bởi các chứng nhân và được lưu truyền từ thời này qua thời khác trong các cộng đoàn đạo Hồi. Mỗi khi nhắc tới một lời của chính ngôn sứ, thì Hadith là một lời của người trần rất khác biệt với lời của Coran. Mỗi khi Mohammed nói với tư cách người lãnh đạo, người sáng lập cộng đồng đạo Hồi, thì lời nói của ông có uy quyền và sức sống. Để bảo đảm tính cách xác thực, thì các Hadith phải được tín đồ đạo Hồi cứu xét cẩn thận. Tất cả các Hadit làm thành ‘Sunna’ (truyền thống) về Ngôn sứ Mohammed.

Các Hadith có thể là những nhận định về tôn giáo, những giải thích rõ ràng về cách thực hành áp dụng các quy khoản của Coran, những châm ngôn khôn ngoan hay những câu chuyện ngắn có tính cách xây dựng. Mỗi khi có vấn đề mà Coran không cho một giải thích rõ rệt, người ta phải tham chiếu Hadith. Người ta dựa vào các Hadit khi soạn thảo Luật đạo Hồi. Chẳng hạn việc ‘cầu nguyện nghi thức’ đã được truyền dạy trong Coran, nhưng chính các Hadith mới quy định rõ ràng cách thế và số lần cầu nguyện. Nhiều Hadith đã trở thành ngạn ngữ và xây nên lâu đài khôn ngoan bình dân.

2. Một vài ngạn ngữ trích dẫn từ tuyển tập bốn mươi Hadiths của Imam an Nawawi.

• Vào ngày sau hết, người tin vào Allah chỉ nói về điều tốt hoặc yên lặng ! Vào ngày sau hết, người tin vào Allah sẽ tỏ ra quảng đại đối với người thân cận. Vào ngày sau hết, người tin vào Allah sẽ đón tiếp nồng hậu các khách trọ nhờ.

• Ai thức tỉnh trong tháng Ramadan, thức tỉnh và cầu nguyện với đức tin thâm sâu vào Allah và xác tín vững vàng vào phần thưởng, thì mọi lỗi lầm trong quá khứ sẽ được tha thứ.

• Theo luật, người nghèo có quyền hưởng một phần gia tài của người giầu có.

• Những ai muốn làm cho đạo giáo của mình nên toàn hảo thì phải lập gia đình.

• Không một người Ả Rập nào được coi mình cao trọng hơn những người không – Ả Rập, cũng vậy, không một ai không-Ả Rập được coi mình cao trọng hơn người Ả Rập.

• Dù sống ở chân trời góc biển nào, bạn cũng hãy kính sợ Thiên Chúa. Hãy đổi hành động xấu bằng hành động tốt. Hành động tốt sẽ xóa bỏ hành động xấu. Hãy xử đối tử tế với hết mọi người.

• Ai thấy một điều gì đáng sửa chữa thì phải tự tay sửa chữa, nếu không thể tự tay sửa chữa thì hãy khuyên răn, nếu không thể khuyên răn thì vẫn yêu thương. Đó là điều tối thiểu mà đức tin đòi buộc.

• «Đạo giáo chính là sự chân thật ». Chúng ta phải thành thật với ai? Ngôn Sứ trả lời : «Với Thiên Chúa, với Sách của Ngài, với Sứ giả của Ngài, với các Imans (linh mục đạo Hồi), với toàn thể Cộng Đồng Đạo Hồi.

• Không ai trong anh chị em thực sự là người có lòng tin, bao lâu người ấy không quý trọng những điều thuộc về anh em như chính những cái mà họ quý trọng cho bản thân mình.

• Có người đã thưa với Mohammed : «Thưa Ngài, xin Ngài hãy chỉ dạy cho con về Islam». Sứ giả của Thiên Chúa trả lời : «Islam cốt tại : bạn tuyên chứng không có thiên tính nào khác ngoài Allah và Mohammed là sứ giả của Allah; bạn chu toàn việc cầu nguyện; bạn làm việc bác ái theo luật; bạn giữ chay Ramadan; bạn hành hương đến nhà thánh nếu bạn có đủ điều kiện… » – «Xin Ngài dạy cho con biết Iman (đức tin).» Ngôn Sứ trả lời : «Chính là tin vào Allah, Thiên Chúa, tin vào các Thiên Sứ của Ngài, vào các Sách Thánh của Ngài, các Sứ Giả của Ngài, vào ngày sau hết và tin rằng số phần tùy theo việc thiện và việc ác bạn làm… – «Xin Ngài dạy cho con biết Ihsan (Tuyệt hảo) ». Ngôn Sứ trả lời : «Bạn hãy phụng sự Allah dường như bạn nom thấy Ngài, bởi vì cho dù bạn không nom thấy Ngài, Ngài vẫn nom thấy bạn ». (hadith này được viết ra dưới hình thức câu chuyện đạo đức).

———————————————-

Tài liệu tham khảo.

• Le Coran (traduit de l’arabe par Kasimirski). Flammarion, Paris 1970.

• Dominique Sourdel : L’Islam, Presse Universitaire de France,1962

• Missi, 1980 ( ?) : L’Islam dans le monde.

• Asie Religieuse, Églises d’Asie, 1995

• Fêtes et Saisons, n. 421. 1.1988 : Regard sur l’Islam.

• Feu et Lumière, n. 202. 1.2002 : Islam Djihad ou Dialogue ?

• Phan Thiết : Hành Hương Đất Chúa : ch.V ‘Mohamét và Ala là ai?. Australia, 2002.

• France Catholique, n.2864.10.2003 : Quel dialogue avec l’Islam ?

• Expresse n.2847, 26.01.06.

Đ.Ô. Mai Đức Vinh
TÌM HIỂU ĐẠO HỒI (3)III. ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO THỰC TẾ CỦA TÍN HỮU ĐẠO HỒIA. ĐẠO GIÁO, LUÂN LÝ, TỔ CHỨC XÃ HỘI

1. Luật đạo Hồi (Chari’a)

Để xác định cách sống của mình, ngay từ đầu người đạo Hồi tuân giữ các giới truyền của Coran, của Lời Chúa, và phải noi gương Ngôn Sứ bằng cách sống theo Hadith. Nhưng chẳng bao lâu, nhiều vấn đề đặt ra, đạo Hồi lan ra ngoài xứ Arabie, chạm trán với nhiều nền văn hóa và phong tục khác. Cần phải xác định về sự thống nhất những cách sống của con người làm sao cho phù hợp với Luật Chúa. Một cách chung, điều quan hệ là phải trình bày rõ ràng nội dung của ý muốn thần linh tùy theo những trạng huống khác nhau của nhân loại và tùy theo mỗi vấn đề của đời sống. Vì thế trong suốt hai thế kỷ, người ta phải hết sức cố gắng chú giải (ljtihâd) sách Coran và các Hadith theo các tiêu chuẩn : lý trí, ích lợi chung, đồng tâm trong cộng đồng.

Những nỗ lực soạn thảo lâu dài này đã đạt tới chung kết là bộ Luật đạo Hồi (Chari’a) vào thế kỷ IX. Kể từ thời đó, việc chú giải này vẫn được người đạo Hồi tiếp tục, nhưng với điều kiện là phải ở trong các giới hạn của Luật đạo Hồi đã được xác định trước và được đạo Hồi nhìn nhận như Luật của Chúa. Sự kiện cả cộng đồng đạo Hồi thời đó đã đồng tâm nhất trí trong việc soạn thảo Luật đạo Hồi được coi như một dấu chứng của chân lý thần linh, như Hadith đã thốt ra từ miệng của Ngôn Sứ : «Cộng đồng của tôi không thể nhất trí trên sự sai lầm ».

Chủ đích của Luật đạo Hồi là đem đến cho loài người sự soi sáng và hướng dẫn cần thiết để sống phù hợp với thánh ý Thiên Chúa. Trong ngôn ngữ Ả Rập, từ ‘Chari’a’ đôi khi chỉ nghĩa một con đường nhỏ dẫn tới nguồn nước sự sống. Đó là con đường của Thiên Chúa dẫn loài người đến sự hòa bình tại thế và đến hạnh phúc của thiên đàng trong thế giới bên kia.

Luật đạo Hồi bao gồm toàn diện đời sống con người. Nó chứa đựng cái gì tương quan đến việc phụng tự, đến cách sống của từng người. .. và sau cùng đến những mối liên hệ xã hội. Người đạo Hồi cho rằng Luật không thể coi thường một khía cạnh sống nào của loài người. Nó bó buộc mọi tín đồ phải có tâm hồn ngây thơ và lành mạnh. Các trẻ em không buộc phải giữ luật. Tuy nhiên cần giúp cho các em làm quen thật sớm với những điều thực hành về tôn giáo và luân lý hầu chuẩn bị cho các em trở thành những người đạo Hồi tốt.

Hiện nay chỉ một thiểu số quốc gia đón nhận toàn vẹn Luật đạo Hồi, đó là Arabie, Séoudite, Iran, Pakistan. Luật đạo Hồi trở thành luật của quốc gia. Một số quốc gia khác như Soudan chỉ áp dụng chừng mực. Nhiều nước khác, luật pháp quốc gia chỉ nhận một số điểm của Luật đạo Hồi, như luật Hôn nhân, luật tài sản.. Thực tế, phần lớn các quốc gia mà đa số dân chúng theo đạo Hồi vẫn chủ trương hiến pháp thế tục của họ.

Chúng ta lưu ý ba điểm sau đây :

• Trên bình diện cá nhân : Những người theo đạo Hồi nhìn nhận một luật chung, xét chính yếu, tương ứng với đời sống luân lý của Mười điều răn (Décalogue) (điều thứ 4 và điều thứ 10). Những điều buộc khác xuất hiện trong nhiều chương Coran khác nhau.

• Trên bình diện nghi thức : Năm giới điều cơ bản nhất : Tuyên xưng đức tin đạo Hồi; Chu toàn việc cầu nguyện theo nghi thức; Đóng thuế theo luật; Giữ chay trong tháng Ramadan; Hành hương tới La Mekke khi có thể. Đó là nền tảng hay ‘cột trụ’ của đời sống tôn giáo trong các nước đạo Hồi.

• Trên bình diện xã hội : Kính trọng Luật đạo Hồi sẽ bảo đảm cho xã hội có một trật tự tốt. Mỗi người đạo Hồi phải chịu trách nhiệm về cách sống của mình. Phải khuyến khích điều thiện và cấm chỉ điều ác. Mọi phạm vi xã hội đều liên hệ với nhau : chỗ đứng của tôn giáo trong xã hội, những nguyên tắc liên quan đến vấn đề chiến tranh, cách đối xử với tù nhân, cách sửa trị tội ác, hình phạt, hôn nhân, ly dị, gia tài, quyền tư hữu, cho vay, biết ‘hổ thẹn’ trong gia đình và ngoài xã hội, phục vụ cộng đoàn đạo Hồi… Luật đạo Hồi thấm nhuần sâu xa vào nếp sống của người đạo Hồi, vào phong tục xã hội và gia đình…

2. Luật luân lý.

Đôi khi Coran nhắc nhở ‘Al Furquan’ nghĩa là ‘phải phân biệt giữa điều tốt điều xấu’. Coran thực sự là cuốn Chỉ Nam cho tín đồ về đời sống luân lý. Giáo huấn của Coran được xác định thêm bởi các Hadith. Thí dụ : «Chúa của tôi truyền cho tôi chín điều : thành thật với chính mình và với người khác, giầu hay nghèo cũng cố sống tiết độ, khi tức giận hay khi vui thỏa đều trân trọng đức công bằng, tha thứ cho người xúc phạm đến mình, giúp đỡ người cần đến mình, giữ thinh lặng khi suy gẫm, nói những điều xây dựng, đắn đo trong quan điểm của mình, trọng công ích hơn tư lợi ».

Những nhân đức hay những tội phạm của loài người thì không xúc phạm gì đến uy quyền tuyệt đối của Thiên Chúa. Tội là sự lỗi Luật thần linh và vĩnh cửu đã được mạc khải cho loài người. Nhân đức là sống đúng theo Luật đó. Thiên Chúa chỉ dạy cho loài người biết đâu là điều tốt đâu là điều xấu. Mọi giới truyền của Ngài đều đúng vì Ngài là Đấng Sáng Tạo, là Tôn Sư. Cần lưu tâm đến giá trị mà Luật thần linh đã gán ban cho các hành động của loài người.

3. Những việc làm có thể là :

• Bó buộc : những việc thuộc năm ‘cột trụ’ của đạo Hồi, chung thủy vợ chồng.

• Đáng khen, nhưng không bó buộc : Làm phúc tự nguyện, hay làm việc đạo đức cá nhân.

• Không buộc, không cấm, không khuyến khích : cách ăn mặc, đi tản bộ…

• Cấm đoán : nói dối, ăn trộm, giết người, ngoại tình, uống rượu, ăn thịt heo.

• Đáng chê trách, nhưng không cấm : ly dị, thiên tư trong việc chia gia tài cho con cái…

Vậy đạo Hồi sẽ phán quyết mỗi người về những hành động cá nhân của họ theo quy chế mà ý muốn thần linh đã tự do và hiển nhiên trao ban cho họ. Quy chế này được trao truyền lại bởi sách Coran và bởi ngôn sứ Mohammed, thì đã được công thức hóa cách rõ ràng bởi Luật đạo Hồi (Chari’a).

Tội phạm nặng thứ nhất là thờ ngẫu thần và gán ghép (tức đặt một đấng thần minh hay một nhân vật nào ngang hàng với Thiên Chúa), bởi vì đó là tội chống lại duy nhất tính của Thiên Chúa. Tội nặng thứ hai là giết người đạo Hồi. Các tội phạm có thể được đền trả bằng những việc lành hay những việc đền tội. Khi đi hành hương La Mekke với tấm lòng chân thực thì có thể được tha hết mọi tội.

Năm đòi buộc được coi như năm ‘cột trụ’ của đạo Hồi. Thực hiện năm điều buộc là dấu chứng trung thành với đạo Hồi và gắn bó với ‘Ummah’ (Cộng đồng đạo Hồi).

B. NĂM CỘT TRỤ CỦA ĐẠO HỒI

1. Cột trụ I : Tuyên xưng đức tin (Chahada).

« Tôi xác tín rằng không có một thần linh nào khác ngoài Thiên Chúa và chỉ Mohammed là Ngôn Sứ của Ngài ».

Đây là điều tin căn bản nhất của người đạo Hồi. Họ tuyên xưng duy nhất tính của Thiên Chúa. Mỗi lần đọc lên lời tuyên xưng chính là trải một tấm khăn che phủ mọi tội lỗi. Người đạo Hồi đọc lời Chahada mỗi ngày, mỗi lúc, nhất là khi gặp gian nan. «Mỗi ngày trước khi ngủ, tôi đọc Chahada. Giấc ngủ là hình ảnh của sự chết; và nếu tôi không thức dậy… Mỗi lần tôi đến hãng làm việc, mỗi lần tôi đi qua dưới cầu trục, mỗi lần tôi đi phá bức tường… tôi đều đọc Chahada… Thiên Chúa biết tôi… »

Lúc gần chết, khi lâm cơn hấp hối chính đương sự hay người khác cũng đọc Chahada. Họ cho Chahada là chìa khóa đi vào Thiên Đàng : «Những người chết mà còn gán ghép thần linh ngang hàng với Thiên Chúa thì chắc chắn sẽ bị ném vào lửa, còn những người chỉ tôn kính một Chúa duy nhất thì sẽ được dẫn vào Thiên Đàng ».

Dưới mắt của người đạo Hồi, Chahada có nghĩa là xác quyết về niềm tin cội rễ và chỉ cần tuyên bố công khai xác quyết này là đủ để được coi như người đạo Hồi và đi vào cộng đồng đạo Hồi rồi. Trong viễn tượng đạo Hồi, chính là trở thành phần tử của ‘Ummah’ hay của cộng đồng huynh đệ, ở đó, nhất thiết người tân tòng thành tâm sẽ khám phá ra nguồn phong phú của niềm tin mới mẻ của họ và sẽ dần dần ý thức rằng đạo Hồi là chính thực. Tuy nhiên việc học khai tâm vẫn cần thiết và đòi phải trải qua đối với những ai muốn vào đạo Hồi. Một đứa nhỏ sinh ra phải đặt cho nó một tên đạo Hồi, để chỉ nghĩa đứa nhỏ thuộc về đạo Hồi. Tuy đạo Hồi không buộc phải cắt bì cho trẻ nam, nhưng thường cũng có một ‘nghi thức quá độ’ (rite de passage) khi đứa trẻ nam từ tuổi thiếu niên bước sang tuổi thành niên.

2. Cột trụ II : Cầu nguyện nghi thức (sada).

Trong các nước đạo Hồi, người ta nhắc nhở năm lần cầu nguyện bằng những tiếng loa phát ra từ tháp cao của giáo đường.

• Sáng tinh sương (Sobh)

• Trưa (Dhor).

• Chiều (Asr)

• Sau khi mặt trời lặn (Maghreb)

• Tối (‘Icha).

Đó là năm lời nguyện theo nghi thức nói đến trong Coran bằng tiếng Ả Rập. Cầu nguyện là một món nợ người ta phải trả cho Thiên Chúa, Đấng Tạo thành thế giới. Trong trường hợp không thể cầu nguyện đúng giờ, người ta có thể giãn lại vào giờ khác. « Tôi có thể giãn lại nhiều lần cầu nguyện, cũng có thể cầu nguyện ban tối sớm hơn nếu tôi mệt mỏi. Thiên Chúa không muốn làm phiền hà ai ».

Mỗi lần cầu nguyện gồm có nhiều cử chỉ (rak’a) : đứng, ngồi, phủ phục. Đồng thời miệng đọc liên tiếp lời kinh ngợi khen. Người ta thân thưa trực tiếp lên Chúa, không qua một trung gian nào cả. Chương đầu của Coran ghi nhiều mẫu kinh thờ lạy, chẳng hạn : « Ngợi khen Thiên Chúa là Đấng Cao Cả, Đấng toàn năng và toàn hảo. Lạy Chúa, xin lắng nghe những tôi tớ Chúa đang dâng lời ngợi khen. Con dâng phần rỗi con cho Chúa, con dâng mọi việc lành của con cho Chúa »(x.Cr 1,1-7). Còn có những mẫu cầu nguyện khác, tùy theo sáng kiến của mỗi người.

Muốn cầu nguyện nghi thức, người đạo Hồi phải trong sạch tâm hồn, phải tắm rửa thân xác hết bụi bặm và nhơ bẩn. Vì thế người nằm bệnh viện, người vướng mắc không tắm rửa được thì không thể cầu nguyện nghi thức. Nơi cầu nguyện phải thoáng đạt, không bụi bặm, thường trải ta-pi.

Những người có đời sống bất hảo cũng buộc phải cầu nguyện nghi thức để nhờ Thiên Chúa trở nên tốt hơn. Tuy nhiên những người này phải quyết tâm xa lánh điều xấu. «Cầu nguyện đối với tôi rất quan trọng. Bạn đừng nghĩ đến việc gì khác, nhất là đừng nghĩ đến những thủ đoạn làm hại tha nhân. Tôi không thấy một người nào cầu nguyện rồi sau đó lại có những cử chỉ xấu xa, mưu mô xảo quyệt… » « Lời cầu nguyện giúp người ta xa tránh những điều ngu xuẩn và những hành động đáng chê trách » (Cr 29,45).

Giáo đường (mosquée) chính yếu là nơi cầu nguyện, nhưng cũng là nơi hội họp bàn thảo về những vấn đề của cộng đoàn. Trong giáo đường thường có một ‘mihrab’ (cửa nhỏ) để chỉ về hướng La Mekke, và một ‘minbar’ (tòa giảng) để ‘iman’ đứng giảng cho đạo hữu.

3. Cột trụ III : Đóng thuế theo luật (Zakat).

Zakat là một thứ ‘thuế tôn giáo’ mục đích để giúp đỡ người nghèo trong đạo Hồi, trang trải mọi sinh hoạt chung, nhất là xây cất hay bảo trì các nơi thờ tự. Nhưng mục đích của Zakat còn để tẩy rửa tâm hồn khỏi tính tham lam, hà tiện, ích kỷ. Sách Coran nói rõ những lớp người nào được hưởng phần hoa lợi của Zakat. «Những của đóng góp và dâng cúng dành cho những người nghèo, những người cần thiết, những người lo việc đón tiếp dân nghèo khổ, những người có trái tim rộng mở mua chuộc lại những kẻ bị bắt bán làm tôi tớ, những người nợ nần chồng chất, những người chiến đấu vì Thiên Chúa, và những khách đi đường » (Cr 9,20).

Luật đạo Hồi ấn định rõ ràng mức độ phải đóng Zakat. Tuy nhiên còn tùy theo các đoàn vật chăn nuôi, lượng thu hoạch mùa màng, tiền lợi tức, các vật quý hay hàng hóa. Cách chung, phải đóng thuế từ 2 đến 5%. Chế độ Zakat có nhiều khác biệt giữa các nước đạo Hồi với các nước ‘đời’ (état laic) như tại Pháp.

Thuế Zakat hàng năm có tính cách nghi thức và bó buộc và chỉ những người hay những tổ chức đạo Hồi mới được hưởng. Còn những tiền ‘làm phúc ‘ tự nguyện (Sadage) thì người ngoài đạo Hồi cũng được hưởng.

Ngoài chế độ Zakat, trong đạo Hồi còn có nhiều hình thức đóng góp khác. Trong Coran nói tới 70 hình thức chia sẻ hay làm phúc : «Đừng ai khép đóng cuốn Sách này : Sách chỉ dạy những ai kính sợ Thiên Chúa, những ai tin tưởng vào mầu nhiệm, những ai làm phúc bố thí với những của cải Ta đã ban cho họ » (Cr 2,2-3).

Với niềm tin mạnh mẽ, nhiều người đạo Hồi tự nguyện thực hành việc chia sẻ hay bố thi : « Lúc chết, chẳng ai đem theo của cải gì đi, trừ ra những cái đã chia sẻ cho dân nghèo. Đi làm về, tôi hỏi vợ tôi xem những người hàng xóm sống đầy đủ không. Nếu nghe ai thiếu thốn điều chi, tôi liệu cách đem đến cho họ. Chỉ sau khi làm việc đó, tôi mới ngồi xuống ăn cơm tối ».

4. Cột trụ IV : Ăn chay trong tháng Ramadan (Syam ramadan)

«Này anh chị em, chay tịnh truyền cho anh chị em hôm nay giống như đã truyền cho các thế hệ trước. Hãy giữ chay những ngày đã ấn định. Ai trong anh chị em đau yếu hay đi đường có thể giãn lại và sẽ ăn chay về sau nhưng phải đủ số ngày đã ấn định. Chay tịnh có lợi ích cho anh chị em… Coran đã được mạc khải trong tháng Ramadan » (Cr 2,182-185)

Luật ăn chay hàng năm trong tháng Ramadan : không ăn, không uống, không hút thuốc, không làm tình từ lúc mặt trời lên cho tới khi mặt trời lặn. Trong các nước thuần túy đạo Hồi, sinh hoạt xã hội bị đảo lộn trong tháng Ramadan : các chương trình về tôn giáo chiếm nhiều giờ trên các đài phát thanh, điện ảnh.

Một trong những mục đích của tháng Ramadan là «tập tính tự chủ, trừ khử nhiều tật xấu, làm chủ dục vọng » : « Đối với tôi, Ramadan là bắt đầu đời sống trong một năm mới. Tôi thấy tôi như đã bị xiềng xích, nô lệ cho nhiều chuyện, nhiều vấn đề. Tháng này ngưng lại tất cả. Tôi làm lại cuộc đời, tôi kiểm điểm mọi hành động, tôi phục tùng một Thiên Chúa duy nhất ».

Tháng Ramadan là thời gian chia sẻ và thông cảm. Tự nguyện nhịn đói hầu chia sẻ với những người đói ăn vì hoàn cảnh. «Bạn chưa hiểu Ramadan ! Chính là để “những người to lớn vì ăn no đủ” hiểu rõ hơn “những ngưới bé nhỏ vì đói ăn”.

Người đạo Hồi cũng ý thức rằng, giữ Ramadan chính là trở về với Thiên Chúa : «Ramadan nhắc bảo chúng ta rằng : người ta sống trên đời không phải chỉ để ăn, để uống, để ngủ, nhưng còn để nghĩ tưởng đến Thiên Chúa. Đó là món nợ phải trả cho Ngài. Phải cám ơn Ngài về bao hồng ân Ngài đã ban cho. Ramadan là thời điểm hướng về Thiên Chúa và ao ước Ngài ».

Sau khi mặt trời lặn, người ta ăn uống vui vẻ, có thể thức khuya thăm hỏi bạn bè., dự các cuộc trình diễn văn hóa. Các trẻ em không buộc giữ Ramadan, tuy nhiên có thể khuyến khích các em giữ một vài ngày.

5. Cột trụ V : Hành hương đến nhà của Thiên Chúa (Hajj)

Theo truyền thống đạo Hồi, chính tổ phụ Abraham đã xây (hay theo một số người, đã xây lại) ‘Nhà của Thiên Chúa’ (Kaaka) tại La Mekke. Tất cả người đạo Hồi, trong điều kiện có thể, phải đến đó hành hương ít ra một lần trong đời sống. «Quả thật, đền thờ đầu tiên đã được dựng nên cho loài người là ngôi nhà ở La Mekke: đền thờ này được thánh hiến và được xử dụng để hướng dẫn cả thế giới… Những ai có đủ điều kiện thì có bổn phận phải hành hương đến nhà của Thiên Chúa » (Cr 3,96-97).

Trước khi đi, người hành hương phải bảo đảm có đủ lương thực cho gia nhân trong thời gian mình vắng nhà. Đến Arabie họ phải hy sinh mặc đồ trắng. ‘Ihram’ có nghĩa là tình trạng trong sạch cần thiết theo luật buộc để hoàn tất việc hành hương. Trên đường về La Mekke, người ta phấn khởi, vui mừng đi về Nhà của Thiên Chúa bằng lời cầu xin của khách hành hương (Labbay ka) : «Ôi Thiên Chúa ! chúng con đây ! chúng con đây ! Không ai được gán ghép ngang hàng với Chúa ! Mọi lời ngợi khen, mọi điều toàn hảo đều thuộc về Chúa và Nước của Chúa ! »

Trong cuộc hành hương, người ta đi vòng quanh Nhà của Thiên Chúa bảy lần như chính Mohammed đã đi. Còn những nghi lễ khác thì tập trung về thời điểm Agar và Ismael trong sa mạc. Cuộc hành hương diễn tiến trong suốt thời gian lễ ‘Aid el kbir’ tức là lễ hiến tế của Abraham. Khách hành hương ném đá vào các tấm bia tượng tưng cho ma quỷ. Sau cùng, để kết thúc cuộc hành hương, mọi người phải đi viếng mộ của Mohammed tại Médine.

Cuộc hành hương mang nhiều ý nghĩa : Trước khi lên đường, khách hành hương xin lỗi những người chung quanh về những lỗi lầm đã xúc phạm đến họ, trong cuộc hành hương, khách hành hương được tha hết mọi tội lỗi. « Tôi xin mọi người sống trong khu phố, Marocains, Algériens và Francais tha lỗi cho tôi ». Cuộc hành hương phải kể như một khởi điểm cho một cuộc sống mới. Sau lần hành hương, người đạo Hồi muốn sống tuyệt đối trung thành với Thiên Chúa… Hành hương về La Mekke còn là dịp biểu đương sức sống mạnh mẽ của Cộng đồng đạo Hồi (Ummah).

C. NHỮNG NGÀY LỄ CỦA ĐẠO HỒI

1. Nhiều ngày lễ trong năm đạo Hồi.

Trong năm, đạo Hồi có nhiều ngày lễ :

• Lễ ‘Muharram’ tức ngày đầu năm tưởng nhớ Mohammed di tản tới Médine.

• Lễ ‘Mulud’, lễ có tính cách bình dân để kỷ niệm ngày sinh nhật của Mohammed. Lễ này bị nhiều người chống đối vì không được dành một phụng tự nào cho Ngôn Sứ của Thiên Chúa.

• Lễ ‘Đêm Định Mệnh’, cử hành vào ngày 27 tháng Ramadan, kỷ niệm ngày Mohammed nhận được mạc khải đầu tiên.

• Lễ ‘Achoura’ : Ngày thứ 10 trong năm, đối với ngành Chiites rất quan trọng : Họ kỷ niệm ngày tạ thế của Hocéine là cháu của Mohammed tử đạo vì đức tin.

• Hai lễ quan trọng hơn cả : lễ ‘Kết thúc tháng Ramadan’ và ‘Hiến tế của Abraham’.

2. Lễ kết thúc tháng chay Ramadan (Aid es Seghir).

Trong lễ này, nổi bật tinh thần ‘đổi mới thiêng liêng’ của người Hồi giáo sau tháng chay tịnh. Đây là lúc mọi tín đồ thi nhau làm việc bố thí, góp tiền giúp đỡ dân nghèo khổ, đói kém… Theo truyền thống, mọi người được mời đến cầu nguyện chung ở ngoài trời, bạn bè chúc nhau thăng tiến đời sống. «Chớ gì lễ này trở thành lời chúc phúc cho chúng tôi, cho các bạn và cho nhiều người khác » Lễ này cũng được gọi là lễ ‘giải hòa’.

3. Lễ hiến tế của Abraham (Aid el kbir).

Lễ này cử hành vào ngày thứ bảy mươi sau tháng Ramadan, nhắc lại cuộc hiến tế của Abraham. Câu chuyện được kể lại trong Coran (Cr 37,102-109). Theo lệnh của Thiên Chúa, Abraham không sát tế con mình là Isaac ( Ismael, theo truyền thống của đạo Hồi), nhưng là con cừu đực. Chính vì thế, chủ yếu của ngày lễ là ‘cắt cổ một con cừu, rồi nấu lên và cả gia đình cùng ăn, có thể mời lối xóm đến dùng chung’, để nhắc nhở : người tin tưởng thật sự là người quy phục Thiên Chúa theo gương Abraham.

D. NGƯỜI TÍN HỮU ĐẠO HỒI

Sách Coran, các Hadith và Luật đạo Hồi (Chari’a) rất chú trọng đến con người. Các ngành đạo Hồi rất khác nhau về quan điểm phụng tự, chính trị, xã hội, văn hóa. .. nhưng tất cả đều có chung một quan niệm về con người :

1. Địa vị của con người : Con người là thụ tạo ưu biệt của Thiên Chúa.

Rất nhiều lần sách Coran nhắc nhở rằng : Với quyền năng tối cao của Ngài, Thiên Chúa đã cho con người hiện hữu ngay từ trong lòng mẹ. Nhưng, cho dù được tạo dựng cách rất hòa hợp và diệu kỳ, con người vẫn yếu đuối, vô ơn, hay thay đổi… và còn làm đổ máu người khác. «Con người được dựng nên, không kiên định, yếu hèn mỗi khi gặp dủi do, bạo tàn mỗi khi được sung sướng » (Cr 70,19-21).

Thiên Chúa thổi thần khí của ngài vào con người để con người có khả năng tham dự một phần đặc tính cao đẹp của ngài, như trí thông minh, trí phán đoán… Nhưng địa vị của con người cốt yếu ở giao ước huyền nhiệm giữa Thiên Chúa và loài người ngay từ khi tạo thành vũ trụ. « Thiên Chúa đòi con cái Adam tuyên chứng tương quan huyền nhiệm giữa Ngài với họ : Nào Ta không phải là Chúa của các ngươi sao? Họ trả lời : Vâng, chúng tôi tuyên chứng điều đó ! » (Cr 7,177).

Cũng vậy, theo giáo huấn của Coran, mọi người đều có một thiên hướng là tin vào Thiên Chúa duy nhất và vào Ngôn Sứ của Ngài, từ bẩm sinh, mọi người đều có khả năng nhận ra chân lý mà Coran trao truyền. Vì thế cố chấp từ chối đạo Hồi là một tội phạm. Lý tưởng là mọi người trở thành ‘tín hữu đạo Hồi’.

2. Người tín hữu đạo Hồi là người quy phục Thiên Chúa.

‘Người quy phục Thiên Chúa’ là ý nghĩa của từ ‘Musulman’. Bởi lẽ Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo và là Tôn Sư của mọi loài. Vì thế hết mọi loài phải thuần thục quy phục Thánh Ý Ngài. Sách Coran nhắc bảo luôn rằng người tín hữu quy phục Thiên Chúa sẽ được thưởng nước Thiên Đàng, và ai không quy phục Thiên Chúa sẽ lãnh chịu cơn thịnh nộ của Ngài. « Họ phải chịu sỉ nhục đê hèn ngay ở đời này và hình phạt khủng khiếp ở đời sau » (Cr 2,114)

Muốn quy phục hoàn toàn Thiên Chúa, người đạo Hồi phải tuân thủ các giới răn của Luật đạo Hồi (Chari’a) và phải miệt mài tìm hiểu Luật ấy. Người tín hữu chân thành phó thác cho Thiên Chúa bằng việc từ bỏ và tôn thờ.

3. Người tín hữu đạo Hồi là người bình thản và vững tâm về niềm tin.

«Tôi bình thản… » người đạo Hồi thường dùng kiểu nói này để chứng tỏ họ lương thiện, họ sống đúng luật Chúa và luật xã hội. Thực tế, một người tín hữu chân thành là người bình thản. Khi họ thi hành đầy đủ những đòi buộc tôn giáo và luân lý, họ là những người đơn thành. Phương án sống của đạo Hồi là sống thật trung dung, không theo tà thần như dân ngoại đạo, không vô thần như người Maxít, không khổ chế như người phật tử hay kitô. Cái hy sinh của họ là nỗ lực đi trên con đường của Thiên Chúa.

Mọi niềm vui và hoan lạc đều tốt và do Chúa muốn như vậy. Họ rất chú trọng đến hoan lạc xác thịt trong hôn nhân. Người đạo Hồi khó hiểu về đức khiết tịnh của người tu sĩ công giáo. Có một Hadith phát biểu rõ ràng : «Những ai tin tưởng, xin đừng lấy tôn giáo cấm đoán những điều tốt lành mà Thiên Chúa đã tuyên bố là hợp pháp cho các người ».

4. Ba nhân đức căn bản của người đạo Hồi.

• Đức nhẫn nại : Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, ban sự sống và sự chết, những thử thách và mọi hồng ân. Trước mọi đau khổ chung của con người như bệnh hoạn và chết chóc, người ta không hoài nghi về sự hiện diện của Thiên Chúa. Thiên Chúa có thể biến cải con người theo thánh ý Ngài. Không ai có thể đối nghịch với điều Ngài truyền dạy. Người theo đạo Hồi không nổi loạn với Thiên Chúa. Họ thường nói « Thiên Chúa muốn như vậy » hay « Nếu Chúa muốn » (Incha’llah). Do đó họ nhẫn nại trước những thử thách của đời sống.

• Đức hiếu khách : Người ta rất cảm phục về nhân đức này của người đạo Hồi đối với khách xa lạ. «Nếu bạn đón tiếp một người mà họ không biết bạn và bạn không biết họ, tức là bạn đón tiếp người khách trọ của Thiên Chúa, người Thiên Chúa sai đến ». Cho Khách trọ nhờ là một đòi buộc tôn giáo như Coran và Hadith thường nói, thí dụ « Ai tin tưởng vào Thiên Chúa, thì vào ngày sau hết sẽ được đối xử tốt như người khách trọ của Thiên Chúa ».

• Đức công bằng và tinh thần chia sẻ : Theo quan niệm của đạo Hồi, người giầu là người quản lý tài sản của Thiên Chúa. Những tài sản ấy không thể bị thất thoát. Mọi sự thuộc quyền Đấng Tạo Thành, tài sản của ai cũng chỉ là của Thiên Chúa cho mượn. Người đạo Hồi không có quyền dính bén của cải, của cải không theo người chết, chỉ có việc lành phúc đức đi theo thôi. Vì thế người giầu không được khai thác người nghèo, trái lại phải từ tâm chia sẻ cho hợp tình hợp lý với những người khổ cực hơn mình. Những người hành khất thường nói : «Xin cho tôi cái đã được ban cho ông (bà) vì tôi ». Người đạo Hồi chân chính không khi nào chấp nhận sự bất công. Có lời Hadith : « Vào ngày phán xét, người để mình bị lôi cuốn làm điều bất công cũng sẽ bị luận án như chính người làm điều bất công ». Sự chia sẻ trước tiên là ở trong gia đình, nhưng cũng với những người khách trọ, với người thân cận, nhất là những người nghèo khổ. «Mỗi khi bạn bố thí cho người nghèo hay người già cả, là bạn đi tới La Mekke, La Mekke vô hình ». Nói về sự chia sẻ công minh trong gia đình, cần lưu ý đến ‘tình trạng đa thê’ : Khi hạn chế một người đàn ông chỉ được lấy bốn người vợ, sách Coran đã nhấn mạnh đến sự cần thiết phải công minh giữa các bà vợ. Tại Médine, Mohammed có nhiều vợ. Ngày nay, chế độ đa thê thực tế đã biến mất trong nhiều nước đạo Hồi.

———————————————-

Tài liệu tham khảo.

• Le Coran (traduit de l’arabe par Kasimirski). Flammarion, Paris 1970.

• Dominique Sourdel : L’Islam, Presse Universitaire de France,1962

• Missi, 1980 ( ?) : L’Islam dans le monde.

• Asie Religieuse, Églises d’Asie, 1995

• Fêtes et Saisons, n. 421. 1.1988 : Regard sur l’Islam.

• Feu et Lumière, n. 202. 1.2002 : Islam Djihad ou Dialogue ?

• Phan Thiết : Hành Hương Đất Chúa : ch.V ‘Mohamét và Ala là ai?. Australia, 2002.

• France Catholique, n.2864.10.2003 : Quel dialogue avec l’Islam ?

• Expresse n.2847, 26.01.06.

Đ.Ô. Mai Đức Vinh

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: