Giáo Hội trong cái nhìn cùa Henry De Lubac

 

1. Giáo Hội, Một Nghịch Lý: Giáo hội là một mầu nhiệm. Và đã là một mầu nhiệm thì ta chỉ có thể cảm nghiệm, đừng mong hiểu thấu. Tuy thế, vì đức tin luôn luôn muốn được tri nhận (fides intellectum quaerens, nên nhiều khảo luận đã liên tiếp trong hơn 20 thế kỷ qua bàn đến Giáo hội. Thực vậy, trong cuộc hành trình xuyên suốt cuộc sống trần gian, người Kitô hữu thỉnh thoảng lại tự hỏi mình: ‘Giáo hội là gì? ’. Chỉ có điều, người tín hữu ngày nay đặt vấn đề một cách chiêm niệm hơn và do đó gần gũi hơn với tinh thần của một truyền thống xưa và đáng kính vốn mệnh danh cho hoạt động tìm kiếm trên là thần học. Với phương thức tiếp cận ấy, Công đồng Vatican, trong Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân, đã trả lời: Giáo Hội là một mầu nhiệm.

Tuy nhiên, muốn đề cập đến mầu nhiệm, việc đầu tiên phải làm là hãy bàn đến một thực tại khiêm tốn hơn, tức sự nghịch lý của Giáo hội. Quả thực, Giáo hội của ta đem lại xiết bao nghịch lý! Những nghịch lý thực xiết bao! Lịch sử Giáo hội ấy chứng tỏ xiết bao những mặt trái nghịch nhau rõ rệt, đến độ chẳng làm sao liệt kê cho chuẩn xác! Nhân dịp sinh nhật thứ 2000, Giáo hội ấy đã có dịp nhìn lại cả một chuỗi dài những đổi thay, những khai triển, những khủng hoảng, biến dạng. Và cả hôm nay nữa, trong một thế giới càng ngày càng tiến tới đồng nhất tính (uniformity), cái khoảng cách – và đôi khi cái vực thẳm – phân chia các cộng đòan Kitô giáo tại các quốc gia khác nhau về não trạng, về lối sống và suy tư về đức tin (chưa kể đến những phân ly do ly giáo tạo ra) thật lớn biết chừng nào.

Hơn thế nữa, chúng ta còn gặp những cá nhân, những nhóm hội sẵn sàng tuyên xưng lòng mộ mến và trung thành tuyệt đối với Giáo hội nhưng cùng một lúc và ở cùng một nơi lại dùng hết năng lực của mình để chống đối nhau tận mạng? Không lạ gì một quan sát viên tinh mắt gần đây đã mủi lòng nhận định rằng Ðạo Công Giáo đúng ra chỉ là một nguyên tắc chia rẽ chứ thực ra không hề là một nguyên tắc hiệp nhất.

Giáo hội… Chúng ta bắt đầu tự mình đi tìm, nhưng tìm ở đâu đây? Mặt mũi Giáo hội ấy ra sao? Với ngần ấy những đặc điểm tản mạn, liệu người ta có thực sự nói được là Giáo hội ấy có một mặt mũi hay không? Chúng ta tin là có; bởi Giáo hội ấy là complexio oppositorum (phức thể của những trái nghịch). Thực thế, phía sau các va chạm vang động của các trái nghịch nhau kia có ẩn tàng một hiệp nhất các phức thể, nếu ta biết nhìn Giáo hội lần lượt từ những điểm nhìn khác nhau. Còn đối với những người chỉ biết nhìn từ một góc cạnh nào đó, xem ra Giáo hội ấy chỉ ôm trong lòng mình tất cả những điều không thể hoà hợp được với nhau.

Người ta vẫn nói Giáo hội ấy thánh thiện, nhưng ta thấy nó đầy những kẻ có tội. Người ta vẫn cho Giáo hội ấy có sứ mạng nâng con người lên trên những lo lắng trần gian, nhắc con người nhớ đến ơn gọi thiên đàng của mình, nhưng ta thấy Giáo hội ấy không ngừng bận bịu với những sự mau qua của trái đất này, gần như thể muốn giữ chặt chúng ta mãi mãi ở chốn này.

Người ta cố thuyết phục rằng Giáo hội ấy phổ quát, cởi mở như trí khôn hay đức ái thần linh, nhưng quá thường khi các phần tử của Giáo hội ấy, như thể chịu một thúc bách nào đó, lại co cụm với nhau thành những khu khép kín, giống hệt những con người ở khắp nơi khác. Người ta gọi Giáo hội ấy không lay chuyển, trụ cột đáng trông cậy trong cái hỗn mang của lịch sử, ấy thế mà hãy nhìn lúc này! Ngay dưới mắt chúng ta, cái vận tốc canh tân của Giáo hội ấy trong thời đại ta khiến nhiều người trong Giáo hội ấy lo ngại.

Vâng, Giáo hội chúng ta quả là một nghịch lý! Một Giáo hội nghịch lý cho một nhân loại nghịch lý. Giáo hội ấy cưới lấy các đặc điểm của nhân loại kia với hết mọi nét phức tạp và vô lý kèm theo của nó – đầy đủ hết những mâu thuẫn không cùng của con người. Ta thấy điều này mọi thời. Quả tình, từ những ngày sơ khai, trong lúc thực hiện những bước chập chững bên ngoài Giêrusalem, Giáo hội ấy đã phản ảnh những đặc trưng của nhân loại rồi.

Nhưng ta phải bỏ qua cái ảo giác số lượng vốn luôn che khuất cái yếu tính. Cái yếu tính ấy không bao giờ nhận ra qua cái số phức hợp (multiplicity) đơn thuần hay trong những ấn tượng ban đầu. Chỉ bằng phương thức này, ta mới xem xét đúng cái nghịch lý đặc trưng của Giáo hội và chính cái nghịch lý này sẽ dẫn đưa chúng ta vào mầu nhiệm.

Giáo hội có tính nhân bảnthần linh cùng một lúc, là quà phúc từ trên cao và sản phẩm từ trần gian này cùng một lúc. Giáo hội ấy bao gồm những con người mà ai nấy đều dùng hết cái sức trì trệ và cái bản tính thương tổn của mình để cưỡng lại cái cuộc sống được Giáo hội ấy đem vào. Giáo hội ấy hướng về quá khứ, một quá khứ chứa đựng một kỷ niệm mà Giáo hội biết sẽ không bao giờ qua mất; Giáo hội ấy nhìn về tương lai, hân hoan nhờ niềm hy vọng vào một hoàn tất không cùng mà bản chất của nó không một dấu khả giác nào có thể miêu tả.

Trong trạng huống hiện tại, được chỉ thị phải bỏ mọi sự như ‘hình ảnh đời này’ lại phía sau, nhưng trong bản chất sâu thẳm nhất, Giáo hội ấy được định hướng phải nguyên tuyền chờ ngày bản chất ấy được tỏ hiện. Phức hợp hay đa dạng, nhưng Giáo hội ấy lại là một, một duy nhất tính tích cực và đòi hỏi nhất. Giáo hội ấy là một dân tộc, một đám đông vô danh vĩ đại nhưng lại là một hữu thể có tính bản ngã nhất (the most personal of beings) – không còn lời nào khác hơn thế-. Là công giáo, nghĩa là phổ quát, Giáo hội ấy muốn các thành viên của mình phải cởi mở đối với mọi sự, ấy thế nhưng chính Giáo hội lại không bao giờ hoàn toàn cởi mở trừ khi rút vào cõi thân mật của đời sống bên trong và trong thinh lặng thờ lạy.

Giáo hội ấy khiêm cung nhưng lại hết sức đường bệ. Giáo hội ấy tuyên xưng khả năng hấp thụ mọi nền văn hóa, nâng chúng lên những giá trị cao nhất của chúng; đồng thời, ta thấy Giáo hội ấy lại nhận làm của mình những căn nhà và những cõi lòng của người nghèo, của người tối tăm, của kẻ tầm thường và của quần chúng thiếu thốn. Giáo hội ấy không một lúc nào ngưng – và sự bất tử của Giáo hội ấy đảm bảo liên tục tính – chiêm ngưỡng Ðấng vừa cùng một lúc chịu đóng đinh và phục sinh, con người của sầu buồn và Chúa của vinh quang, bị thế gian ruồng bỏ nhưng lại là Cứu Chúa của nó. Ngài là phu quân rướm máu đồng thời là Chúa tể chiến thắng của Giáo hội. Từ trái tim độ lượng của Ngài, một trái tim luôn rộng mở nhưng luôn vô cùng kín đáo, Giáo hội nhận được sự hiện hữu và sự sống mà Giáo hội muốn thông truyền cho mọi người.

Làm thế nào nhận ra và nắm bắt được bản chất thực của Giáo hội, là điều ta vẫn loay hoay. Càng ráng nhìn bao nhiêu, ta càng bắt buộc phải từ bỏ những loại suy giả tạo bấy nhiêu; ta choáng ngợp bởi chân lý thẳm sâu của Giáo hội, và ta thất vọng chấm dứt mọi cố gắng nhằm định nghĩa Giáo hội.

Và ngay cả bây giờ nếu ta có yêu cầu Giáo hội tự định nghĩa về mình đi chăng nữa, thì câu trả lời của Giáo hội cũng man vàn những hình ảnh thánh kinh mà ta hiểu không phải chỉ là những trợ huấn cụ xuông nhưng là những ám chỉ thực tại mà yếu tính vượt quá tầm vươn của trí khôn bản nhiên nơi ta. Quả thế, ngay cả khi đã đạt được mức luận lý sáng ngời, trình bầy trong sáng nơi Ánh Sáng Muôn Dân (Lumen Gentium), một định nghĩa hết sức rõ ràng của Giáo hội về chính mình, suy niệm của ta vẫn quanh quẩn nơi đường cùng mầu nhiệm (cul-de-sac of mystery).

2. Giáo Hội Là Mẹ Tôi: Tuy thế, ta vẫn có điều để trình bầy, một điều hiển nhiên, có tính trẻ thơ theo nghĩa đen; một điều ta biết vừa khởi diễn vừa kiên định bất cứ suy tư nào. Ta chỉ cần một chữ, cái chữ đầu đời… Giáo Hội Là Mẹ Tôi.

Ðúng vậy, Giáo hội, toàn thể Giáo hội, Giáo hội của các thế hệ đã qua từng chuyển thông đời sống, các giáo huấn, các chứng nhân, nền văn hóa, tình yêu của Giáo hội cho ta; và Giáo hội ngày hôm nay. Ta nói, toàn thể Giáo hội, không phải chỉ có Giáo hội định chế, hay Giáo hội giáo huấn, hay, như ta vẫn nói ngày nay, Giáo hội phẩm trật, người nắm giữ chìa khóa đã được Chúa phó trao.

Không, nói rộng hơn và giản đơn hơn, ta muốn nói đến ‘Giáo hội đang sống’, đang làm việc, đang cầu nguyện, đang hoạt động và chiêm niệm, đang hoài niệm và tìm kiếm, đang tin, đang cậy, đang mến; người hàng ngày đang rèn nên những móc xích bất tận, hữu hình và vô hình, liên kết các phần tử của mình; Giáo hội của người khiêm hạ, gần gũi với Chúa; cái ‘đội quân bí mật’, tuyển lựa từ khắp nẻo, bất chấp các giai đoạn sa cơ, vẫn trung thành và hy sinh, không một ý tưởng phản loạn hay đòi canh cải, luôn tiến vào con đường lên dốc bất chấp cái bản tính sa ngã vốn mời gọi mình đi vào hướng khác, âm thầm làm chứng cho sự phong phú liên tục của phúc âm và nước Thiên Chúa đã tỏ hiện.

Còn hơn thế nữa, toàn thể Giáo hội, không phân biệt một ai, cái khối quần chúng Kitô hữu mênh mông, mà rất nhiều phần tử chẳng ý thức gì được cái chức tư tế vương giả của mình và cái cộng đoàn huynh đệ mà chính họ đã tạo lập, tất cả những người ấy cũng là mẹ ta. Chính trong cộng đoàn này, ta tìm được sự nâng đỡ, sức mạnh và niềm vui.

Chính nơi đây, ta gặp Giáo hội lần đầu, trên đầu gối người mẹ trần gian của mình, và từ đó, cũng chính nơi đây, ta tiếp tục nhận ra Giáo hội qua màn sương mù các biến cố và hoàn cảnh đơn thuần mà khó lòng ta mới phân tích nổi dù trong một thời gian lâu. Giáo hội cho ta hay, kinh nghiệm của Giáo hội, trong nhiều thế kỷ, là phương tiện để Giáo hội tăng tiến nhận thức của mình về chân lý mạc khải vốn tỏ lộ cho mình. Ta cũng thế, ta cho Giáo hội hay kinh nghiệm của ta, dù nó rất khiêm tốn và giới hạn, nhưng đã giúp ta – như nó từng giúp mỗi tín hữu khác – nhận ra sự thật này: Giáo hội là mẹ ta. Như trên đã nói, hạn từ này là hạn từ đầu hết, hạn từ nổi bật của một trẻ thơ, cũng là hạn từ tóm lược hay nhất bất cứ nhận thức nào một người trưởng thành sẽ thực hiện được đối với chính bản nhiên con người.

Giáo hội là mẹ ta vì Giáo hội đã hạ sinh ta vào sự sống mới. Giáo hội là mẹ ta vì sự quan tâm của Giáo hội đối với ta không bao giờ giảm thiểu, trái lại Giáo hội luôn cố gắng thâm hậu hóa sự sống kia trong ta, dù sự hiệp tác của ta có hờ hững bao nhiêu. Và mặc dù sự sống này trong ta chỉ tăng trưởng cách mảnh mai yếu ớt, ta thấy nó đâm hoa kết trái trọn vẹn nơi người khác.

Hạnh phúc thay những người, ngay từ ấu thơ, đã học được cách nhìn Giáo hội như một người mẹ! Càng hạnh phúc hơn nữa cho những ai dùng kinh nghiệm mình mà kiên định cho chân lý ấy, bất cứ họ thuộc giai tầng xã hội nào! Hạnh phúc thay những ai một ngày nào đó bắt chộp được vẻ mới mẻ sáng láng, sự phong phú và sâu sắc của sự sống được người mẹ này thông truyền cho!

Sự mới mẻ ta vừa nói đến chính là một thuật ngữ của Thánh Irênê. Ngài dùng thuật ngữ đó khi nói về đức Giêsu Kitô: Omnem novitatem attulit, semetipsum afferens (Ngài đã đem lại mọi điều mới lạ, bằng cách tự đem mình tới Ðấng vốn đã được loan báo) (1). Sự phong phú trên đây là lời hứa cứu độ trong đức Kitô, mà tin mừng được Thánh Phaolô cho biết ngài đã nhận lãnh sứ mệnh rao truyền cho mọi người (Eph 2:7; cf 1:18). Sự sâu sắc là điều đã được mạc khải cho chúng ta bởi Thần Khí Ðức Kitô, Ðấng dò thấu được các sâu thẳm của Thiên Chúa (1Cor 1:10). Tóm một lời, Giáo hội là mẹ ta vì Giáo hội ban đức Kitô cho ta. Giáo hội hạ sinh đức Kitô trong ta. Giáo hội nói với ta, như thánh Phaolô từng nói với tín hữu Côrintô: In Christo Jesu per Evangelium vos genui. Trong đức Giêsu Kitô, bằng Phúc Âm, tôi đã sinh ra anh chị em (1 Cor 4:15).

Trong chức phận làm mẹ, Giáo hội là hiền thê, ‘lộng lẫy và không tì vết’, mà Thiên Chúa Làm Người đã đem ra từ trái tim bị đâm thủng của mình để kết hiệp với trong ‘ngất ngây thập giá’ và làm cho đơm hoa kết trái mọi thời. (Và đây là lý do, như một trong những diễn giả chính của Công đồng (2) đã nhấn mạnh, tại sao mầu nhiệm Giáo hội phải luôn luôn liên kết với mầu nhiệm thập giá).

Khi đã nhìn thấy điều trên, dù chữ ‘nhìn’ ở đây chẳng được chỉnh bao nhiêu, mọi nhu cầu khác để loại bỏ những nét bề ngoài đều không cần thiết nữa. Ta có thể chiêm ngưỡng và yêu thương Giáo hội như một người mẹ. Cả nhu cầu muốn bảo toàn nét tươi mát và vẻ đơn sơ của buổi ban đầu cũng không còn cần thiết luôn.

Ngày nay, vâng cả ngày nay nữa, Giáo hội vẫn ban Chúa Giêsu cho ta. Giáo hội giải thích về Người, chỉ cho ta phải thấy Người ra sao, giữ cho sự hiện diện của Người sinh động đối với ta (3). Nói như thế, thì còn gì nữa để mà nói? Không có Giáo hội, ta còn biết được gì về Người; còn gì cột chặt ta vào với Người, nếu Giáo hội không cột chặt?

Cả những người ít biết đến Giáo hội hay hiểu lầm về Giáo hội, liệu họ có hiểu rằng sở dĩ họ vẫn còn tiếp nhận được Chúa Kitô, thì chính là nhờ Giáo hội mà họ được như thế? Ai có thể tách chúng tôi ra khỏi tình yêu của đức Kitô? Ai có thể tách chúng tôi ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa vốn có trong đức Giêsu Kitô? Thánh Phaolô biết rằng không một sức mạnh thụ tạo nào có thể làm được việc ấy.

Tuy nhiên, vẫn cần một móc xích sống động, một chiếc thang Giacóp mới, để đảm bảo Người có thể từ muôn thế hệ bước tới chúng ta. Ðối với triệu triệu tín hữu (có mặt trong những xã hội tỉnh thức nhất) Ðức Kitô, từ khi mới xuất hiện lần đầu, vẫn không ngừng tái xác nhận ngày một mạnh mẽ hơn sự hiện diện khẩn trương và chan chứa của mình (4) và quả thực, chúng ta cương quyết ủng hộ niềm tin của Thánh Phaolô rằng không có cơn khủng hoảng nào có thể tách chúng ta ra khỏi Người.

Nhưng xin đừng lầm lẫn, chúng ta có được niềm xác tín ấy là nhờ Giáo hội. Ðức Giêsu sống cho ta. Nhưng nếu không có sự liên tục hữu hình của Giáo hội, những lớp cát sa mạc chắc chắn đã từ rất lâu nuốt chửng lấy, nếu không phải là tên tuổi của Người và hoài niệm về Người, thì trăm phần trăm cũng là ảnh hưởng từ phúc âm của Người và đức tin vào thần tính của Người.

Nếu cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên không được thiết dựng, trong niềm sốt mến tin yêu, một môi trường nhậy cảm với Chúa Thánh Linh, Ðấng làm xuất hiện ra các phúc âm gia; nếu, từ thế hệ này qua thế hệ khác, các cộng đòan Kitô hữu không gìn giữ mình trong bản chất tương tự như cộng đoàn tiên khởi kia, để chuyển giao việc tôn thờ đức Chúa của mình; nếu, vì nhu cầu đòi hỏi, các học giả uyên bác của Giáo hội hay các nhà lãnh đạo can trường hay các chứng nhân khiêm hạ không bênh vực sự trong sáng và sự vẹn tuyền của các tín điều bất di bất dịch (như đức Giáo hoàng Zephyrinus thế kỷ thứ ba, dù đầu óc không khá về siêu hình học và bị kẹt cứng giữa những cái quá tinh tế của hai đề nghị uyên bác, nhưng mâu thuẫn nhau, của Hippolitus và Noetus); nếu, những công đồng vĩ đại không xác định cho muôn đời sau nền học lý chính thống về Kitô học; nếu có những ngả nghiêng chao đảo, thì đức Kitô còn là gì đối với chúng ta ngày nay? Không có Giáo hội, đức Kitô đã bốc theo mây khói hay tan thành mảnh vụn hoặc tự triệt tiêu lấy mình rồi (5). Mà nếu không có đức Kitô, con người sẽ là gì đây? (6).

Dù nhân loại có biết hay không, họ vẫn cần có đức Kitô. Khó khăn lắm mới thoát ra ngoài cái vũ trụ từng sản sinh ra mình, tinh thần con người, một sức mạnh bất phản hồi, cần một chiến thắng bất phản hồi của đức Kitô để hoàn tất số phận thần thiêng của mình. Thân thể mầu nhiệm của Người phải là sự nhập thể của nhân loại, nhờ thế nhân loại mới có thể bước vào Thiên Chúa. Nhân loại từng được Chúa Cha nhận làm con nuôi trong ngôi vị đức Giêsu, tức Chúa Con. Việc thanh tẩy và biến hóa của nhân loại phải được thực hiện bằng cách mô phỏng theo Người và tiếp nhận sự sống của Người. Nó phải ‘mang lấy hình hài đức Kitô’. Ðó là kế hoạch của Thiên Chúa, một mầu nhiệm dấu ẩn nơi các dân tộc xưa kia nhưng nay được tỏ cho chúng ta trong thời viên mãn nhờ Chúa Con vốn ở trong Chúa Cha.

Kế hoạch trên được thực tại hóa qua và trong cung lòng Giáo hội. Thần Khí Ðức Kitô đặt để trong Giáo hội cái năng lực duy nhất có thể thần hóa. Giáo hội là bí tích của Ðức Kitô, là máng chuyển qua đó ánh sáng và sức mạnh của phúc âm được chuyển thông tới ta. Trong thời đại ta, Giáo hội là cái trục quanh đó việc tái hiệp mầu nhiệm vĩ đại sẽ tự động gom nhau lại.

3. Giêrusalem Mới: Giêrusalem của người Do Thái không hơn không kém chỉ là một thủ đô yếu ớt của một quốc gia nhỏ bé, liên tục bị những đế quốc bao quanh dòm ngó. Quả thực, Giáo hội, Giêrusalem mới, đối với chúng ta ngày nay, xem ra cũng nhỏ nhoi và yếu đuối như thế, niềm tin đang lung lay, tài nguyên đang tàn lụi, chứng tá đang hết sức lu mờ. Nhiều lực lượng hùng hậu đang tấn công Giáo hội bằng những cú đấm sắt thép hay những găng tay nhung lụa theo tinh thần thời đại, những lực lượng của xác thịt và những lực lượng của trí khôn. Và đôi khi, chiến thắng của chúng là điều chắc chắn: Giáo hội phải lặng câm, mất hết cương nghị, từng mảnh tan tành.

Giáo hội quả là người thừa kế thiêng liêng của Giêrusalem cũ, nhưng cũng là ‘cái Trục ưu tú, trung tâm’, ‘cái Trục tiến bộ và hội nhập’, ‘cái Trục đầy sức sống’ (7) mà cuối cùng mọi sự sẽ tập hợp chung quanh để thay hình đổi dạng, để được cứu rỗi và sống mãi đời đời. Lời tiên tri của thánh vịnh gia quả đúng với Giáo hội:

Thiên hạ nói biết bao điều hiển hách về ngươi

Hỡi thành thánh Thiên Chúa!

Ta sẽ kể Rahab và Babylon vào số những kẻ ngợi khen Ta;

Cùng người Philitinh,

Cư dân của Tyre và Ethiopia,

Chính ở đó chúng đã được sinh ra!

Chúng thẩy đều xưng Sion “Mẹ yêu dấu!”

Mỗi người trong họ đều sinh ra nơi bà,

Và chính Ðấng Tối Cao đã tìm ra bà!

Ðức Chúa viết trong sổ bộ các dân:

Chúng đã sinh ra tại đó!

(Tv 87: 3-6)

Nhân loại càng tăng trưởng, họ càng tự thay hình đổi dạng; Giáo hội không được thụt lại phía sau trong việc thực hiện sự canh tân chính mình, và để làm điều đó phải xử dụng cái gia tài được cẩn trọng bảo vệ xưa nay. Nhưng mối liên hệ giữa Giáo hội và Ðức Kitô không được đổi thay. Khả năng sinh đẻ của Giáo hội không được suy giảm. Giáo hội không được rút vào trong mình, sợ sệt; ngược lại, giáo hội phải thanh thản mở rộng đôi tay chào đón, tự hiến cho mọi người. Và khi xem ra Giáo hội bị đòi hỏi hơn chính bản thân mình, khi các đòi hỏi lớn lao đè trên chức phận làm mẹ của Giáo hội, có nguy cơ tràn ngập Giáo hội, lúc ấy Giáo hội sẽ tin tưởng ngẩng nhìn phu quân của mình.

4. Con Cái Giáo Hội: Giáo hội có những đứa con có vấn đề: một số đứa hoảng sợ, một số đứa bị gương mù; một số đứa, vì mất tiếp xúc với Thần Khí của Giáo hội, tuyên bố rằng đã đến lúc phải sửa lại toàn bộ và đưa ra, bắt Giáo hội phải thi hành, ‘những kế hoạch riêng, cách mạng và khuynh đảo’! Những lúc như thế, nhiệm vụ mọi người vốn nhận Giáo hội là mẹ phải biểu dương sự gắn bó không chao đảo và quan tâm sâu sắc, theo lời Thánh Phaolô, ‘phải trở nên mới trong tâm tư và tinh thần’ (8), để có thể nhờ đó mà thực hiện được sứ mệnh của Giáo hội trong sự nhẫn nại vừa khiêm hạ vừa năng động. Bởi vì Giáo hội mang theo mình niềm hy vọng của thế giới.

Ðã xẩy ra việc một số người, vì mù quáng quên khuấy rằng mọi sự họ có đều do Giáo hội, nên đã rời bỏ Giáo hội. Cũng đã xẩy ra việc mà không ai sống trong thời đại ta dám phủ nhận, là mẹ Giáo hội đang bị tấn công bởi chính những kẻ mẹ đang bú mớm. Cơn cuồng phong gồm những phê phán vô tâm đang lướt qua khắp Giáo hội và không hẳn là không thành công trong việc làm cho nhiều chiếc đầu quay đi và tình âu yếm ra xa lạ. Ðó là cơn lốc nóng ẩm (sirocco), làm khô cằn và trở thành thù nghịch với hơi thở của Thần Khí.

’Khi thấy khuôn mặt nhục hình của mẹ, tôi càng thương mẹ gấp đôi. Thay vì lấy tranh biện đáp trả tranh biện, tôi sẽ chịu thương chịu khó biểu lộ tình yêu của tôi đối với người dù người đang trong dáng dấp nô lệ. Trong khi người khác tự để cho mình bị thôi miên bởi những nếp nhăn vốn là những nét tự nhiên của người lớn tuổi, thì tình yêu lại càng cho tôi thấy sức mạnh tiềm ẩn của mẹ, sức năng động âm thầm của mẹ, tóm lại, cái tuổi xuân muôn thuở của mẹ, ‘những sức mạnh vô địch thoát từ trái tim mẹ cuối cùng sẽ mê hoặc trái tim mọi người’ (9).

Ngày nay, mẹ hơi đòi hỏi, mẹ chưa bao giờ đòi hỏi như thế, mọi người chúng ta phải cố gắng vuợt bực để tự trang bị cho mình tham dự vào thực tại của thời thay đổi. Nếu chúng ta nghiêm chỉnh đáp ứng, kết quả chắc chắn sẽ là ‘một xuân mới’ cho mẹ. Muốn thực hiện được nhiệm vụ ấy, điều sinh tử là phải thấu hiểu những điều kiện nhiệm vụ kia đòi hỏi. Cởi mở và canh tân, đó là những từ chủ yếu của chương trình. Cả hai rất dễ bị trình bày sai.

Cởi mở phải dẫn khởi từ những chiếc rễ mạnh bám chặt lấy những điều cốt yếu, canh tân phải dẫn khởi từ lòng trung thành có tính bản thân. ‘Chỉ có người Kitô hữu chân thực mới là lực lượng canh tân trong thế giới’. Quả là đáng buồn nếu, dưới chiêu bài ‘cởi mở’ và ‘canh tân’ tôi lại đi thờ lạy, theo cách nói của Newman, những tạo phẩm mơ hồ và xấc xược của chính tâm trí tôi, chứ không thờ lạy Chúa Con hằng sống trong Giáo hội của Người. Cũng đáng buồn thay, nếu tôi đặt niềm tin vào những cái tân thời, hoàn toàn của con người, mà số mệnh thật là ngắn ngủi, mau tàn phai chắc chắn; hay nếu tôi một mình, ráng sức tùy tiện, tạo ra một vài thứ tuyên ngôn tư riêng (private credo) từ cái giếng khơi thẳm sâu chân lý, mà bác khước những cung hiến khôn ngoan vô ngộ đã được đấng Phu Quân để lại cho Hiền Thê yêu dấu (10). Xin Chúa ban cho tôi sự hiểu biết liên tục này: gắn bó với truyền thống của Giáo hội là nguyên lý của mọi dám làm hữu hiệu, chứ không phải là một trở ngại.

5. Các Chứng Tá: Cuối cùng, để thâm hậu hóa niềm xác tín của mình, ta nên nại đến hai chứng tá; đối với ta, các vị là những người cầu bầu. ‘Ta tiếp nhận Thần Khí Thiên Chúa, khi ta yêu mến Giáo hội’. Thánh Augustinô dạy ta như vậy. ‘Ta tụ họp nhau do đức ái khi ta hân hoan mang danh Công giáo và tuyên xưng đức tin chân chính’. Ít có người có được nét thiên tài, cái sâu sắc trong kinh nghiệm và nhân cách mạnh mẽ của Thánh Augustinô. Ít có người, nếu không muốn nói là không có ai, đã thăm dò được cái ý thức chủ quan như thánh nhân, đến nỗi trong nhiều thế kỷ, tư duy của Phương Tây về bản nhiên con người đã được ngài lên khuôn. Ðàng khác, ít có người chịu đau khổ như ngài hay bị gương mù như ngài khi thấy Giáo hội ‘dưới hình dạng tôi đòi’ (11).

Nhưng sự cao cả cá nhân hay các đặc sủng thiêng liêng cá nhân, bất luận lớn lao như thế nào, đều được ngài kể như không nếu chúng cản trở ơn Chúa đến với con người qua Giáo hội. Ngài biết rằng ‘nguyên lý tự do trong Giáo hội không thể tách khỏi hiện trạng tổ chức của Giáo hội được’ (12). Mỗi ngày sống thêm, ngài càng hiểu điều này nhiều hơn. Ngài cũng hiểu rằng không một thử thách nào, dù lớn ra sao, cũng không thể bẻ gẫy mối dây hiệp nhất Công giáo. Tính hiệp nhất ấy cũng không tùy thuộc vào một cá nhân nào: sự phạm thượng kiêu căng ấy chỉ có thể có nơi ‘người yêu giả tạo của ‘Hiền Thê’. ‘Người bạn’ thực sự ‘của Hiền Thê’ phải cẩn trọng duy trì đầu hết trong mình tính bất khả suy vong của Hiền Thê. Ngài tin rằng điều đáng kể không phải là sự hiểu biết hay khôn ngoan cao siêu, nhưng là đức vâng lời và khiêm nhường cao vợi. Ngài nhắc đi nhắc lại điều ấy không bao giờ mệt.

Ðối với chính bản thân mình, Thánh Augustinô bằng lòng được là người của Giáo hội, không mệt mỏi rao giảng sự hiệp nhất từng chiến thắng mọi chia rẽ và qua chứng tá của mình, đức ái là ngôn từ chung hậu. Ðối với ngài, cũng như đối với Thánh Irênê, ‘Giáo hội ở đâu, ở đấy có Thần Khí Thiên Chúa’. Ngài cho ta hay ‘người ta yêu mến Giáo hội bao nhiêu, thì họ chiếm hữu được Thánh Linh bấy nhiêu’. Sự quan tâm ưu việt đối với Giáo hội trong các phát biểu trên xem ra chỉ ít có giá trị đối với những ai chưa bao giờ hiểu ra tính cách phổ quát của Thiên Chúa Làm Người: ‘Giáo hội là giới hạn chuẩn xác của chân trời cứu độ trong đức Kitô, hệt như đối với chúng ta, đức Kitô là chân trời của Thiên Chúa’ (13).

Và, trong số những nhà lãnh đạo Giáo hội khác, từng là cha ông ta trong đức tin, ta nên chọn một vị cầu bầu nữa, rất khác với thiên tài Augustinô: một con người vẫn còn rất gần gũi với chúng ta, con người chúng ta gọi bằng ‘đức giáo hoàng Gioan tốt lành’ (14).

Ðức giáo hoàng Gioan không phải là vị chúng ta gọi là cải cách. Mà ngài cũng chẳng phải là người của ý thức hệ. Ngài không ghét bỏ quá khứ, không phải là một nhà phê phán đầy ám ảnh. Ngài là một linh mục tốt lành với ‘một đức tin sống động và đơn sơ’, một lối sống cổ truyền, một lòng đạo đức hết sức thuộc khuôn mẫu cổ điển. Ngài thích nhắc đến các mẫu mực của mình, ‘những linh mục già vĩ đại và tốt lành tại Bergamo đáng tưởng nhớ chúc phúc’. Ngài đọc và thưởng lãm Gương Chúa Giêsu (Imitation of Christ) và Huấn Ðức (Moralia) của Thánh Grêgôriô. Ngài yêu mến Nữ Trinh Maria, suy gẫm với Người khi đọc kinh mân côi. Cấm phòng và khổ hạnh khôn ngoan là hai thứ duy trì và nuôi dưỡng khuynh hướng tự nhiên của ngài muốn được kết hiệp thân mật với Chúa.

Hoàn toàn có thiên hướng ủng hộ bất cứ khai triển nào ‘vẫn duy trì nguyên vẹn được kho tàng thánh đức tin’ và không phô trương ‘tình cảm chân thực của Giáo hội’, ngài tởm gớm ‘những tìm kiếm khoa trương các khẳng quyết có tính cá nhân chủ nghĩa’ và tự đề phòng mình khỏi ‘kẻ tử thù từng làm mọi người chúng ta sa đoạ’. Yêu và trung thành với Giáo hội là những đam mê điều hướng của ngài như ta biết được qua cuốn Nhật Ký Một Tâm Hồn, một cuốn sách hết sức lôi cuốn của ngài, được xuất bản sau khi ngài qua đời (15).

Ðây là một con người, ‘do một thúc đẩy bất chợt’, ở một thời điểm quyết định của lịch sử Giáo hội, đã lái con thuyền của Phêrô ‘về một hướng cảm nhận, ước muốn và hành động mới’. Nhưng ngay cả lúc ấy, vị giáo hoàng tốt lành Gioan vẫn không trở thành con người tự quan trọng hóa mình; ngài tiếp tục là một con người với bản tính tốt lành, vững chãi. Với khẩu hiệu ‘vâng lời và bình an’ (16), ngài vẫn tiếp tục chèo lái trong ‘đại dương yên tĩnh và thanh bình của ý Chúa’. Ngài yêu cầu những ai ngài gặp hãy hằng ngày khẩn cầu để cũng như Chúa Giêsu, ngài được ‘dịu dàng và khiêm nhường trong lòng’.

Nhưng như thể được dạ trung thành của ngài kêu mời, một ngày kia, Chúa Thánh linh đã hiện xuống trên cuộc sống khiêm hạ ấy, đúng là Thần Khí Thiên Chúa thực, đấng linh hứng duy nhất cho cuộc canh tân thực sự. Một làn gió ngôn sứ đánh thức một Giáo hội đang mê ngủ. Ảnh hưởng của nó toả lan ra ngoài Giáo hội và cùng một lúc, cũng vị giáo hoàng tốt lành ấy ‘thấy, mà không cần phải kiếm, cách thế hiện đại hóa tâm hồn con người’, khiến mọi người có đủ bằng chướng một lần nữa rằng… Giáo Hội quả đang sống!

Dựa Theo Henri de Lubac S.J. (The Church Paradox and Mystery)

Chú Thích:

(1) Adversus Haereses, q.4, c.34, số 1.

(2) Hồng y Doepfner, 4 tháng 12 năm 1962: ‘Mầu nhiệm thập giá luôn luôn nằm trong trái tim Giáo hội’

(3) ‘Như một bà mẹ giảng dạy cho con mình biết thế giới là gì, có cái gì trong đó để nhìn, nhìn ra sao, v.v… Giáo hội cũng vậy, được sự gợi ý của Mẹ Chúa Giêsu, một tín hữu ưu việt, cũng dạy con cái mình lời của Thiên Chúa như thế; nhờ có hai kinh nghiệm vừa là mẹ vừa là Hiền Thê, Giáo hội chuyển giao không những ý nghĩa mà còn cả mùi và vị, những đặc điểm cụ thể và nhập thể của lời kia nữa’ (Hans von Balthasar, La Gloire et la Croix, vol.I).

(4) Teilhard de Chardin

(5) Teilhard de Chardin

(6) Ðoạn sau đây dưới ngòi bút của Dietrich Bonhoeffer thật đúng biết bao:

‘Ðiều quan trọng khi mọi sự đã được nói và làm không phải là điều này hay điểu nọ do một người của giáo hội muốn; điều ta cần quan tâm chính là Chúa Giêsu muốn gì’. Và câu này nữa, ‘Quá nhiều dịp ta đặt chướng ngại vật trước lời Thiên Chúa… khi ta rao giảng các xác tín và ý kiến riêng của mình, ngày này qua ngày nọ, và dành rất ít thì giờ để rao giảng về chính Chúa Giêsu… Ta phải tìm hiểu sự mênh mông và phong phú của những gì được ban cho ta trong đức Kitô và vứt bỏ cái nghèo nàn và chật hẹp căn cơ trong các quan điểm và xác tín cá nhân của mình… Chỉ trong một cam kết không dè dặt đi theo các đòi hỏi của Chúa Giêsu trong việc vâng lời tuyệt đối, ta mới đạt được tự do hoàn toàn, vốn là đòi hỏi tiên quyết có tính căn cơ của việc hiệp thông với Người’ (The Prize of Grace, The Sermon on the Mount) .

Kinh nghiệm, mặt khác, cũng cho thấy khi liên hệ với Giáo hội lỏng ra, thì dung mạo đức Kitô cũng bắt đầu lui dần.

(7) Teilhard de Chardin, 13 tháng 12 năm 1918.

(8) Eph. 4:23.

(9) Teilhard de Chardin

(10) Xem Newman, ‘Sermon on the Humiliation of the Eternal Son’

(11) Xem Yves Congar O.P. ‘Changements et Continuum dans l’Eglise’:

‘Giáo hội này yếu tính là một hiệp thông: Tôi hiện hữu trong đó như một tham dự viên vào cuộc sống chung, dẫn khởi từ một đầu như nhau, một linh hồn như nhau, những nguyên lý như nhau. Cái thực tại cụ thể ấy, vượt ra ngoài không và thời gian, bao bọc lấy tôi và nâng đỡ tôi, ban cho tôi sự sống và nuôi dưỡng con người thiêng liêng của tôi. Tôi sẽ ra sao, đức tin tôi sẽ thế nào, lời kinh cầu của tôi sẽ là gì, nếu tôi nhận được Thánh Kinh rồi để mặc mình loay hoay? Nói cho ngay, có Thánh Kinh như thế liệu có nghĩa lý gì chăng? Tôi tiếp nhận mọi sự từ và trong Giáo hội. Bất cứ đền trả nào do tôi có thể đưa ra đều không cân xứng. Và chính sự đền trả nữa? Bởi nó đã được rút ra trọn bộ từ kho tàng mà Giáo hội từng đã ban cho tôi. Tôi chỉ là khoảnh khắc trong cái mênh mông sự sống được bản vị hóa trong tôi (và cái khía cạnh bản vị này thật là tuyệt diệu!) nhưng sự sống ấy bao gồm và vượt quá chính tôi, vì nó từng hiện hữu trước tôi và sẽ còn lại sau tôi. Tôi không có chi hết!’ (trong La France Catholique, tháng 3 năm 1967).

(12) Teilhard de Chardin, 4 tháng 11 năm 1916. Và năm 1935: ‘Chúng ta hân hoan xiết bao về thẩm quyền của Giáo hội! Ðể mặc chúng ta, thì chẳng còn quá trớn nào mà chúng ta không làm’ (xem Ðức cha de Solages, Teilhard de Chardin (bản riêng, 1967) tr.341).

(13) Hans von Balthasar, Introduction au saint Augustin, Le Visage de L’Eglise (Ed. Du Cerf, Paris 1959). Ngay việc tuyển chọn dân Israel cũng làm xuất hiện cái ‘gương mù chủ nghĩa cá biệt’.

(14) Xem Georges Chantraine S.J. ‘Optimisme, angoisse et esperance chez Jean XXIII’ trong Nouvelle Revue Théologique, 1964, các tr.369-87.

(15) Nhật Ký Một Tâm Hồn có một thông điệp quan trọng: ta chỉ bắt tay với con người hiện đại, trong tư cách Kitô hữu và tông đồ, khi ta tái khám phá được một số trong những ý niệm sơ đẳng nhất của nền khổ hạnh Kitô giáo, của nhân tính, của sự dịu ngọt và của sự phó thác. Những từ ngữ ấy được lặp đi lặp lại từng trang’. V. Walgrave O.P. Essai d’autocritique d’un ordre religieux (Brussels, 1966) tr.1478.

(16) Xem Wolgang Scibel S.J. ‘“Gehorsam und Friede”, Gestalt und Werk Johannes XXIII’ trong Geist und Leben, 1963, các tr.246-70. Andrev Manaranche S.J., L’homme dans son univers (Ed. Ouvrieres, Paris, 1966), tr.11: ‘Mọi năng động tính đều là sản phẩm của cuộc sống nội tâm. Trong đức Gioan XXIII, ta thấy một lần nữa lời của Thiên Chúa, được gieo trong thinh lặng trên thửa đất mầu mỡ của một trái tim biết tin, có thể sản xuất ra một mùa gặt có tầm mức vang dội hoàn cầu chạy dài ra bên ngoài từ toàn thể Giáo hội. Chiếc giếng trong xanh là con người của đức tin đã ứa tràn làn nước sống khắp trên lịch sử (Jn 7:37) và lời thì thầm bên tai đã được rao truyền lớn tiếng tứ các mái nhà (Mt 10:27).

Vũ văn An dịch

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: