THẦN HỌC VỀ BÍ TÍCH THÁNH THỂ

1. Tặng Phẩm Thần Linh: Bí tích Thánh Thể cho con người mọi thời đại.

2. Bí Tích Thánh Thể và Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi.

3. Sự Hiện Diện Của Chúa Kytô Trong Thánh Thể

4. Một Cố Gắng Tiếp Cận Bí Tích Thánh Thể Khởi Từ Kinh Nghiệm Con Người

5. Giáo Hội và Bí Tích Thánh Thể

6. Thánh Thể, Bí Tích Vượt Qua

7. “Phúc Cho Ai Được Mời Đến Dự Tiệc Chiên Thiên Chúa”

8. Giới Thiệu và Phân Tích Tông Thư “MANE NOBISCUM” Của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II

9. Chúa Ở Gần Ta Trong Bí Tích Thánh Thể

 Xem thêm chủ đề Năm Thánh Thể

 TẶNG PHẨM THẦN LINH

Bí Tích Thánh Thể Cho Con Người Mọi Thời Đại

 ĐGM Phaolô Bùi Văn Đọc

 I. DẪN NHẬP

 Bí tích Thánh Thể là Nguồn mạch của đời sống Giáo Hội, là Trọng tâm và Tột Đỉnh của sinh hoạt Giáo Hội.

 Tùy bình diện mà chúng ta có thể nhấn mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác. Nhưng có điều hết sức quan trọng mà chúng ta không thể bỏ qua, đó là : Thánh Thể là sự sống của Giáo Hội. Thánh Thể làm nên Giáo Hội. Không có Thánh Thể, thì không có Giáo Hội. Giáo Hội là Thân Mình gồm nhiều người ăn cùng một bánh, là Thân Mình Đức Kitô (1 Cr 10,17).

Vì lý do này, chúng ta không thể bàn về bí tích Thánh Thể mà không sống. Thần học về bí tích Thánh Thể không là một mớ lý thuyết, khô khan, khó hiểu, thậm chí kỳ dị nữa.

Chúng ta cố gắng đừng để mình rơi vào trường hợp người nói nhiều mà không hiểu bao nhiêu, nói mà không biết mình nói gì. Nếu thấy mình chưa biết, hãy làm theo lời thánh Augustinô :

Nếu ngươi không biết, thì hãy nếm thử” (CCL 38, 290).

Chúng ta nói về bí tích Thánh Thể với tất cả lòng tin tưởng vì đó là “Mầu Nhiệm đức tin” như lời tựa Thông điệp của Đức Phaolô VI về Thánh Thể. Mà đức tin là điều chúng ta lãnh nhận từ Hội Thánh. Nên diễn từ thần học của chúng ta phải rất khiêm nhường, chăm chú, nài van, cởi mở và đón nhận. Hãy nghe lời thánh Justinô nhắn nhủ : “Tiên vàn hãy cầu nguyện, để các cửa dẫn tới ánh sáng mở ra cho các ngươi, vì không ai có thể thấy và hiểu, nếu Thiên Chúa và Đức Kitô của Người không cho hiểu” (Dialogue avec Tryphon, 7).

Nói theo kiểu Evagre : “Nếu ngươi là nhà thần học, ngươi phải biết cầu nguyện”. Nếu muốn là nhà thần học về Mầu nhiệm Thánh Thể, phải biết “lãnh nhận mà ăn”, “lãnh nhận mà uống”, và phải biết “làm việc ấy mà nhớ đến Ngài”…

“Lãnh nhận mà ăn”, chúng ta sẽ thấy Thánh Thể là sự sống, là Tình Yêu, vì Thánh Thể chính là Chúa Kitô tự hiến mình cho chúng ta trong bí tích. Bề ngoài, giác quan chúng ta thấy bánh và rượu, nhưng khi lãnh nhận thì chúng ta lãnh nhận chính Chúa Kitô, với tất cả thân xác, linh hồn và thần tính, chúng ta đón nhận Chúa Kitô, Đấng đã yêu mến chúng ta và đã chịu chết vì chúng ta.

Chúng ta lãnh nhận với tất cả lòng yêu mến và biết ơn, vì Thiên Chúa đã ban Chúa Kitô cho chúng ta, vì Chúa Kitô đã tự hiến thân mình cho chúng ta. Mầu nhiệm đức tin ở đây có đối tượng là tình yêu : Tình Yêu của Thiên Chúa, Tình Yêu của Chúa Kitô. Mầu nhiệm đức tin trở thành Mầu nhiệm của Lòng Mến. Tiếp xúc với Chúa Kitô Thánh Thể, chúng ta biết Chúa bằng đức tin và yêu Chúa bằng lòng mến.

II. Đức Kitô, TẶNG PHẨM THẦN LINH

A. TÌNH YÊU TẠO DỰNG HƯỚNG TỚI TÌNH YÊU CỨU ĐỘ

Trong bí tích Thánh Thể, chúng ta lãnh nhận sự sống của Chúa Kitô là chính Chúa Kitô, là bản thân Người. Sự sống mà chúng ta lãnh nhận ở đây không chỉ là sự sống thể lý mà chúng ta hằng nuôi dưỡng bằng lương thực, cũng không chỉ là sự sống tự nhiên mà Thiên Chúa ban cho chúng ta khi dựng nên chúng ta.

Tạo Dựng mới là bước khởi đầu Tình Yêu của Thiên Chúa. Dĩ nhiên bước khởi đầu này vô cùng lớn lao, vì Thiên Chúa đã làm cho chúng ta từ không ra có. Nhưng điều Người ban cho chúng ta, sự sống tự nhiên nơi chúng ta, sự hiện hữu của chúng ta, vẫn là cái gì bên ngoài Thiên Chúa, chưa phải là chính mình Người. Tuy vậy sự sống tự nhiên nơi chúng ta đã là dấu chỉ của một tình yêu vô hạn, chiến thắng hư vô. Có yêu, mới có cho. Thiên Chúa yêu chúng ta, mới ban cho chúng ta sự sống. Người yêu ta, Người mớùi dựng nên ta.

Tình Yêu Tạo Dựng ấy hướng tới Tình Yêu Cứu độ : Tình Yêu muốn điều tốt nhất cho người mình yêu ; Tình Yêu cho đi điều mình quý nhất. Trong tin mừng Gioan, chính Đức Giêsu đã khẳng định :

“Thiên Chúa đã yêu mến thế gian như thế (đó),

đến nỗi đã thí ban Người Con Một,

ngõ hầu phàm ai tin vào Ngài thì khỏi phải hư đi,

nhưng được có sự sống đời đời” (Ga 3,16).

Thiên Chúa ban cho chúng ta Đức Giêsu Kitô. Và Người Con ấy là sự sống cho chúng ta. Hay có thể nói theo kiểu thư 1 Ga :

“Thiên Chúa đã ban cho ta sự sống đời đời, và sự sống ấy là ở trong Con của Người. Ai có Con thì có sự sống ; ai không có Con Thiên Chúa thì không có sự sống” (5, 11,12).

Đức Kitô là sự sống mà Thiên Chúa ban cho nhân loại, là Đấng được Thiên Chúa sai xuống thế gian để mang đến sự sống đời đời cho thế gian. Người là Đấng từ trời xuống thế do ý muốn của Chúa Cha, vì loài người chúng ta, và để cứu rỗi chúng ta. Chính vì thế mà Người tự ví mình như lương thực, như bánh bởi trời (Ga 6,41), bánh hằng sống (Ga 6,35). Bản thân Người là Bánh Sự Sống bởi trời xuống (Ga 6,51). Ai ăn bánh ấy, sẽ được sống đời đờøi.

Bánh ấy do Chúa Cha ban (Ga 6,32), nhưng cũng do chính Chúa Kitô ban, vì bánh ấy là Thân mình Người tự hiến vì sự sống của thế gian (Ga 6,51).

 

B. TÌNH YÊU THẲM SÂU VÀ KHÔN DÒ CỦA THIÊN CHÚA

Chúng ta chỉ có thể hiểu Tình Yêu của Chúa Cha, Đấng ban cho chúng ta Người Con Một, hiểu Tình Yêu của Chúa Kitô, Đấng tự hiến mình cho chúng ta, khi chúng ta hiểu tương quan giữa Chúa Kitô và Chúa Cha, khi chúng ta được đưa vào Tình Yêu sâu thẳm của Thiên Chúa Ba Ngôi. Tình Yêu ấy là Sự Sống, là Hạnh Phúc của cả Ba Ngôi và của từng Ngôi Vị. Chúa Cha sinh ra Chúa Con, và tình phụ tử, tình Cha làm cho Chúa Con hạnh phúc. Đáp lại, chính tình Con thảo của Chúa Kitô làm cho Chúa Cha hạnh phúc.

Nếu Thiên Đàng là Hạnh Phúc, thì Chúa Cha là Thiên Đàng của Chúa Con và Chúa Con là Thiên Đàng của Chúa Cha. Chúa Cha là Sự Sống, là Lẽ Sống của Chúa Con, và Chúa Con là Lẽ Sống, là Sự Sống của Chúa Cha.

Cha ban Con Một cho chúng ta có nghĩa là hy sinh Thiên Đàng, hy sinh Niềm Vui, hy sinh Hạnh Phúc cho chúng ta. Khi Chúa Cha ban Con Một Người cho chúng ta, Người không bao giờ hối tiếc, Người cho đi và không bao giờ lấy lại : Con Một của Người mãi mãi là người như chúng ta và ởû giữa chúng ta. Ngay cả ngày hôm nay, dù chúng ta không thấy Ngài.

Chúa Kitô, vì yêu Chúa Cha mà chấp nhận trở nên hồng ân trong tay Chúa Cha. Người đồng ý trở nên Tặng Phẩm Chúa Cha ban cho nhân loại. Người là Hồng Ân lớn nhất, nguồn suối mọi hồng ân. Tác giả Tin Mừng Gioan nhiều lần nhấn mạnh sự tự do của Đức Kitô :

“Không ai cất mạng sống Ta được,

nhưng chính Ta tự mình thí mạng sống Ta ;

Ta có quyền thí mạng sống Ta…” (10,18)

“Không có lòng mến nào lớn hơn

là thí mạng sống mình vì bạn hữu” (15,13)

Chúa Kitô đã tự hiến mình cho chúng ta vì yêu chúng ta và yêu Chúa Cha. Nơi Chúa Kitô, hai tình yêu này là một. Người yêu Chúa Cha như thế nào, Người yêu chúng ta như vậy. Vĩ đại dường bao tình yêu của Người !

Chúng ta nên lưu ý thêm rằng khi Thiên Chúa ban Đức Giêsu Kitô cho chúng ta, Người cho đi chính bản thân mình, vì Đức Kitô là bản thể, là bản thân, là sự sống của Người. Xét về phương diện này, Lịch sử cứu độ là lịch sử hồng ân và là lịch sử tình yêu tự hiến của Thiên Chúa (autodonation de Dieu).

Cao điểm của lịch sử này là thập giá Đức Kitô. Thập giá là tột đỉnh hy sinh của Thiên Chúa. Thập giá biểu lộ tình yêu điên rồ của chính Thiên Chúa. Yêu đến liều mình, yêu và chấp nhận trả giá cho tình yêu, dù giá ấy là “bị từ khước”. Dụ ngôn những người tá điền gian ác trong Tin Mừng Matthêô 21,33-43 một phần nào biểu lộ sự liều mạng của Thiên Chúa, khi sai Con Một của Người đến trần gian :

“Kẻ thừa tự đó, mau ta giết quách nó đi… chúng túm lấy người con, lôi ra bên ngoài vườn nho mà giết đi” (Mt 21,38-39).

Thập giá cũng là tột đỉnh hy sinh của Chúa Kitô, Đấng đã hạ mình vâng phục Chúa Cha, vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá (Ph 2,7). Thập giá là cao điểm tình yêu tự hiến của Chúa Kitô (Ga 15,13). Thập giá biểu lộ sự liều mình của Chúa Kitô, giống như sự liều mình của Chúa Cha. Không phải vô tình mà các tác giả Tân Ước thường dùng chữ “thí ban” để nói tới cái chết cứu chuộc của Chúa Kitô (Mc 10,45 ; Mt 20,28 ; Lc 22,19 ; 1Tm 2,6 ; Tt 2,14). Quả thật đây là một sự “thí mạng” :

“Này là Mình Ta thí ban vì các ngươi” (Lc 22,19).

Thí mạng không là một sự bố thí theo nghĩa coi thường hay khinh rẻ những người mình ban ơn. Thí mạng cũng không phải vì mạng sống không có giá trị (thí mạng cùi). Mạng sống của Đức Giêsu thực sự là vô giá đối với Thiên Chúa và đối với nhân loại chúng ta. Cho nên thí mạng ở đây biểu lộ một tình yêu đạt đến tột đỉnh, một tình yêu sẵn sàng mất tất cả, không còn lại gì cả, bản thân cũng không còn : vì yêu, mà sẵn sàng trở thành hư vô.

Còn một từ ngữ khác mà các tác giả Tân Ước thích dùng, là chữ “Phó nộp” (Rm 8,32 ; Ga 1,4 ; 2,20 ; Ep 5,2-25).

“Thiên Chúa đã không tha cho chính Con của Người, nhưng đã phó nộp Ngài vì chúng ta hết thảy” (Rm 8,32).

“Này là Mình Ta vì cáùc ngươi” (1 Cr 11,24).

Chữ phó nộp biểu lộ một khía cạnh khác của Tình Yêu tột cùng. Vì yêu chúng ta mà Chúa Cha không dám giữ Con của Người lại, hay nói theo kiểu Phaolô, “không tha Con Một của Người, nhưng đã phó nộp Ngài vì chúng ta hết thảy” (Rm 8,32). Tình yêu làm cho Chúa Cha trở nên “yếu đuối”, và đem nộp Con mình để cứu chuộc chúng ta. Tình yêu làm cho Chúa Giêsu “yếu đuối”, để cho mình “bị nộp”, hay “tự phó nộp mình” làm giá cứùu chuộc nhân loại.

Khi suy nghĩ về Tình Yêu Cứu Độ này của Thiên Chúa, chúng ta phải thốt lên như Phaolô :

“Ôi ! Thẳm sâu thay sự giàu có, khôn ngoan, thượng trí của Thiên Chúa ! Những phán quyết của Người vô phương dò thấu, đường lối của Người không kề dõi theo” (Rm 11,33).

Tình Yêu thẳm sâu và khôn dò của Thiên Chúa biểu lộ nơi thập giá Đức Kitô là Tình Yêu vượt thời gian. Tình Yêu tự hiến của Đức Kitô biểu lộ bằng cái chết cũng vượt thời gian. Chúa Kitô chỉ tựï hiến một lần, tự hiến trọn vẹn thay cho mọi lần. Tính duy nhất của Hy tế Tình Yêu ấy vượt thời gian. Chúa Giêsu đã biểu lộ điều này trong Bữa Tiệc Ly. Hy Tế Thập Giá của Người sẽ vượt thời gian. Người sẽ luôn ở trong trạng thái tự hiến. Người là Chiên chịu sát tế, mà vẫn đứng (Kh 5,6).

C. ĐÓN NHẬN TÌNH YÊU TỰ HIẾN vượt THỜI GIAN

Ngày hôm nay chúng ta đón nhận sự tự hiến ấy trong bí tích Thánh Thể. Chúng ta lãnh nhận Thân Mình bị nộp vì chúng ta, lãnh nhận Máu Tân Ước vĩnh cửu đổ ra cho chúng ta. Chúng ta loan truyền việc Chúa chịu chết. Chúng ta tuyên xưng việc Chúa sống lại. Chúa Kitô ban sự sống của Người cho chúng ta qua cái chết (trên thập giá cũng như trong bí tích Thánh Thể).

Luther đã phủ nhận tính hy tế của bí tích Thánh Thể, có lẽ vì ông không thấy được tương quan mật thiết giữa hy tế Thập Giá và mầu nhiệm Thánh Thể. Ông hiểu từ ngữ “chỉ một lần” (hapax) theo đơn nghĩa (univoque), thuần túy trên bình diện lịch sử. Ông không lưu ý khía cạnh vượt thời gian và không gian của hy tế thập giá. Có lẽ lý do khác nữa là, thời bấy giờ, người ta có khuynh hướng trình bày Thánh Lễ như tái diễn “thảm kịch Núi Sọ”. Đối với ông, dù sao tái diễn cũng chỉ là tái diễn, chứ không là hy tế thực.

Như đã nói, thập giá là “Cao Điểm” của lịch sử tình yêu tự hiến của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. Cử hành mầu nhiệm Thánh Thể là đón nhận “Cao Điểm ấy”, là nhớ tới Ngài, nhớ tới Tình Yêu tự hiến của Ngài. Nhớ tới Đức Giêsu Kitô như lời Ngài căn dặn, là đón nhận tình yêu tự hiến trên thập giá vào trong hiện tại “ở đây và bây giờ” (hic et nunc).

Cử hành Thánh Thể là “đón nhận” Chúa Kitô chết trên thập giá như Hồng Ân Vô Giá của Chúa Cha, đón nhận cái chết cứùu chuộc, cái chết mang lại sự sống, hay nói đúng hơn là đón nhận Đấng Hy Sinh chịu chết vì chúng ta để mang lại Sự Sống cho chúng ta. Chúng ta đón nhận ơn cứu độ, ơn tha tội trong mầu nhiệm Thánh Thể. Chính vì thế mà cử hành mầu nhiệm Thánh Thể cũng là cử hành nghi lễ Tạ Ơn. Chúng ta tạ ơn Cha đã ban ơn cứu độ cho chúng ta, ban Chúa Kitô cho chúng ta, và trong Chúa Kitô đã tự hiến mình cho chúng ta.

Chúng ta không thể nào tạ ơn Cha cách xứùng đáng, ngoại trừ bằng cách dâng lên cho Cha chính Chúa Kitô mà Cha đã ban cho chúng ta, dâng “Bánh Hằng Sống” và “Chén Cứu Độ” lên cho Cha (Kinh nguyện Thánh Thể II). Cử hành Thánh Thể quả thật là “dâng lễ vật” làm đẹp lòng Thiên Chúa, làm vinh danh Người.

II. THÂN THỂ CHÚA KITÔ

Trong mầu nhiệm Thánh Thể, Thiên Chúa ban Đức Kitô cho chúng ta, Đức Kitô tự hiến thân mình cho chúng ta. Người mời gọi chúng ta : “Hãy lãnh nhận mà ăn ! Này là Mình Ta !”.

Người tự hiến bản thân, Người ban cho ta thân mình của Người làm của ăn. Từ ngữ “Thánh Thể” trong tiếng Việt diễn tả chính xác mầu nhiệm chúng ta cử hành, nói lên trọng tâm của mầu nhiệm : Thân Thể Chí Thánh của Chúa Kitô dưới dạng bánh và rượu.

Thân Thể ấy là gì ? phải chăng chỉ là thân xác Đức Kitô, không có liên hệ gì tới linh hồn và thần tính của Người ? Chắc chắn là không. Giáo Hội luôn luôn hiểu Mình Thánh là chính Chúa Kitô dưới dạng bánh. Chính vì thế mà Giáo Hội định tín rằng : dù chỉ một miếng bánh nhỏ, khi đã được truyền phép, vẫn chứa đựng cả thân xác, linh hồn và thần tính của Đức Kitô. Chúng ta có Đức Kitô nguyên vẹn và cụ thể.

Trong cả bốn bài tường thuật của Matthêô, Marcô, Luca và Phaolô, từ ngữ được sử dụng là sôma, có thể dịch là thân xác, hoặc là “thân thể”. Có lẽ Chúa Giêsu đã dùng một chữ aram tương đương với chữ basar trong tiếng do-thái. Basar có nghĩa là “con người hữu hình”, cụ thể với thân xác. Basar nhấn mạnh khía cạnh xác thể nơi con người, chứ không chỉ là một phần của con người là phần xác.

Nếu muốn dùng triết học hiện đại để mà nói, thì chúng ta bảo rằng con người là thân xác, chứ không phải chỉ có thân xác. Thân xác đồng hóa với con người, là thân mình con người.

Tiếng Việt, khi dịch “Này là Mình ta”, diễn tả rất đúng. Chữ Mình vừa chỉ thân xác, vừa chỉ “chủ thể”. Hay nói một cách mới mẻ hơn, đó là “chủ thể thân xác”, là bản thân.

Dù sao, khi nói tới sôma hay basar, rõ ràng là phải nhấn mạnh mầu nhiệm “Nhập Thể” của Đức Kitô. Thân xác làm cho con người nên một cá vị cụ thể, thấy được, nhận ra được, thậm chí còn “kiểm chứng” được.

Có lẽ vì lý do này mà tác giả Tin Mừng Gioan dùng chữ sarx thay chữ sôma trong diễn từ về bánh Hằng Sống :

“Bánh Ta sẽ ban, ấy là thịt mình Ta vì sự sống thế gian” (Ga 6,51).

Tác giả cố ý dùng và nhấn mạnh chữ sarx. Chữ sarx có nghĩa là “thịt”. Chữ thịt ở đây hiểu theo nghĩa “đen”, chính vì thế người Do-thái mới thắc mắc và xôn xao : “Làm sao ông có thể cho ta ăn thịt mình được ?” (Ga 6,52). Thắc mắc của người Do-thái càng làm cho Đức Giêsu nhấn mạnh hơn nữa :

“Nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài, các ngươi không có sự sống nơi mình các ngươi. Ai ăn thịt và uống máu Ta thì có sự sống đời đời” (Ga 6,53-54).

Xét bề ngoài, lời lẽ của Đức Giêsu quả thực là sống sượng như một số người trong các môn đồ của Ngài nhận xét : “Lời chi mà sống sượng thế ! Ai nào có thể nghe nổi ?” (Ga 6,60).

Chắc chắn tác giả có dụng ý nhấn mạnh mầu nhiệm Nhập Thể. Mầu nhiệm này như cái trục của Lịch sử cứu độ. Từ chối mầu nhiệm này là từ chối Lịch sử cứu độ. Từ chối mầu nhiệm này là từ khước con người cụ thể của Đức Giêsu.

Chữ sarx ở đây được dịch bằng chữ thịt là rất đúng, nhưng chữ “thịt” cũng gần giống như chữ xác phàm được cha Nguyễn Thế Thuấn dùng trong bài Tựa Tin Mừng Gioan. Xác phàm là tạo vật, là thực tại mỏng dòn, yếu đuối như bông hoa sớm nở tối tàn. Nhưng Ngôi Lời, Đấng Siêu Việt, Đấng là Thiên Chúa, đã thành xác phàm (Ga 1,14). Thành ngữ “xác thịt và máu huyết” (sarx kai aima) chỉ bình diện con người, bình diện tạo vật.

Đức Kitô đã đến trên bình diện tự nhiên so với bình diện siêu nhiên ; hay nói đúng theo Tin Mừng Mt 16,17 “xác thịt và máu huyết” đối lại với “Cha trên trời”.

Ngôi Lời đến với nhân loại chúng ta trong thân phận “xác thịt và máu huyết”. Không chấp nhận thân phận xác thịt và máu huyết của Ngôi Lời, của Con Thiên Chúa, là không chấp nhận Con Thiên Chúa. Và như lời thư Gioan, ai không có “Chúa Con”, thì không có sự sống (1 Ga 5,12). Từ nay, không thể tách rời Con Thiên Chúa với xác thịt và máu huyết, không thể tách rời Thiên Chúa với con người.

IGNACE d’Antioche thuộc thế hệ thứ ba sau Gioan, không dùng chữ sôma, mà dùng chữ sarx như Gioan. Trong thư gửi cho giáo đoàn Smyrne, Ignace nói đến nhóm người theo ngộ-đạo-thuyết :

Họ không cử hành Thánh Thể và không cầu nguyện, vì họ không tuyên xưng “Thánh Thể” là “Thịt” của Chúa chúng ta, Đức Giêsu Kitô” (7,1).

Cách nói này biểu lộ niềm tin thực tiễn (foi “réaliste”) của các Ki-tô-hữu so với quan điểm “phi-vật-chất” của những người theo “ngộ-đạo-thuyết”. Nó xác nhận câu nói trong đoạn VI Tin Mừng Gioan : “Ai ăên thịt và uống máu Ta thì có sự sống đời đời” là nội dung chủ yếu của “niềm tin thánh thể” (foi eucharistique). Niềm tin vào bí tích Thánh Thể và niềm tin vào mầu nhiệm Nhập Thể đi đôi với nhau, gắn liền với nhau.

Ignace, cũng như Gioan, càng nhấn mạnh đến tính thực tại của mầu nhiệm Nhập Thể bao nhiêu (1 Ga 4,2-3), thì càng bảo vệ tính thực tại (realisme) của bí tích Thánh Thể bấy nhiêu. Nếu chúng ta đọ các câu 53 và 54 trong đoạn VI Tin Mừng Gioan với các câu 2 và 3 trong đoạn IV thư thứù nhất Gioan, tương quan giữa “Thánh Thể” và “Nhập Thể” không thể nào chối cãi được :

“Nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài, các ngươi không có sự sống nơi mình các ngươi. Ai ăn thịt và uống máu Ta thì có sự sống đời đời…”

“Nơi điều này anh em biết được thần khí của Thiên Chúa, phàm thần khí nào tuyên xưng Đức Giêsu Kitô đã đến trong xác thịt là (thần khí) thuộc về Thiên Chúa ; và phàm thần khí nào không tuyên xưng Đức Giêsu, thì nó không thuộc về Thiên Chúa. Đó là thần khí của Phản-Ki-tô ; anh em nghe nói rằng nó sẽ đến…”

Gioan gọi những người không tin mầu nhiệm Nhập Thể là “Phản-Kitô” ; Ignace gọi họ là “vô tín ngưỡng” (apistoi).

Khi nói tới “xác thịt” của Đức Kitô, Ignace đi thêm một bước : nhấn mạnh tới thực tại của xác thịt, là nhấn mạnh tới thực tại của cuộc “khổ hình” mà Đức Kitô đã chịu (Ad Smyrn. I-II). Con Thiên Chúa đã chịu khổ hình thực sự trong thân xác, chứ không phải chỉ chịu khổ bên ngoài, giả vờ chịu khổ hình. Muốn được cứu rỗi, những người ngộ đạo phải hoán cải và tin vào cuộc khổ nạn của Đức Kitô (Ad Smyrn. 5,3). Đối với Ignace, dù là thiên thần hay tổng lãnh, tất cả đều phải án phạt nếu không tin vào “máu Đức Kitô” (Ad Smyrn. 5,1). Thành ngữ “máu Đức Kitô” rõ ràng là một thành ngữ bí tích nhưng ở đây thành ngữ được nối kết một cách chặt chẽ với cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô. Điều đó làm chúng ta liên tưởng đến cả bàn Tiệc Ly, lẫn hy tế Thập Giá : “Máu” Tân Ướùc vĩnh cửu sẽ đổ ra cho nhiều người được tha tội.

Sau khi đề cập đến cuộc khổ nạn và máu Đức Kitô, Ignace nói ngay đến đức tin và lòng mến, giống như Gioan trong đoạn VI nhấn mạnh tối đa tới “ăn thịt”“uống máu” Đức Kitô, cũng nhấn mạnh tối đa đến đức tin, và nối kết chặt chẽ mầu nhiệm Thánh Thể với đức tin (Ga 6,64-69).

Dường như đối với Gioan cũng như đối với Ignace, dùng chữ “sarx” thay cho chữ “sôma” thì tránh được nguy cơ giải thích theo lối tượng trưng (interprétation symbolique).

Luther, dù chối tính hy tế của Thánh Lễ, đã tích cực chống lại những ai chối bỏ thực tại của bí tích Thánh Thể. Ông cho rằng bài học về Thánh Thể không khó tin hơn bài học về Chúa Kitô : đối với lý trí tự nhiên của con người, cả hai đều “sống sượng”. Luther nói đúng, vì Con Thiên Chúa thụ thai trong dạ của một người nữ hay trở thành thịt để chúng ta cắn và ăn, cả hai đều không thể hiểu. Trong Ga 6,54, tác giả dùng động từ trogein, được notes của bản TOB dịch bằng hai chữ mâcher, croquer (nhai). Còn uống máu là một cớ vấp phạm cho người Do-thái, vì Lề Luật cấm uống máu (Lv 17,10-12).

Manaranche, trong tác phẩm “Này là Mình Ta” (Ceei est mon Corps), dùng những thành ngữ rất cô đọng và sâu xa : thân mình Đức Kitô trong bí tích Thánh Thể là “thân xác tội lụy” (corps de péché), là “thân xác vinh quang” (corps de gloire), và là “thân mình ân sủng” (corps de grâce).

Thân xác tội lụy không những là thân xác với mọi giới hạn của xác thân (nhập thể), còn là một thân xác hiện diện trong thế giớùi tội lỗi (nhập thể), một thân xác mang gánh nặng của tội lỗi (đền tội). Nhưng đó cũng là thân xác vinh quang, là thân xác của Đức Giêsu Kitô đã vượt qua sự chết vàø những giới hạn của thế giới sự chết, vượt qua cá nhân mà không hủy hoại cá nhân, còn biến cá nhân trở thành nhân vị. Đó là “thân mình ân sủng” (corps de grâce), vì thân xác phục sinh mới có khả năng tự hiến thực sự, tự trao ban cho người khác và  người khác có thể đón nhận (le Ressuscité devient communicable). Đức Giêsu Kitô Phục Sinh vinh quang trở thành lương thực nuôi sống Giáo Hội, nuôi sống ki-tô-hữu chúng ta, như Đức Kitô đã nói :

“Ai ăn Ta, thì sống nhờ Ta” (Ga 6,57).

Phục Sinh không là “xuất thể” (désincarnation), “ra khỏi thân xác”, mà là “thân xác được vinh quang”. Phục Sinh không là “bốc hơi” (évaporation), trở thành khí, nhưng là trở thành “phổ quát”, vượt thời gian và không gian, dù không đánh mất căn tính “Giêsu Nazaret”. Điều đó có một hệ luận rất quan trọng. Ai hiểu được sẽ không lý luận như Calvin dựa vào Cv 2,32 nói về sự Phục Sinh : “Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã cho sống lại… Được nhắc lên bên hữu Thiên Chúa, Ngài đã lĩnh nơi Cha ơn đã hứa là Thánh Thần mà đổ xuống”.

Trong tác phẩm “L’Institution chrétienne”, Calvin viết :

“Nếu Đức Kitô ngự bên hữu Chúa Cha, làm sao cùng một lúc Ngài có thể ngự trên bàn thờ ? Vì chưng chúng ta không nghi ngờ là Thân Xác Đức Kitô có kích thước, như bản chất tự nhiên của thân xác con người. Chúng ta không nghi ngờ thân xác ấy ở trên trời, cho tới ngày quang lâm phán xét. Chính vì thế, chúng tôi cho rằng không được phép hạ thân xác Đức Kitô xuống ngang hàng những yếu tố vật chất hư nát, và tưởng tượng là thân xác ấy hiện diện khắp nơi”. (Jean Calvin, L’Institution chrétienne, livre VI, ch XVII No 12 “Labor et Fides”, Genève 1958, p. 359).

Luther chống lại những tư tưởng ấu trĩ này cách sắc bén bằng những cách nói rất mỉa mai :

“Vậy Đức Kitô ngồi trên một ngai vàng, bên cạnh Chúa Cha, mình mặc áo choàng, đầu đội triều thiên sao ? Ngài coi vinh quang của Ngài là được ngồi bên hữu Thiên Chúa trên một cái gối bằng nhung, và nghe các thiên thần ca hát trước mặt Ngài sao ?” (Martin Luther, Oeuvres, tome VI, “De la Cène du Christ”, Labor et Fides, 1964, p. 55-57).

III. ĐỨC KITÔ VỀ CÙNG CHA

Chúng ta đã chiêm ngắm Đức Kitô Thánh Thể như là “Hồng Ân” của Thiên Chúa bằng con mắt đức tin. Với con mắt đức tin, chúng ta như có cái nhìn của Thiên Chúa, quan điểm của Thiên Chúa. Tư tưởng của chúng ta về Đức Kitô Thánh Thể giống như tư tưởng của Thiên Chúa. Dù vậy tư tưởng vẫn phải qua lăng kính “con người”. Hay nói theo kiểu kinh viện : “Quidquid recipitur, ad modum recipientis recipitur” (thực tại được đón nhận theo cách thức của thực tại đón nhận).

Ý tưởng đón tiếp Đức Kitô từ Thiên Chúa trong mầu nhiệm Thánh Thể phát xuất bởi cách nhìn “từ trên” : đi từ Tình Yêu của Thiên Chúa  xuống đến loài người chúng ta. Nhưng còn một cách nhìn khác, mà chính các tác giả Tin Mừng cũng đã nhìn : nhìn “từ dưới”, từø hành trình của Đức Giêsu Kitô đi về cùng Thiên Chúa. Đó là một hành trình ghi đậm nét trong lịch sử, đã biến đổi lịch sử và đang còn biến đổi thế giớùi. Hành trình ấy vừa là quá khứ, vừa là hiện tại, vừa là tương lai. Đối với chúng ta, đó là hiện tại đón nhận quá khứ và đi về tương lai.

Hành trình Vượt Qua của Đức Kitô cô đọng hành trình của Dân Chúa và của cả nhân loại. Bí tích Thánh Thể như cô đọng hành trình ấy, để chúng ta có thể tháp nhập vào, dấn thân vào con đường đi về cùng Thiên Chúa.

Chúng ta hãy chiêm ngắm đời sống đạo của Đức Giêsu, để từ đó có thể bước theo Ngài. Đạo của Đức Giêsu là con đường của Ngài, mà con đường của Ngài là đường đi về cùng Cha. Tâm hồn của Ngài luôn luôn hướng về Cha. Ngài như chỉ sung sướng, hạnh phúc trọn vẹn, khi được về với Cha. Chính vì thế, Ngài luôn mong mỏi Giờ Vượt Qua thế gian về cùng Cha. Giờø ấy được coi là cao điểm cuộc đời của Ngài. Giờ ấy là Giờ Ngài dâng trọn bản thân cho Cha (Hy Tế) ; là Giờ làm cho Cha được vinh hiển và cũng là Giờ Vinh Quang của Ngài.

Trong các tác giả Tin Mừng, Gioan là người nhấn mạnh nhiều hơn cả đến lễ vượt qua của người Do-thái. Chắc chắn ông có ý nối kết bí tích Thánh Thể với ý nghĩa lễ Vượt Qua khi tường thuật phép lạ hóa bánh (Ga 6,4), để từ đó ghi lại diễn từ về Bánh Hằng Sống. Ông cũng nối kết Giờ Đức Giêsu chết trên thập giá với Giờ sát tế Chiên Con trong đền thờ để chuẩn bị bữa tiệc vượt qua (Ga 19,31). Thời điểm Bữa Tiệc Ly theo Gioan là : “trước lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết rằng đã đến giờø Ngài qua khỏi thế gian này để đến cùng Cha…” (Ga 13,1).

Để tiên báo sự chết và sống lại của Ngài, Đức Giêsu trong Tin Mừng Gioan không dùng kiểu nói như trong các Tin Mừng nhất lãm, nhưng Ngài tuyên bố :

“Một ít nữa, các ngươi sẽ không còn trông thấy Ta,

và lại một ít nữa, các ngươi sẽ xem thấy Ta.

Vì Ta đi đến cùng Cha” (Ga 16,17).

Quả thực là một ngôn ngữ huyền nhiệm, khiến các môn đồ không hiểu nổi ! Họ chưa hiểu mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô. Chỉ khi nào đã nhận lãnh Thánh Thần, nhờ Thánh Thần “nhắc lại”, bấy giờ họ mới hiểu. Dù vậy, Đức Kitô vẫn cho họ biết và kết thúc lời tiên báo bằng cách khẳng định lại nguồn gốc và cứu cánh của mình :

“Ta đã xuất tự Cha và đã đến trong thế gian ;

bây giờ Ta lại bỏ thế gian mà đi đến cùng Cha” (Ga 16,28).

Trong hành trình Vượt Qua này, chắc chắn Đức Kitô muốn lôi kéo tất cả các môn đệ :

“Con muốn là Con ở đâu, chúng cũng ở đó với Con” (Ga 17,24).

Người còn lôi kéo tất cả nhân loại :

“Một khi Ta được giương cao khỏi đất,

Ta sẽ kéo mọi người lại với Ta” (Ga 12,32).

Cả Lời nguyện hiến tế (Ga 17) của Đức Giêsu là một lời cầu xin tha thiết để được về cùng Cha, cũng là lời đối thoại bộc lộ tình yêu sâu thẳm đối với Cha và tình yêu nồng nàn dành cho các môn đệ.

Chắc chắn sự khao khát trở về cùng Cha nơi Đức Giêsu là do sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần. Thánh Thần luôn hoạt động trong Ngài, Thánh Thần mà khi “tắt thở” Ngài trao phó lại cho Giáo Hội (Ga 19,30).

Nói theo kiểu thư Do-thái, chính Thánh Thần là Đấng đã làm cho Đức Giêsu có can đảm tự hiến mình làm lễ vật hy sinh vô tỳ tích dâng lên Thiên Chúa (Dt 9,14).

Đức Giêsu đã vượt qua thế gian về cùng Thiên Chúa, nhưng với tư cách là Môsê mới, Ngài còn đang lãnh đạo cuộc vượt qua của toàn thể nhân loại cùng đi với Ngài. Khi xưa Môsê đã đưa dân Do-thái vượt qua Biển Đỏ, hành trình trong sa mạc đã tiến về Đất Hứa, thì nay Đức Kitô sẽ đưa “Dân Israel mới” vượt qua thế gian, đi về Đất Hứa, về Quê Hương đích thực là Thiên Đàng là Nhà Cha ở trên trời.

Ý nghĩa sâu xa của mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô là ý nghĩa cánh chung, vì sự Phục Sinh của Đức Kitô là sự Phục Sinh cánh chung, báo trước Cùng Đích của nhân loại là “Sống Viên Mãn” trong Thiên Chúa (viên mãn cả về phương diện thân xác).

Không thể chối cãi “ý nghĩa vượt qua” của bí tích Thánh Thể, dù có nhiều ý kiến khác nhau về Bữa Tiệc Ly, trong đó Đức Giêsu đã lập bí tích Thánh Thể. Có người cho rằng Bữa Tiệc Ly là một bữa ăn Vượt Qua (repas pascal) mà chính Đức Giêsu đã muốn mừng cùng các môn đệ trước ngày Ngài phải chịu chết. Lập trường này dựa trên những câu khẳng định trong các Tin Mừng nhất lãm :

“Thầy muốn chúng tôi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu ? … Ta muốn cửû hành lễ Vượt Qua với môn đồ Ta ở nhà ông. Môn đồ đã làm như Đức Giêsu truyền dạy họ, và họ đã dọn lễ Vượt Qua” (Mt 26,17-19 ; Mc 14,12-16 ; Lc 22,7-13).

Dựa vào các đoạn Tin Mừng nhất lãm nêu ở trên, phải xác quyết là các môn đệ đã dọn lễ Vượt Qua cho Đức Giêsu mừng chung với cả nhóm Mười Hai.

Hơn thế nữa, tác giả Luca còn khẳng định rõ là :

“Ngài lên giường tiệc làm một với các tông đồ, và Ngài nói cùng họ : “Ta ước ao khao khát ăn lễ Vượt Qua này với các ngươi trước khi Ta chịu khổ nạn !…” (Lc 22,14-15).

Nếu dựa vào câu đó của Luca, thì không thể chối cãi được buổi Tiệc Ly là bữa ăn Vượt Qua của Đức Giêsu và các môn đồ.

Nhưng ngày hôm nay, có khá nhiều nhà chú giải Kinh Thánh cho rằng Tiệc Ly không là một bữa ăn Vượt Qua, với những lý do sau đây :

– Tin Mừng nhất lãm chỉ tường thuật việc dọn lễ Vượt Qua, nhưng khi tường thuật bữa ăn tối, thì không đả động gì đến lễ Vượt Qua Do-thái. Ngay cả chiên vượt qua cũng không được nói tới, mà chiên vượt qua là phần chính của bữa ăn Vượt Qua.

– Nếu ăn lễ Vượt Qua trước ngày lễ, thì vi phạm Lề Luật trầm trọng, là điều mà chắc chắn Đức Giêsu không muốn. Vả lại người Do-thái sẽ không để yên cho Đức Giêsu và các môn đồ vi phạm Lề Luật này. Còn nếu mừng lễ Vượt Qua đúng ngày, thì Đức Giêsu bị xử tử vào ngày nào ? Chả lẽ mọi sự đều xảy ra trong ngày lễ Vượt Qua ? Công nghị Do-thái, dù ác độc và bất công đến đâu cũng không dám trắng trợn vi phạm Lề Luật. Hay Đức Giêsu bị đóng đinh sau ngày lễ Vượt Qua ?

– Bằng chứng mạnh hơn cả là Tin Mừng Gioan định vị “việc Đức Giêsu bị bắt” vào đêm tối trước ngày lễ Vượt Qua, và được đưa đến Phủ đường, sợ mắc uế và không mừng lễ Vượt Qua được (Ga 18,28). (x. Marchadour, L’Eucharistie dans la Bible, Cahiers d’Evangile 37, p. 34-35).

Cho dù không công nhận Bữa Tiệc Ly là bữa ăn Vượt Qua, các nhà chú giải Kinh Thánh đều phải công nhận ít nhất là nó xảy ra trong bầu khí lễ Vượt Qua. Chắc chắn Đức Giêsu vừa nghĩ đến lễ Vượt Qua, vừa nghĩ đến cái chết sắp tới của Ngài. Và trong Bữa Tiệc Ly, Ngài đã nói lên ý nghĩa của cái chết ấy, đó là một cái chết tự hiến, một cái chết cứu chuộc, một cái chết mang lại sự sống, mang lại ơn giải thoát. Máu Ngài sẽ đổ ra cho nhiều người được tha tội, như máu chiên con bôi lên cửa nhà người Do-thái, để con đầu lòng của họ được tha chết. Dù là dựa vào Gioan hay vào các Tin Mừng Nhất Lãm, không thể chối cãi ý nghĩa Vượt Qua mà Đức Giêsu vừa gán cho cái chết của Ngài trên thập giá, vừa gán cho việc thiết lập bí tích Thánh Thể. Nói theo kiểu của cha Manaranche, Bữa Tiệc Ly có nội dung của Núi Sọ, được trình bày dưới hình thái bữa ăn. (Manranche, “Ceci est mon Corps” Seuil Paris, p. 84).

Hơn ai hết, tác giả Tin Mừng Gioan nhấn mạnh ý nghĩa vượt qua của Núi Sọ. Dưới mắt của Gioan, chính Đức Kitô mới là Chiên Vượt Qua đích thực (Lyonnet, Eucharistie et vie chrétienne, supplément à vue chrétienne, Juillet 1969, No 119, p. 22-23). Đàng khác, chính Đức Kitô cũng vượt qua thế gian về cùng Cha (Ga 13,1). Giờ của Ngài là Giờ Vượt Qua, Giờ “mọi sự đã hoàn tất” (Ga 19,30), Giờ Cao Điểm của Lịch sử cứu độ.

Đối với Israel cũ, “mầu nhiệm Vượt Qua” cô đọng tất cả Lịch sử cứu độ. Đối với Israel mới, Giờ Vượt Qua của Đức Kitô cũng cô đọng tất cả Lịch sử cứu độ, biến cố vượt qua trong Cựu Ước chỉ là hình bóng của Biến Cố Vượt Qua mới, là Vượt Qua đích thực, Vượt Qua trọn vẹn. Vì ý thức sâu xa về ý nghĩa vượt qua không những của Núi Sọ, mà của cả buổi Tiệc Ly, Giáo Hội cho đọc bài sách Xuất Hành 12, 1-8. 11-14 nói về Tiệc Vượt Qua trong chiều thứ Năm Tuần Thánh, kỷ niệm việc Đức Giêsu lập bí tích Thánh Thể. Nếu đồng ý rằng “quy luật cầu nguyện là quy luật đức tin” (lex ocrandi lex credendi) thì chúng ta phải công nhận ý nghĩa vượt qua thuộc về nội dung chính yếu của “mầu nhiệm Thánh Thể”.

Vì lý do ấy, chúng ta nên tìm hiểu sâu hơn về lễ Vượt Qua của người Do-thái, để nhờ đó hiểu đúng hơn và sâu hơn tư tưởng của Đức Giêsu.

A. LỄ VƯỢT QUA

Lễ Vượt Qua có lẽ là một lễ đã có từ lâu đời nơi những dân du mục. Khi bắt đầu mùa xuân, cây cỏ bắt đầu xanh tươi, các mục đồng đưa những đàn súc vật đi ra các đồng cỏ. Đây cũng là mùa mà các động vật mới sinh ra một thời gian ngắn, phải di chuyển với đàn súc vật, chấp nhận tất cả những hiểm nguy của đời du mục. Những người du mục tin thần thánh phù hộ cho các súc vật nhỏ bé của họ, với điều kiện là họ dâng lên cho thần thánh những con vật đầu lòng.

Những người Do-thái phiêu bạt sang Ai-cập có lẽ vẫn giữ phong tục này, hằng năm, cứ vào mùa Xuân, tế lễ con chiên đầu lòng dâng lên Thiên Chúa.

Trong bối cảnh lịch sử mới là “ách nô lệ” nặng nề bên Ai-cập, và biến cố Xuất Hành giải thoát toàn dân, lễ Vượt Qua đã mang một ý nghĩa mới, với những dấu vết lịch sử và đặc biệt là một cái nhìn đức tin về lịch sử. Máu chiên con bôi trên cửa những căn nhà người Do-thái là dấu hiệu giải thoát : thiên thần vượt qua nhà họ mà không đánh phạt con trai đầu lòng của họ, như giết chết con trai đầu lòng của người Ai-cập. Máu chiên Vượt qua giờ đây trở thành “dấu hiệu” người Do-thái thuộc về dân Thiên Chúa, được Thiên Chúa phù hộ và cứu khỏi ách thống trị của người Ai-cập. Dân Do-thái giờ đây kinh nghiệm được Tình Yêu và Quyền Năng của Giavê Thiên Chúa, Đấng cứu thoát họ. Và kinh nghiệm này trở thành trọng tâm niềm tin của Dân Thiên Chúa. Từ đây tất cả những tâm tình và tư tưởng tôn giáo của dân Israel đều xoay quanh cái trục này.

Nhưng khi dân đã vào Hứa địa, trên bình diện lịch sử, không có bằng chứng nào cho thấy người ta đã mừng lễ Vượt qua cách long trọng, mãi cho tới thời cải cách của vua Yôsya, tựa vào việc khám phá “Sách Đệ Nhị Luật” trong khi trùng tu lại Đền thờ (2V 22-23). Cuộc cải cách này nhấn mạnh đến việc tập trung cần thiết cho sự sống còn của đất nước Giuđa : một Thiên Chúa duy nhất, một dân tộc duy nhất, một nơi thờ phượng duy nhất là Đền thờ Giêrusalem. Cuộc cải cách để lại dấu vết sâu đậm trên đời sống tôn giáo của Dân Chúa : hằng năm người ta về Giêrusalem để cử hành lễ Vượt Qua.

Trong lễ Vượt Qua, giờ đây cô đọng tất cả Lịch sử cứu độ. Biến cố Xuất Hành vẫn là trọng tâm. Nhưng ngoài cái đêm thiên thần vượt qua và Môsê đưa dân Chúa ra khỏi Ai-cập, đêm Vượt qua còn bao hàm – theo như sách Targum – ba đêm khác nữa : đêm đầu là lúc Thiên Chúa khởi sựï công trình tạo dựng, lúc bóng tối còn bao phủ địa cầu và Lời của Người đóng vai trò tác tạo ; đêm thứ hai là lúc Thiên Chúa ký kết giao ước với Abraham, hứa ban cho ông một miêu duệ như sao trên trời, như cát dưới biển, đêm này còn bao gồm hy tế Isaac ; đêm thứ ba mới là đêm xuất hành ra khỏi Ai-cập, đêm giải thoát toàn dân, để toàn dân có thể phụng thờ Thiên Chúa, để dân trở thành “sở hữu” của Thiên Chúa, dân riêng của Thiên Chúa, và Thiên Chúa là Thiên Chúa của họ ; đêm cuối cùng là lúc Đấng Mêsia cánh chung xuất hiện, lúc “Con Người” đến trên mây trời để hoàn tất Lịch sử cứu độ.

Vì ý nghĩa lớn lao đó, mà Lễ Vượt Qua càng ngày càng trở nên quan trọng trong Do-thái-giáo.

Việc ăn chiên vượt qua theo phong tục của người du mục được kết hợp với lễ Bánh không men là lễ của dân Cananéens. Đó là lễ đầu năm của người dân làm nông nghiệp. Bắt đầu vụ mùa mới, người ta muốn bỏ hết các thứ men cũ dùng trong việc chế biến lương thực. Vì thế người ta sử dụng một thứ bánh không men để lưu ý là thời gian cũ đã qua, bắt đầu bước vào giai đoạn mới. Hai lễ này thường được mừng vào cùng một khoảng thời gian, nên việc kết hợp chúng lại trở nên dễ dàng. Vả lại lễ Bánh không men nhập vào lễ Vượt Qua làm cho lễ này mang thêm một chiều kích mới : sự sống luôn luôn phải mới mẻ, cũ phải qua đi, chỉ có mớùi tồn tại.

Ý nghĩa này rất phù hợïp với quan điểm của Đức Giêsu, với công trình cứu thế của Ngài, mang lại sự sống mới, thiết lập một Vương Quốc mới không thuộc về trần gian. Dĩ nhiên, việc ăn Bánh không men còn được giải thích là dấu chỉ “tư thế hành trình” của dân Chúa. Người ta vội vã, nên mới ăn bánh không men với rau diếp đắng (nhắc nhở cuộc sống đăéng cay thờøi nô lệ Ai-cập).

Thời Đức Giêsu, bữa ăn Vượt qua Do-thái trở thành khá phức tạp, trở nên một nghi lễ phụng vụ, trọng tâm của đời sống phụng tự Do-thái-giáo. Ngày lễ Vượt Qua là ngày rằm tháng thứù nhất mùa Xuân (tháng Nisan). Hôm trước ngày lễ, người ta đưa một chiên con vào Đền thờ sát tế. Máu rảy trên bàn thờ, phần thịt chiên thì giao lại cho người sở hữu đưa về gia đình để ăn lễ Vượt Qua. Bữa tiệc vượt qua có nhiều nghi lễ :

1. Đầu tiên, người ta rót đầy chén thứ nhất, và người chủ gia đình đọc lời chúc tụng trên chén. Mọi người cùng uống chén và cùng nhau đọc kinh cầu nguyện. Sau đó những người dự tiệc rửa tay và bắt đầu dùng rau đắng.

2. Sau phần “khai vị” nói trên, người ta đưa lên bàn thịt chiên con và bánh không men, rót đầy chén thứ hai. Chủ gia đình giải thích ý nghĩa buổi cử hành, và ý nghĩa biểu tượng của từng món ăn. Mọi người uống chén thứ hai, rồi lại rửa tay để ăn bữa chính. Chủ nhà lấy bánh không men, đọc lời chúc tụng, bẻ ra, đặt trên đó rau đắng ; và mỗi người ăn bánh với thịt chiên. Lời chúc tụng thường là phần đầu kinh “Hallel” trong Do-thái-giáo.

3. Sau đó, mọi người rửa tay lần nữa, và người ta lại rót đầy chén thứ ba, được gọi là “chén chúc tụng”, vì mọi người đọc kinh cảm tạ (berakha). Cuối cùng tất cả đứùng dậy, uống chén chót, hát kinh Hallel (Tv 112-117 ; 135), và nghi lễ Vượt Qua đến đây chấm dứt.

B. Ý NGHĨA VƯỢT QUA CỦA GIOAN VI

Cho tới nay, các tác giả Kinh Thánh vẫn tranh luận về cách giải thích đoạn VI Tin Mừng Gioan. Người thì giải thích theo nghĩa thiêng liêng, người thì giải thích theo nghĩa thực tiễn và bí tích. Ngay từ lịch sử khoa chú giải Kinh Thánh, đã có hai trường phái :

– Trường phái Alexandria giải thích theo ý nghĩa thiêng liêng.

– Trường phái Antiôkia theo ý nghĩa thực tiễn.

Luther và Calvin đều giải thích theo nghĩa thiêng liêng ; Công Đồng Trentô không phán quyết. Ngày nay đa số người tin lành theo nghĩa thiêng liêng ; đa số người công giáo theo nghĩa thực tiễn và coi đó là một đoạn bàn về bí tích Thánh Thể.

Một số người tin lành, cùng với Bultmann, cho rằng tiểu đoạn từ câu 51c đến hết câu 58, mà không ai có thể chối cãi đặc tính bí tích, là đoạn được thêm vào sau. Bằng chứng là nó hoàn toàn ngược với câu 63, nơi Đức Giêsu khẳng định là “chỉ có Thần khí mới tác sinh, xác thịt thì không ích gì”.

Thực ra lập trường của Bultmann rất khó minh chứùng ; lý chứng dựa vào câu 63 chưa đủ, vì vẫn có thể nối kết tính “thực tiễn” của bí tích với đức tin. Và Giáo Hội vẫn luôn coi bí tích Thánh Thể là Mầu Nhiệm đức tin. Hễ nói tới đức tin, thì không còn là lãnh vực của xác thịt và máu huyết, mà là lãnh vực của Thần Khí. Thần Khí không đi ngược với thực tiễn, không đi ngược con đườøng nhập thể, vì chính biến cố Nhập Thể cũng là công việc của Thần Khí. Thần Khí chỉ không chấp nhận dừng lại ở mắt phàm.

Đoạn 51c – 58 rõ ràng là một đoạn mang ý nghĩa bí tích, và ý nghĩa ấy tỏa ra trên toàn thể chương VI :

“Bánh Ta sẽ ban ấy là thịt mình Ta

vì sự sống thế gian.

Người Do-thái xô xát nhau mà rằng :

“Làm sao ông có thể cho ta ăn thịt mình được ?”

Vậy Đức Giêsu nói với họ :

“Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi :

nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài,

các ngươi không có sự sống nơi mình các ngươi.

Ai ăn thịt và uống máu Ta thì có sự sống đời đời,

và Ta sẽ cho nó sống lại trong ngày sau hết.

Vì thịt Ta là thật của ăn, và máu Ta thật là của uống.

Kẻ ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì lưu lại trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy.

Cũng như Cha, Đấng hằng sống, đã sai Ta,

Và Ta sống nhờ Ta,

Thì kẻ ăn Ta cũng vậy, nó sẽ sống nhờ Ta.

Bánh này là bánh bởi trời xuống ;

Không phải như cha ông các ngươi đã ăn và đã chết ;

Kẻ ăn bánh này sẽ sống đời đời”

Chỉ có đức tin mới nhìn ra được ý nghĩa sâu xa của bí tích. Chính vì thế mà tác giả nhấn mạnh thái độ cứng tin của nhiều người và kết thúc chương VI bằng lời tuyên tín của Phêrô đại diện cho các Tông đồ (c. 68-69). Và cũng ngay từ đoạn này, Đức Giêsu đã nói tới sự phản bội của Giuđa.

Nếu đọc kỹ, chúng ta sẽ nhận ra là tác giả rõ ràng có dụng ý muốn gán cho diễn từ Bánh Hằng Sống “ý nghĩa vượt qua”. Nhiều chi tiết là những dấu vết giúp chúng ta nhận ra “hậu cảnh” (fond) của diễn từ là biến cố Xuất Hành và ý nghĩa lễ Vượt Qua :

+ Thời gian : “Lễ Vượt Qua, đại lễ của người Do-thái đã gần” (câu 4)

+ Nơi chốn : “Đức Giêsu lên núi, và ngồi đó với môn đồ của Ngài” (câu 3).

+ Cách người Do-thái nhìn nhân vật Giêsu sau phép lạ hóa bánh ra nhiều : “Hẳn Ngài là vị Tiên tri, Đấng sẽ đến trong thế gian !” (câu 14)

Vị Tiên tri” này ắt hẳn là Đấng mà Môsê nói tới trong sách Đệ Nhị Luật (Tl 18,18).

+ Người Do-thái nhắc tới của ăn manna mà cha ông họ đã ăn trong sa mạc (câu 31).

+ Phép lạ làm bánh hóa ra nhiều được coi như một dấu chỉ lớn hơn, vượt trên phép lạ manna trong sa mạc (câu 32-33 ; câu 12-13).

+ Thái độ kêu ca của người Do-thái (câu 41 và 52) giống những lời phàn nàn của cha ông họ ở Marah (Xh 15,24), ngay cả khi nhận của ăn manna (Xh 16,2. 7 .12).

Rõ ràng trong đoạn VI Tin mừng Gioan, Đức Giêsu được coi là một Môsê mới, lớn hơn cả Môsê cũ, vì Môsê cũ không là tác giả của manna, mà chính là Thiên Chúa ; còn Môsê mới thì mang lại sự sống bất diệt, Môsê mới đồng hóa với bánh bởi trời, bánh hằng sống mà Chúa Cha ban, để những ai tin thì có sự sống đời đời (câu 47). Môsê mới không chỉ là bạn, là đầy tớ của Giavê, mà còn đồng hóa với Danh Hiệu Giavê trong sách Xuất Hành : “Chính là Ta” (câu 48 và 51 ; x. Xh 3,14-16).

IV.“HÃY LÀM VIỆC NÀY MÀ NHỚ ĐẾN TA !”

Nói về bí tích Thánh Thể, điều hết sức là bàn về ý nghĩa của việc cử hành mầu nhiệm. Giáo Hội cử hành bí tích Thánh Thể là thi hành lệnh truyền cuối cùng và quan trọng nhất của Chúa trong Bữõa Tiệc Ly. Nội dung lệnh truyền ấy là : “hãy làm việc này mà nhớ đến Ta !”

Việc này là việc gì ?

Phải chăng là ăn bánh và uống chén ?

Chắn chắc là đúng ! Vì bánh ấy là thịt, chén ấy là máu Đức Kitô. Theo đoạn VI Tin Mừng Gioan, Đức Kitô cũng ra lệnh truyền này : “Nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài, các ngươi không có sự sống nơi mình các ngươi” (Ga 6,53).

Phaolô còn nói rõ hơn : “Mỗi lần anh em ăn bánh ấy và uống chén ấy, anh em loan báo sự chết của Chúa, cho tới lúc Ngài đến. Cho nên kẻ ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, tất sẽ mắc tội đối với Mình và Máu Chúa” (1 Cr 11,26-27).

Nhưng phải chăng việc “ăn Bánh” với “uống Chén” là tất cả nội dung của chữ “làm việc này” ? Nói chung, thần học tin lành có khuynh hướng suy nghĩ và trình bày như thế ! Họ coi bí tích Thánh Thể là “Bữa ăn của Chúa” (cena Domini). Trong bữa ăn, quan trọng nhất là ăn và uống. Dĩ nhiên ăn và uống còn có nghĩa “kết hợp” với Chúa, để nhận lãnh sự sống từ Chúa. Kẻ nào không ăn bánh và uống chén, thì không được hiệp thông với Chúa ; kẻ nào ăn uống cách bất xứùng, thì mắc tội với Chúa. Quan niệm này rất đúng, nhưng có phần cực đoan, khi được dùng để chống lại quan điểm công giáo coi bí tích Thánh Thể là một Hy Tế. Vì chối đặc tính Hy Tế của Thánh Lễ, Luther và Calvin nhấn mạnh tối đa đến “Bữa ăn”, và coi bí tích Thánh Thể chỉ là bữa ăn, cho dù là bữa ăn mang tính “phượng tự”.

Trái lại, thần học công giáo, tuy không chối việc ăn và uống, nhưng nhấn mạnh đến việc “cử hành nghi lễ” như Chúa đã làm với những cử chỉ và lời nói của chính Chúa. Hơn thế nữa, cử hành Thánh Lễ là cửû hành Hy Tế Đức Kitô ở trên thập giá. Điều đó rất đúng, vì Thánh Lễ cũng là Hy Tế Đức Kitô. Nhưng nếu nhấn mạnh quá đáng để chống lại người tin lành, thì sẽ rơi vào cựïc đoan khác : quên bí tích Thánh Thể là “Bữa ăn tối” ; “Làm việc này” là “tổ chức bữa ăn”, là dùng bữa tối của Chúa. Một số người tin lành nhận xét rằng trong Thánh Lễ công giáo, chỉ có linh mục mới bị bó buộc giữõ lệnh truyền “Hãy cầm lấy mà ăn”, “Hãy cầm lấy mà uống” ; những người giáo dân muốn “rướùc lễ” hay không tùy ý. Người giáo dân bị bó buộc tham dự Thánh Lễ ngày Chúa nhật, nhưng chỉ buộc rước lễ một năm ít là một lần vào mùa Phục Sinh. Nhận xét này không sai.

May thay, với phong trào canh tân phụng vụ, Giáo Hội công giáo hôm nay nhấn mạnh nhiều đến phần “hiệp lễ”, khuyến khích giáo dân rước lễ thường xuyên.

Max Thurian, một nhà thần học tin lành có tinh thần đại kết, trong tác phẩm L’Eucharistie, công nhận lệnh truyền “làm việc này” của Chúa có nghĩa là cử hành lại điều Chúa đã làm trong Bữa Tiệc Ly, ít nhất là những điều chính yếu.

Muốn biết rõ Chúa Giêsu đã làm điều gì, đương nhiên phải dựa vào các bài tường thuật Bữa Tiệc Ly. Chúng ta có 4 bài tường thuật : Mt 26,26-28 ; Mc 14,22-24 ; Lc 22,19-20 ; 1 Cr 11,23-25.

Cả bốn bài tường thuật giống nhau trong những điều cốt yếu. Nhưng nếu so sánh với nhau, thì Matthêu và Marcô giống nhau hơn, Luca và Phaolô. Có lẽ các bài tường thuật thuộc hai truyền thống :

– Truyền thống phụng vụ Giêrusalem

– Truyền thống phụng vụ Antiôkia.

Có một vài khác biệt chi tiết :

–  Matthêu và Marcô ghi lại rằng Đức Kitô lập phép Thánh Thể, “đương lúc họ ăn”, mà không xác định rõ lúc nào trong khi ăn (Mt 26,26 ; Mc 14,22). Luca và Phaolô ghi nhận Đức Kitô hiến thánh rượu, “sau khi đã dùng bữa ăn tối xong”, nghĩa là vào lúc cuối ghi lễ ăn chiên Vượt qua Do-thái (Lc 22,20 ; 1 Cr 11,25).

– Matthêu và Marcô ghi lại công thức : “Này là Mình Ta”, mà không thêm gì (Mt 26,26 ; Mc 14,22). Phaolô thêm : “vì các ngươi” (1 Cr 11,24) ; Luca thêm : “thí ban vì các ngươi” (Lc 22,19).

– Matthêu và Marcô trực tiếp nhắc đến máu, khi Đức Kitô hiến thánh rượu : “Này là Máu Ta, Máu Giao Ước…” (Mt 26,28 ; Mc 14,24) ; Phaolô và Luca trực tiếp nhắc đến chén và giao ước, gián tiếp nói đến máu : “Chén này là Giao Ước Mới trong Máu Ta”  (Lc 22,20 ; 1 Cr 11,25).

– Trong Luca và Phaolô, có ghi lại lệnh truyền của Đức Giêsu “Hãy làm sự (việc) này mà nhớ đến Ta” (Lc 22,19 ; 1 Cr 11,24.25).

– Chỉ trong Matthêu có câu : “để nên ơn tha tội” (26,28).

Bốn bài tường thuật về việc thành lập phép Thánh Thể có trước khi được đưa vào các sách Tin Mừng và thư Phaolô. Chúng phát sinh từ môi trường phụng vụ sơ khai ở Giêrusalem và Antiôkia… Sau lưng các tác giả Tân Ước, có cả Giáo Hội truyền lại câu chuyện Tiệc Ly ; Giáo Hội tin và thực hành điều mà Giáo Hội sơ khai truyền lại, dưới sự giám sát của Hàng giáo phẩm, không cho phép sự thay đổi cốt yếu nào trong phượng tự và đức tin.

Bốn bài tường thuật là gia tài cổ kính do truyền thống “công giáo” của Giáo Hội để lại. Truyền thống này cổ kính và thế giá đến nỗi phải nhận rằng nó bắt nguồn từ bản thân Đức Kitô : “Chính tôi đã chịu lấy nơi Chúa điều tôi truyền lại cho anh em” (1 Cr 11,23).

Vì có nguồn gốc phụng vụ, cả bốn bài tường thuật ghi lại ít hơn những gì Đức Kitô đã nói trong Bữa Tiệc Ly. Do đó, chúng ta có quyền tự hỏi : trong bốn bài, bài nào gần với sự kiện hơn ? Theo một số nhà chú giải, rất có thể Truyền thống Antiôkia gần hơn cả, và trong đó, bài tường thuật của chính Phaolô ; theo một số nhà chú giải khác, thì Truyền thống Giêrusalem, và bài tường thuật của Marcô gần hơn cả.

Phụng vụ Thánh Thể của Giáo Hội La-tinh dung hòa cả bốn bài tường thuật, đúc kết lại thành những nét chính yếu, dùng trong phần Truyền phép của bốn Kinh Nguyện Thánh Thể, với sắc thái hơi khác nhau trong từng Kinh nguyện.

Kinh nguyện Thánh Thể I vừa nhắc tới một chi tiết lịch sử (“Hôm trước ngày chịu nạn”), vừa dùng những lời lẽ rất trang trọng, cho thấy những cử chỉ phụng vụ, những cử chỉ cầu nguyện trước, trong và sau bữa ăn theo phong tục Do-thái, đồng thời cũng bộc lộ được tâm tình đạo đứùc của Đức Giêsu và ý hướng của Người :

“Người cầm bánh trong tay thánh thiện và khả kính, ngướùc mắt lên trời, nhìn Chúa là Chúa Cha toàn năng của Người, tạ ơn Chúa, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ mà phán”.

Cử chỉ “ngước mắt lên trời” của Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly là một cử chỉ tạ ơn, chúc tụng của mọi người Do-thái khi họ đọc kinh. Ở đây cử chỉ ấy được giải thích cách sâu sắc : “Người nhìn Chúa là Chúa Cha toàn năng của Người”. Người vẫn làm như thế khi cầu nguyện ở giữa các môn đệ, nhưng giờ đây, lời cầu nguyện của Người tha thiết hơn. Người như muốn biểu lộ lòng yêu mến Chúa Cha một cách tuyệt đối, dâng hiến mạng sống của Người lên cho Chúa Cha làm hy lễ, để Chúa Cha tự do sử dụng bản thân Người, để Chúa Cha ban cho các môn đệ chính mình Người làm của ăn. Người tự hiến thân mình cho Thiên Chúa và tự hiến thân mình cho các môn đệ. Bánh và rượu mà Người dâng lên Thiên Chúa là dấu chỉ sự tự hiến của Người. Người đồng hóa bản thân với bánh và rượu mà Người dâng lên cho Thiên Chúa. Người coi cái chết sắp tớùi của Người như là một hy sinh tự nguyện, Người chịu chết để hoàn tất chương trình cứu độ của Chúa Cha. Giờø đây (hôm trước ngày chịu nạn), Người tự nguyện hiến dâng lên Thiên Chúa hy tế thập giá của Người. Khía cạnh tự nguyện này được Kinh Nguyện Thánh Thể II nhấn mạnh : “Khi tự ý nộp mình chịu khổ hình…”

Cái chết sắp tới của Người còn được biểu lộ bằng cửû chỉ “bẻ bánh”. Thân mình Người như tấm bánh được bẻ ra, phân phát cho các môn đệ làm của ăn. Người chết đi, để các môn đệ được sống. Người như hạt lúa mì phải mục nát đi, thì mới sinh nhiều bông hạt.

Người biết Chúa Cha yêu thương các môn đệ, nên sự tự hiến của Người cho các môn đệ hoàn toàn phù hợp với thánh ý của Chúa Cha. Người như “bánh sự sống”, “bánh bởi trời” mà Cha ban cho nhân loại. Người cũng đồng ý với Cha, thống nhất với Cha mà ban cho nhân loại : “Bánh Ta sẽ ban, ấy là Thịt mình Ta vì sự sống thế gian” (Ga 6,51).

“Tình yêu tự hiến cho Chúa Cha và tự hiến cho nhân loại”, là ý nghĩa sâu xa của cái chết thập giá, mà Đức Giêsu muốn mạc khải cho các môn đệ ngay trong Bữa Tiệc Ly. Đó là điều cốt yếu ! Và điều cốt yếu này đã được cả bốn bài tường thuật Tân Ước ghi lại.

Khi mạc khải Tình Yêu tự hiến mình, đương nhiên Đức Giêsu mời gọi các môn đệ hãy đón nhận. Hãy đón nhận tình yêu của Người, hãy đón nhận bản thân Người, cầm lấy bánh mà ăn là “đón nhận bản thân Người sẽ bị nộp” vì họ và vì chúng ta hết thảy.

Đặt trong bối cảnh Giao Ước, cái chết của Người quả thực là một hy tế giao ước được ký kết bằng máu, biểu lộ sự trung thành tuyệt đối của Thiên Chúa. “Thiên Chúa đã không tha cho chính Con của Người, nhưng đã phó nộp Ngài vì chúng ta hết thảy” (Rm 8,32). Chính Thiên Chúa đã yêu chúng ta đến cùng (usque ad finem). Và tình yêu đến cùng của Thiên Chúa biểu lộ qua việc Người phó nộp Con. Chúa Con cũng yêu đến cùng, vì Chúa Con mạc khải Tình Yêu  của Chúa Cha, nên Chúa Con cũng sẵn sàng chịu phó nộp.

Là con người, Đức Giêsu cũng yêu đến cùng trên bình diện con người. Ngài trung thành với Thiên Chúa đến cùng, Ngài vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá (Ph 2,8). Ngài đã ký Giao Ước bằng máu. Ngài biết chắc rằng Thiên Chúa sẽ chấp nhận Giao Ước. Giao Ước được ký kết giữa hai bên ; hai bên giờ đây cũng như một, vì tình yêu tuyệt đối trung thành mà cả hai bên dành cho nhau. Giao Ước ấy là Giao Ước vĩnh cửu ; chắc chắn sẽ mang lại ơn cứu độ đời đời.

Đức Giêsu mời gọi các môn đệ hãy thông phần Tân Ước vĩnh cửu mà Ngài đại diện cho nhân loại đã ký kết với Thiên Chúa là Cha của Ngài. Muốn thông phần Giao Ước, thì phải uống máu Giao Ước, bây giờ không còn là máu chiên, máu bò, mà là chính Máu của Ngài. Ngài giống như Chiên Vượt Qua chịu sát tế, đổ máu làm giá cứu chuộc nhiều người.

Theo một số chuyên viên Kinh Thánh và thần học, thì những lời chúc tụng mà Đức Giêsu đọc trên bánh và chén là những “berakha” Do-thái : những lời chúc tụng đội ơn vì Tình Thương của Thiên Chúa, vì những ơn lành mà Người đã ban, kèm theo những lời khẩn cầu (prières d’intercession). Nếu đúng như vậy, thì Bữa Tiệc Ly còn mang ý nghĩa khẩn cầu. Đức Giêsu, như Đấng Thượng Tế Giao Ước Mới, dâng mạng sống của Ngài để cầu khẩn ơn tha tội cho chúng ta. Sự tha thiết của lời cầu nguyện được minh chứng bằng cái chết hy sinh trên thập giá. Cái chết ấy là lời khẩn xin tuyệt hảo, lời khấn xin đầy tình yêu, đầy lòng tin tưởng, nên có giá trị thay cho mọi lần. Đức Kitô được tác giả thư Do-thái ví với Thượng Tế, “vào thánh điện một lần duy nhất” (Dt 9,12). Lời cầu nhờ cái chết đã trở thành bất diệt. Nhờ cái chết và sự Phục Sinh, Đức Kitô đã trở nên Đấng Thượng Tế vĩnh cửu, đồng thời là Chiên Con chịu sát tế, nhưng vẫn hiên ngang đứùng bên Ngai Thiên Chúa.

Mọi chi tiết trong bài tường thuật Bữa Tiệc Ly đều hướng về Núi Sọ. Tâm hồn của Chúa Giêsu hoàn toàn hướng về đó. Ngài như muốn “sống”, muốn “cảm nghiệm” giây phút ấy trước (anticiper la mort). Nói theo kiểu cha Manaranche, nội dung của Bữa Tiệc Ly đã là thập giá rồi.

Dù vậy, cần phải xác định rõ hơn nữa để tránh những giải thích sai lầm : chính bánh và rượu đã được Chúa Giêsu coi là “Mình” và “Máu” của Ngài. Cử chỉ bẻ bánh dĩ nhiên ám chỉ cái chết của Đức Giêsu trên thập giá, nhưng cử chỉ ấy không được Ngài coi như là “thân mình bị nộp” của Ngài. Cũng như cử chỉ đổ rượu vào chén, không được Ngài coi  như là máu của ngài đổ ra trên thập giá. Đức Giêsu, sau khi bẻ bánh, trao cho các môn đệ, Ngài mớùi nói : “Hãy lãnh nhận mà ăn, vì này là Mình Ta”. Ngài không nói những lời đó trong khi bẻ bánh, mà khi trao ban. Ngài trao ban bánh như là thân mình Ngài làm của ăn. Cũng thế, khi trao chén cho các môn đệ, Ngài mớùi nói : “Hãy lãnh nhận mà uống, vì này là chén Máu Ta”. Ngài không nói những lời đó khi rót rượu ; sau khi rót rượu, Ngài còn đọc lời chúc tụng, rồi trao cho các môn đệ, Ngài mớùi phán : “Các con hãy lãnh nhận mà uống, vì này là chén Máu Ta”.

Rõ ràng chữ “này” chỉ bánh và chỉ rượu. Bánh là Mình Thánh Chúa, rượu là Máu Thánh Chúa. Nhưng khi gọi bánh là thân thể Ngài, rượu là máu của Ngài, chắc chắn Đức Giêsu muốn nhắc lại cử chỉ bẻ bánh và cử chỉ rót rượu. Bánh đã được Ngài bẻ ra, và rượu đã được Ngài rót ra. Bánh và rượïu không chỉ là thịt và máu của Đức Giêsu theo nghĩa thuần túy vật chất, mà là thân mình tự hiến, thân mình chịu nộp và hy sinh trên thập giá, là máu đổ ra cho nhiều người được tha tội. Trong Bữa Tiệc Ly, cũng như trên thập giá, Đức Giêsu không những là Thượng Tế, mà còn là “của lễ hy sinh vô tỳ tích” (Dt 9,14).

MÀ NHỚ ĐẾN TA

Chúa Giêsu dạy chúng ta hãy cử hành Thánh Thể mà nhớ đến Ngài. Cha Nguyễn Thế Thuấn dịch giới từ hy lạp eis (eis) bằng chữ “mà”. Chữ mà rất mơ hồ, nhưng cũng rất hay. Đó là một chữ đệm, vừa để nối kết, vừa có thể hiểu ngầm nhiều ý. Có lẽ ý tưởng quan trọng hơn hết trong câu “Hãy làm việc này mà nhớ đến Ta” là ý tưởng chỉ “mục tiêu”, kèm theo sắc thái “chỉ nghĩa” (caractère signifiant). “việc này” chỉ về Ta, nói về Ta, cho nên “làm việc này” là “hướng về Ta”, hướng về mầu nhiệm trọng tâm của Lịch sửû cứu độ là “Tử nạn và Phục Sinh”. Hay, nói rõ hơn là “loan truyền việc Chúa chịu chết, tuyên xưng việc Chúa sống lại”.

Chữ “nhớ” trong tiếng Việt có lẽ hay hơn nhiều thứ tiếng khác, vì nó không những liên hệ với quá khứ, mà còn có tương quan với cả hiện tại và tương lai.

Nhớ không chỉ là “hồi tưởng”, là ôn lại trong ký ức những gì đã xảy ra với tư cách là quá khứ, ví dụ nhớ lại kỷ niệm thời thơ ấu. Nếu muốn nhấn mạnh quá khứ, tiếng Việt dùng chữ “nhớ lại”, “ôn lại”, chứ không dùng chữ “nhớ” suông hay “nhớ đến”.

Một ý nghĩa quan trọng của chữ “nhớ” trong tiếng Việt là “nhớ thương”, “nhớ thích”, có liên hệ tới quá khứ, nhưng hiện tại quan trọng hơn nhiều ; yếu tố quá khứ chỉ là khởi đầu dẫn vào hiện tại để rồi đưa đến tương lai.

Quan trọng hơn nữa, nhớ là “nhớ đến”, như bản dịch tiếng Việt của cha Nguyễn Thế Thuấn : “nhớ đến Ta”. Ví dụ : Tôi đang nhớ một người bạn, càng nhớ nhiều tôi càng yêu nhiều ; càng yêu nhiều tôi càng nhớ nhiều. Người bạn ấy hiện diện trong tôi, là hạnh phúc của đời tôi ; tôi sống nhờ người bạn ấy.

Như vậy, nhớ là nghĩ tới, không những bằng trí tuệ, mà bằng cả trái tim, và cứ sự thường, trái tim quan trọng hơn. Tôi có thể nghĩ tới quá khứ, cũng có thể nghĩ tới hiện tại và tương lai. Nhưng hiện tại bao giờ cũng làm cho tôi gắn bó hơn cả. Cái nhớ của tôi xây nền tảng trên hiện thực, vì có đối tượng là hiện thực.

Max Thurian, trong tác phẩm L’Eucharistie, trình bày chi tiết các loại nghi lễ “tưởng nhớ” (mémorial) trong Cựu Ước để nỗ lực giải thích lệnh truyền “Tưởng Nhớ” của Chúa.

Trước hết “Tưởng Nhớ”, đối với Dân Chúa là nhớ lại những kỳ công của Thiên Chúa, mà quan trọng hơn cả là biến cố Xuất Hành giải thoát Dân ra khỏi Ai-cập. Và “nhớ” trong một nghi lễ “tưởng nhớ” như lễ Vượït Qua không chỉ là nhớ lại, mà chủ yếu là nhớ đến, nhớ đến Tình Yêu cao cả của Thiên Chúa, Tình Yêu Toàn Năng biểu lộ rõ ràng nhất trong biến cố Vượt Qua. Tình Yêu ấy không chỉ là quá khứ mà là hiện tại. Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa không chỉ là quá khứ mà là hiện tại.

Một loại nghi lễ “tưởng nhớ” thứ hai là : “Xin Thiên Chúa hãy nhớ”. Dân Thiên Chúa như nhắc cho Thiên Chúa nhớ đến Giao Ước của Người, mà biểu lộ lòng thương xót và ban ơn tha thứ. Tưởng nhớ ở đây là nhắc lại, đúng hơn là “nhắc đến” Tình Thương của Thiên Chúa và hy vọng vào sự “trung thành” của Người (hesed), xin Người đáp cứu. Cũng có thể là nhắc cho Thiên Chúa nhớ đến những nhân vật mà người đã thương yêu, tuyển chọn để thực hiện chương trình cứùu độ của Người (Abraham, Isaac, Yacob, Môsê, Đavít).

Một ví dụ khá rõ trong Cựu Ước là “bánh trưng hiến” (pains de proposition). Đó là 12 cái bánh không men (tượng trưng 12 chi tộc) được đặt trước mắt Giavê Thiên Chúa thành hai hàng, mỗi hàng 6 cái (Lv 24,5-6 ; 1 Sm 21,5 ; 1 V 7,48). Bánh này được thay mới mỗi sáng thứ bảy (sabbat) ; bấy giờ các thầy tư tế mới được ăn (Lv 6,16). Trên bánh có hương thơm ngào ngạt bay lên trước tôn nhan Thiên Chúa, trướùc hết là để tôn vinh, chúc tụng Người, sau là để nhắc Người nhớ đến Giao Ước, đồng thời như tuyên thệ trung thành :

“Đoạn ngươi sẽ để trên mỗi chồng hương tinh chất : hương sẽ là phần kỷ niệm, hỏa tế dâng kính Giavê. Ngày hưu lễ, mỗi ngày hưu lễ, người ta sẽ soạn bánh thuẫn trước nhan Giavê, luôn mãi do tựï con cái Israel dâng : giao-ước vĩnh cửu. Đó là phần của Aharôn và các con nó, chúng sẽ ăn bánh thuẫn ở một nơi thánh, vì đó là vật cực thánh đối với nó, phần của hỏa tế của Giavê : luật điều vĩnh viễn” (Lv 24, 7-9).

Khi thay bánh trưng hiến, người ta đọc các thánh vịnh tưởng nhớ, ví dụ Tv 38 và Tv 70. Những thánh vịnh này cũng là những thánh vịnh cầu cứu :

“Lạy Thiên Chúa, xin giải thoát tôi,

lạy Giavê, xin mau mau cứu giúp tôi !” (Tv 70/ 69,2)

hay là những thánh vịnh thống hối, giãi bày tâm sự biểu lộ lòng trông cậy và xin cứùu giúp :

“Xin chớ bỏ tôi, lạy Giavê,

lạy Thiên Chúa tôi, xin chớ ở xa tôi !” (Tv 38/ 37,22)

Nghi lễ “dâng hiến” (sacrifice d’oblation) cũng vậy : một phần bột tinh, một phần dầu và hương thơm được đốt lên ; phần ấy được gọi là phần “tưởng nhớ” (Lv 2,1-3). Tưởng nhớ ở đây có nghĩa là “tuyên xưng” sự hiện diện của Thiên Chúa, nhắc đến Tình Yêu trung thành của Người, nhắc đến các việc Người làm cho dân. Phần ấy còn là dấu hiệu cho Thiên Chúa biết của lễ và ý nguyện của người dâng của lễ. (Mar Thurian, L’Eucharistie, Delachaux et Niestlé S.A, Suisse 1959, p. 56).

Lệnh truyền “… mà nhớ đến Ta” của Chúa chắc chắn không chỉ nhằm quá khứ. Cử hành bí tích Thánh Thể theo lệnh truyền của Chúa là nhớ đến Chúa. Chúa không chỉ là quá khứ, mà là quá khứ, hiện tại và tương lai. Chúa Kitô hôm qua, hôm nay và ngày mai vẫn là một. Nhớù đến Chúa là nhớ đến Tình Yêu của Ngài : Tình Yêu lớn nhất, Tình Yêu thí mạng sống cho kẻ mình yêu, Tình Yêu đã biểu lộ qua cái chết thập giá nhưng là Tình Yêu bất diệt, Tình Yêu hằng sống, Tình Yêu chiến thắng sự chết và làm cho sống lại.

Cử hành mầu nhiệm Thánh Thể là loan truyền việc Chúa chịu chết biểu lộ Tình Yêu tự hiến của Ngài, và tuyên xưng việc Chúa sống lại, vì Tình Yêu chiến thắng sự chết.

“Tưởng nhớ” trong bí tích Thánh Thể có đối tượng là hiện thực, là Biến cố cứùu độ bao trùm mọi biến cố, là thập giá cứùu độ vượt không gian và thời gian.

Nếu, một cách nào đó, biến cố Xuất Hành trở thành “hiện thực” trong việc “tưởng nhớ” của dân Chúa trong Cựu Ước, đặc biệt là trong lễ Vượt Qua, thì Thập Giá Cứùu Độ càng trở nên “hiện thực” hơn nữa đối với Giáo Hội, là Israel Mới. Sự hiện thực còn được bảo đảm là hiện tại, chứ không thuần túy là quá khứ, vì sự sống lại của Chúa. Chúa Kitô đang sống và Ngài đang đến với chúng ta trong bí tích Thánh Thể. Hơn thế nữa, so với Cựu Ướùc, nghi lễ “Tưởng Nhớ” ơn cứu chuộc là bí tích (không những là dấu chỉ mà còn là “hữu hiệu”, Mémorial efficace).

Nhớ đến Chúa còn có nghĩa là nhắc đến Chúa, là cầu nguyện với Chúa Cha bằng cách nhắc đến Con của Người chịu chết và sống lại, mà dâng lên Cha “Bánh Hằng sống” và “Chén Cứùu Độ” để tạ ơn Chúa Cha (Kinh Nguyện Thánh Thể II).

Chúa Kitô như “bánh trưng hiến” Hội Thánh dâng lên trước tôn nhan Thiên Chúa để xin Người thương đến Hội Thánh, thương những người còn sống, thương những kẻ đã qua đời : “Lạy Chúa, xin nhớ đến Hội Thánh Chúa lan rộng khắp hoàn cầu” (Kinh Nguyện Thánh Thể II).

Chúa Kitô như “của lễ hòa giải” được dâng lên Thiên Chúa để Người “ban cho Hội Thánh Chúa trên đường lữ thứ trần gian được vững mạnh trong đức tin và đức mến” (Kinh Nguyện Thánh Thể III).

Điều đáng lưu ý khác là nghi lễ “Tưởng Nhớ” không những vượt thời gian, vì thập giá cứùu độ vượt thời gian, mà còn vượt không gian : thập giá cứùu độ vượt không gian xứù Palestine mà hiện diện cách mầu nhiệm, vì Vị Chúa bị đóng đinh nay đã sống lại. Điều này cần phải lưu ý, để khỏi thắc mắc như Calvin là Đức Kitô đang ngự bên hữu Chúa Cha trên trời, làm sao có thể hiện diện thựïc giữa chúng ta trong bí tích Thánh Thể ?

Khi đề cập tới không gian, điều đáng lưu ý nữa là sự có mặt hay vắng mặt. Tôi nhớ tới một người đang vắng mặt, chứ không nhớ tới người đang có mặt, mà là đối diện, là ở với, ở giữa những người có mặt. Chúa Kitô ra lệnh : “… mà nhớ đến Ta”, phải chăng vì Ngài không có mặt ? Ngài vẫn sống, Ngài đang sống nhưng Ngài đang ở trên trời ? Chúa Kitô ra lệnh cho các môn đệ, cho Hội Thánh “hãy nhớ đến” Ngài, vì Hội Thánh không thấy Ngài bằng mắt phàm, mà thấy Ngài bằng đức tin, thấy Ngài bằng lòng mến. Một lần nữa, cần nhắc lại, “nhớ tớùi” là yêu, là tin, là gắn bó, và yêu ởû đây là yêu Ngài có mặt dù mắt phàm không thấy, vì thế mà vẫn cần dấu chỉ bánh và rượu (với tư cách là “sacramentum tantum” theo kiểu nói kinh viện).

Cuối cùng, nhớ đến Chúa còn là nhớ đến cuộc sống của Ngài, nhớ đến sứ điệp của Ngài. Sứ điệp ấy được đúc kết trong mầu nhiệm thập giá, cô đọng trong mầu nhiệm Thánh Thể. Nhớ đến Ngài là sống sứù điệp của Ngài, là đón nhận Tình Yêu và Sự Sống của Ngài và đem ra chia sẻ cho tha nhân. Nhớ đến Ngài là vượt qua với Ngài và tự hiến như Ngài. Nhớ đến Ngài là “tháp nhập vào với Ngài” trong mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài. Đây là con đường thiêng liêng dành cho mọi ki-tô-hữu (linh đạo Thánh Thể). Hay nói theo kiểu cha Manaranche, nền luân lý ki-tô-giáo là một nền luân lý Thánh Thể (éthique eucharistique), (x. “Ceci est mon Corps”, Seuil Paris, p. 119-176).

V. Đức Kitô HIỆN DIỆN

thực hiện lời Chúa truyền dạy, trải qua gần 2000 năm, không ngày nào mà Giáo Hội không cử hành việc bẻ bánh. Không ngày nào mà Giáo Hội không tưởng nhớ Chúa Kitô Tử Nạn – Phục Sinh.

“Tưởng Nhớ” trong bí tích Thánh Thể không là nhớ đến người vắng mặt, mà là nhớ đến Đấng có mặt. Nhớ tới Đấng đang đến. Vì thế, chúng ta phải bổ sung chữ “Tưởng Nhớ” bằng chữ “đón tiếp”, vì bất cứ từ ngữ nào cũng đều có giới hạn trước “Mầu Nhiệm Đức Tin” vô cùng trọng đại.

Quả thực, khi cử hành mầu nhiệm Thánh Thể, có thể đón Chúa Kitô đang đến với chúng ta. Chúng ta tin Chúa Kitô Tử Nạn Phục Sinh đang đến với chúng ta. Cử hành Thánh Thể là tuyên xưng “Chúa đang đến” (Maranatha, Le Seigneur vient), và chúng ta vui mừng đi đón Chúa.

Nếu Chúa không đến, thì Ngài không hiện diện. Và nếu Ngài không hiện diện, chúng ta không thể thông phần với Ngài. Chúng ta có thể ăn bánh và uống chén, nhưng vẫn không thông phần đích thực với Mình và Máu Ngài, và không thể trở nên Một Thân Mình với Ngài.

Vậy Ngài đến từ đâu và đến như thế nào, để chúng ta có thể đón Ngài ?

Ngài đã đến trần gian cách đây 2000 năm, ở một nơi nhất định là xứ Palestine. Ngài đã hạ mình chấp nhận mọi giới hạn không gian và thời gian, Ngài đã mặc xác phàm, trở thành một “cá nhân được định vị”. Nếu dừng lại đây, thì ngày nay chúng ta chỉ có thể “tưởng niệm” Ngài theo nghĩa thông thường, nhớ lại một nhân vật lịch sử đáng yêu, với những lời nói và hành động làm cho nhiều người phải ngỡ ngàng, với một sứ điệp yêu thương làm cảm động lòng người, và cuối cùng chết bi thảm khiến cho nhiều người phải khóc. Chúng ta nhớ lại Gương mặt Đức Giêsu và chúng ta ngưỡng mộ con người Đức Giêsu, dù vậy chúng ta không thể đón tiếp Ngài ngày hôm nay.

Nhưng ngày hôm nay Giáo Hội vẫn không ngừng đón tiếp Chúa Kitô, và sung sướùng hạnh phúc khi đón tiếp Ngài, vì Giáo Hội tin Ngài đã Phục Sinh, Ngài là Đấng Chúa đang đến. Ngài đã ra đi về cùng Chúa Cha bằng cái chết thập giá của Ngài. Mặc dù Kinh Thánh dùng nhiều hình ảnh có đặc tính không gian để diễn tả sự Siêu Thăng của Ngài (lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha), hành trình về với Cha của Ngài không mang tính không gian, trái lại còn vượt không gian và thờøi gian.

Về với Cha hay đến với Cha cũng là đến với nhân loại, đến với Hội Thánh, để ởû cùng Hội Thánh “mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Đức Kitô Tử Nạn – Phục Sinh vẫn là Đấng Emmanuel và càng là Đấng Emmanuel hơn nữa : Ngài là Thiên Chúa ở cùng chúng ta (Mt 1,23).

Ngài là Ngôi Lời đã làm người, và mãi mãi là người, vĩnh viễn là người, là con người viên mãn, là Ađam cánh chung, vì đã phục sinh. Ađam cánh chung không còn là xác khí huyết, mà là Thần Khí Tác Sinh (1 Cr 15,45), nên Ngài có thể đến với chúng ta hôm nay trong Thần Khí. Thực ra, từ khi Ngài chịu đóng đinh thập giá và Thiên Chúa đã cho Ngài sống lại (Cv 2,23-24 ; 3,13-15 ; 4,10-11), Ngài không ngừng đến với nhân loại chúng ta. (résurrection parousiaque ; x. DURRWELL, La résurrection de Jésus, mystère du salut, Cerf 1976).

Ngài chỉ có thể đến với nhân loại trọn vẹn khi Ngài đã “vượït qua thế gian”. Thế gian luôn luôn là lằn ranh ngăn cản sự hiệp thông trọn vẹn giữa Ngài với chúng ta. Chỉ khi nào về cùng Cha, Ngài mớùi đến với chúng ta cách trọn vẹn, và chúng ta sẽ xem thấy Ngài :

“Một ít nữa, các ngươi sẽ không còn trông thấy Ta,

và lại một ít nữa, các ngươi sẽ xem thấy Ta…

và : vì Ta đi đến cùng Cha” (Ga 16,16. 17).

Vượït Qua đi về cùng Cha là đi đến với nhân loại chúng ta trong Thần Khí, do đó Đức Kitô hiện diện với chúng ta trong Thần Khí ; một sự hiện diện mà mắt phàm không thấy được, nên phải cần dấu chỉ. Sự hiện diện trong Thần Khí nhờ dấu chỉ hữu hình được thần học gọi là “hiện diện nhiệm tích” (présence sacramentelle).

Cử hành mầu nhiệm Thánh Thể là cử hành Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô, cũng là đón Đức Kitô Vượt Qua đến với chúng ta, là cử hành sự hiện diện của Ngài, là mừøng Ngài có mặt giữa chúng ta, để chúng ta cùng Vượt Qua với Ngài.

Thông điệp Mysterium Fidei của Đức Phaolô VI nhắc nhở cho chúng ta đặc tính hiện thực của sự hiện diện này. Đó là sự hiện diện bí tích và là sự hiện diện bản thể.

Nhưng dù là hiện diện nhiệm tích, đồng thời là hiện diện bản thể, sự hiện diện của Chúa Kitô vẫn là hiện diện trong Thần Khí. Chính Thần Khí làm cho Ngài hiện diện bản thể cách bí tích. Trong khi cử hành Thánh Lễ, Giáo Hội cùng với Chúa Thánh Thần loan báo Chúa Kitô đến. Trước hết, Chúa Thánh Thần loan báo Chúa Kitô qua việc công bố Lời Chúa của Giáo Hội. Một cách nào đó, Chúa Kitô đến và hiện diện qua Lời Chúa. Nhưng cao điểm của loan báo là “làm cho bản thân Đức Kitô hiện diện”, hay, nếu dùng từ ngữ của Công Đồng Trentô mà Đứùc Phaolô VI lập lại là : “Làm cho Đức Kitô hiện diện bản thể”.

Chúa Thánh Thần Kitô-hóa bánh rượu, làm cho bánh rượu trở nên Mình và Máu Chúa Kitô, khi linh mục, thừa tác viên của Giáo Hội, thay mặt Chúa Kitô đọc lời Truyền Phép. Lời Truyền Phép mà linh mục đọc không là một câu thần chú có một ma lực biến bánh và rượu thành Mình và Máu Chúa Kitô, giống như linh mục có quyền trên Chúa Kitô, khiến Chúa đến thì Ngài phải đến.

Lời Truyền Phép chính là Lời của Chúa Kitô, Lờøi mà Chúa Kitô muốn nói qua môi miệng của linh mục. Chúa Kitô đã chọn một số người để họ lập lại y nguyên “lời truyền phép” của Ngài. Trong câu truyền phép, trên bình diện ngôn ngữ, có một sự đồng hóa nào đó giữa Chúa Kitô và vị linh mục, vì linh mục dùng một đại danh từ số ít, vừa chỉ mình, vừa chỉ Chúa Kitô : “Này là Mình Ta” (tôi) – “Này là Máu Ta” (tôi).

Có thể cho rằng Chúa Kitô đảm nhận lời đọc của linh mục, dù không lẫn lộn với linh mục. Chúa Thánh Thần lấp đầy “khoảng cách” giữa linh mục và Đức Kitô, khiến lời truyền phép trở nên “công hiệu”, làm cho nội dung của lời trở thành hiện thực (langage performatif). Nói cách khác đơn giản hơn, sau khi Truyền Phép, bánh không còn là bánh mà là Mình Thánh Chúa, rượu không còn là rượu mà là Máu Thánh Chúa. Đã có một sự thay đổi ; sự thay đổi ấy là thay đổi bản thể hay “biến thể” (conversio eucharistica : transubstantiatio). Đây là công việc của Chúa Thánh Thần, chứù không là công việc của người phàm, dù người ấy là linh mục. Vì ý thứùc điều đó, Giáo Hội thiết tha khẩn cầu trước lúc linh mục truyền phép :

“Chúng con nài xin Cha đổ ơn Thánh Thần xuống mà, thánh hóa của lễ này, để biến thành Mình và Máu Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con”. (Kinh Nguyện Thánh  Thể II).

“Lạy Cha, chúng con tha thiết nài xin Cha, cũng nhờ Chúa Thánh Thần, mà thánh hóa của lễ chúng con dâng hiến Cha đây, để trở nên Mình và Máu Đức Giêsu Kitô, Con Cha, Chúa chúng con” (Kinh Nguyện Thánh Thể III).

Lời khẩn cầu trong Kinh Nguyện Thánh Thể IV rõ ràng hơn cả :

“Lạy Cha, xin cho Chúa Thánh Thần đoái thương thánh hóa những của lễ này, để biến thành Mình và Máu Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con”.

Chúa Thánh Thần làm cho Chúa Kitô hiện diện thực sự ở giữa chúng ta, trong hình bánh và rượu. Điều đó không có nghĩa là Đức Kitô không hiện diện thực sự bằng những cách khác, ví dụ hiện diện qua lời Kinh Thánh, hiện diện trong Giáo Hội, hiện diện nơi những người nghèo khổ, hiện diện giữa hai hay ba người họp nhau cầu nguyện (Mt 18,20). Tất cả những cách hiện diện đó đều là hiện diện thực. Có điều khác là : Đức Kitô không đồng hóa với Lời Kinh Thánh, Lờøi Kinh Thánh được đọc lên không là bản thân Đức Kitô ; Đức Kitô cũng không đồng hóa với người nghèo, vì người nghèo không là bản thân Đức Kitô, dù Ngài đã nói trong diễn từ về phán xét cánh chung : “Ta đói các ngươi cho ăn, Ta khát các ngươi cho uống…” (Mt 25,35-36).

Trái lại, nơi bí tích Thánh Thể, sau lời truyền phép, bánh và rượu là Đức Kitô, là bản thân Ngài, là bản thể Ngài, là Mình và Máu Ngài. Trong bí tích Thánh Thể, sự hiện diện của Đức Kitô có một chiều sâu hữu thể mà không nơi nào có. Sự hiện diện đích thựïc và đặc biệt này của Đức Kitô là kết quả của một sự thay đổi (conversio eucharistica) mà Công Đồng Trentô cho rằng từ ngữ “biến thể” (transubstantiatio) phù hợp nhất để diễn tả. Tác động thay đổi này, chính là công việc Chúa Thánh Thần làm khi linh mục đọc lời Truyền Phép.

Trong thập niên 60-70, có một số nhà thần học, thời danh nhất là Schillebeeckx, tung ra những từ ngữ như “biến nghĩa” (transignificatio), “biến đích” (transfinalisatio) để chỉ sự thay đổi này. Và Đứùc Thánh Cha Phaolô VI đã lên tiếng, không phải để lên án hay dẹp bỏ, nhưng là để lưu ý coi chừng các từ ngữ ấy, tự chúng không diễn tả được hết ý nghĩa của sự thay đổi bản thể. Có thể chấp nhận những từ ngữ ấy, với điều kiện chấp nhận là có “biến thể” trước, rồi sự thay đổi ý nghĩa hay mục đích mớùi có (MF 46).

Nói cách khác, tiên vàn phải công nhận rằng sau lời Truyền Phép, bánh không còn là bánh, rượu không còn là rượu, dù bên ngoài, mắt chúng ta vẫn thấy hình bánh hình rượu, sau đó mới có thể khai triển những chiều kích khác, những ý nghĩa khác bổ sung vào, để cho con người ngày nay dễ hiểu và dễ sống mầu nhiệm Thánh Thể hơn (MF 48).

Như vậy là phải công nhận, theo như từ ngữ Thông điệp Mys terium Fidei lấy lại của Công Đồng Trentô, sau khi linh mục truyền phép bánh và rượu, Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô, là Thiên Chúa thật và là người thật, hiện diện đích thực (vere), hiện diện thực tế (realiter), hiện diện bản thể (substantialiter) trên bàn thờ (MF 45).

Để tránh mọi sai lạc, phải tuyên tín lại như Bérenger đã làm theo yêu cầu của Đức Thánh Cha Grégoire VII : “Tôi tin thật lòng và tuyên xưng ngoài miệng rằng bánh và rượu trên bàn thờ, bởi kinh nguyện thánh hiến và các lời lẽ của Đấng Cứu Thế, đã thay đổi bản thể, trở nên thịt đích thực (véritable), riêng (propre), và sống động (vivifiant), và máu của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô ; và sau truyền phép, là thân xác Đức Kitô sinh bởi Trinh Nữ, đã tự hiến để cứùu độ thế gian, đã bị treo trên thập giá và hiện nay ngự bên hữu Chúa Cha ; là máu Đức Kitô chảy ra từ cạnh sườøn Người. Đức Kitô không những hiện diện qua dấu chỉ và hiệu năng của bí tích, mà còn hiện diện trong bản tính riêng và trong bản thể thực sự của mình. (MF 52).

Nhà thần học Schillebeeckx thì cho rằng phải biết phân biệt tín điều của Công Đồng Trentô về sự hiện diện thực (présence réelle) của Đức Kitô trong bí tích Thánh Thể làm bốn bình diện khác nhau :

– Thứ nhất là “khẳng định” của Mạc Khải trong Kinh Thánh về sự hiện diện thực của Đức Kitô trong mầu nhiệm Thánh Thể ;

– Thứ hai là khẳng định sự thay đổi bản thể bánh và rượu (conversio totius entis) trở thành Mình và Máu Đức Kitô ;

– Thứ ba là cách trình bày tín điều của thời bấy giờ, dùng triết học kinh viện để diễn tả ;

– Thứ bốn là chính từ ngữ được dùng : chữ “transubstantiatio” được dùng lần đầu vào khoảng năm 1140, lúc bấy giờ chưa được giải thích theo nghĩa triết học Aristote. Vả lại Công Đồng Trentô cũng chỉ đánh giá từ ngữ này là “rất phù hợp” : “Có một sự biến đổi kỳ diệu (conversio mirabiliosa) tất cả bản thể bánh trở nên Mình Đức Kitô, và bản thể rượu thành Máu Đức Kitô. Cái còn lại được gọi là “dạng” (species). Dùng từ ngữ “transubstantiatio” để chỉ sự biến đổi này thì rất phù hợp” (D 1652).

Như vậy, đối với Schillebeeckx, vẫn có quyền trình bày tín điều bằng một loại ngôn ngữ khác, tựa vào một thứ triết học khác phù hợp với thời đại hơn.

Như đã khảo sát, Thông điệp Mysterium Fidei có hơi dè dặt và lưu ý chúng ta phải cẩn thận. Điều đó hợp lý và cần thiết, vì Mầu Nhiệm Thánh Thể là mầu nhiệm trọng tâm của đời sống Giáo Hội, không thể suy tư vội vã chỉ vì lý do làm sao cho hợp thời. Nhưng Thông điệp cũng không hoàn toàn đóng cửa, cấm những suy tư mớùi, ngay cả những suy tư mà Giáo Hội cho là “bất túc” (transfinalisatio, transignificatio). Thông điệp chỉ lưu ý là nên dựa vào Mạc Khải và Truyền Thống muôn đời của Giáo Hội nhiều hơn là những suy tư thuần túy nhân loại.

Thông điệp còn có ưu điểm là nhắc lại những cách hiện diện khác của Chúa Kitô trong Giáo Hội cũng là hiện diện thực, điều đó chứùng tỏ quan điểm của Thông điệp không hoàn toàn “đóng khung” hay “cứùng ngắc” :

– Đức Kitô hiện diện sống động và đích thực trong Giáo Hội cầu nguyện (MF 35)

– Đức Kitô hiện diện thực sự trong Giáo Hội tổ chức và thực hành bác ái (MF 35)

– Đức Kitô hiện diện thực sự trong Giáo Hội loan báo Tin Mừng (MF 36)

– Đức Kitô hiện diện trong Giáo Hội hướng dẫn và điều hành công việc mục vụ (MF 37).

Mục tiêu của việc nhắc lại này nhằm làm nổi bật tính “đặc biệt” của sự hiện diện của Đức Kitô trong mầu nhiệm Thánh Thể. Sự so sánh này làm cho chúng ta tránh được “tư tưởng mơ hồ” về bí tích Thánh Thể, đồng thời không giảm giá trị các thứù sinh hoạt khác trong Giáo Hội. Các sinh hoạt ấy càng có giá trị, khi quy hướng về Mầu Nhiệm Thánh Thể là “Nguồn Mạch và là Chóp Đỉnh” của đờøi sống Giáo Hội, như Công Đồng Vaticanô II khẳng định.

Thông điệp có một khuyết điểm là hơi thiếu “chiều kích Ba Ngôi”, không đặt nặng đủ vai trò của Chúa Thánh Thần, nên còn nhiều chỗ không có sức thuyết phục. Điều này cũng dễ hiểu, vì sắc thái “quy-Kitô” của thần học của Đức Phaolô VI. Thần học này còn phải được bổ sung, nhờ sự tiếp xúc nhiều hơn với Giáo Hội Đông Phương, mà kết quả hiện nay chúng ta đang gặt hái.

Các khuynh hướng thần học mà Thông điệp nhắc tới, đã phản ánh được não trạng của thời đại, nhưng thời bấy giờø vẫn chưa rõ, chưa đạt chất lượng cao. Theo thiển ý của chúng tôi, nếu so sánh xưa với nay, thì ngày xưa người ta nhấn mạnh nhiều đến yếu tố “sacramentum et res” của bí tích Thánh Thể, ngày nay, người ta nhấn mạnh nhiều hơn đến yếu tố “res tantum” (do ảnh hưởng sâu xa của Vatican II).

Khi nói tới ý nghĩa, mục đích của Bánh Thánh Thể, nên định vị suy tư thần học trong phần bàn về “res tantum”, nghĩa là sự sống của người kitô-hữu, đời sống Giáo Hội, để khỏi lẫn lộn và đề ra những khẳng định hàm hồ. Còn vấn đề “biến thể”, trên bình diện thần học, có liên hệ nhiều hơn với yếu tố “sacramentum et res”, nghĩa là chính thực tại Mình và Máu Đức Kitô.

Ngày hôm nay, nếu muốn khai triển nhiều về sự hiện diện của Chúa Kitô trong bí tích Thánh Thể, phải trình bày theo chiều hướng chủ vị nhiều hơn. Sự hiện diện của Chúa Kitô là sự hiện diện chủ vị (présence personnelle), hiện diện của Đấng là Tình Yêu tự hiến : “Này là Mình Ta sẽ bị nộp vì anh em ; …Máu Tân Ước vĩnh cửu sẽ đổ ra cho anh em và nhiều người được tha tội”.

Chúa Kitô hiện diện với chúng ta là những người tin vào Ngài. Ngài đến với chúng ta, và chúng ta đón Ngài trong đức tin (trong Thần Khí). Nếu chúng ta không đón Ngài trong Thần Khí, mà vẫn dừng lại xác phàm, chúng ta không gặp gỡ được Ngài, vì chính Ngài, sau khi đã khẳng định : “Ai không ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì không có sự sống nơi mình” (Ga 6,53), cũng đã tuyên bố : “Thần Khí mới tác sinh, xác thịt thì không ích gì” (Ga 6,63).

Nếu thần học trong hai thập niên 60-70 và 70-80 nhấn mạnh nhiều hơn đến yếu tố thứ ba (res tantum) trong Mầu Nhiệm Thánh Thể, thì thần học hôm nay, sắp bước sang năm 2000, với sự hồi sinh của tôn giáo nhiều nơi trên thế giới, phải mạnh dạn trở về với yếu tố thứ hai (res et sacramentum), hãy mạnh dạn giới thiệu, mạnh dạn loan báo Đức Kitô Thánh Thể cho con người hiện đại, để tự họ, họ có thể múc lấy sự sống mà họ luôn khao khát. Hãy mạnh dạn tuyên xưng và làm chứng cho sự hiện diện thực của Chúa Kitô ở giữa lòng thế giới, phải hỗ trợ cho lời mời gọi của Đức Gioan Phaolô II : “Hãy mở cửa cho Đấng Cứu Thế”.

Việc làm này sẽ sâu sắc hơn, nếu được lồng vào thần học về Chúa Ba Ngôi, nhất là Thánh-Linh-Học. Nhân loại hôm nay đang cần gặp Đức Kitô Cứu Thế, nhờ Thần Khí và trong Thần Khí. Đối với người tín hữu, tấm bánh bẻ ra là bằng chứng cho Tình Yêu bao la nhất và cụ thể nhất của Thiên Chúa, mạc khải nơi Đức Kitô, Đấng trở thành lương thực hằng ngày cho mỗi một người chúng ta, lương thực cần thiết để kiến tạo một thế giới mới.

VI. ĐỨC KITÔ, BÁNH HẰNG SỐNG VÀ CHÉN CỨU ĐỘ

Có người cho rằng một xã hội còn thiếu thốn thì nghĩ nhiều, nói nhiều đến lương thực. Của ăn, của uống là điều thực tế, gần gũi và cần thiết nhất cho con người. Thiên Đàng cũng chỉ là nơi con người được ăn uống đầy đủ, được no thỏa.

Trong Cựu Ước, hạnh phúc sau cùng của Dân Chúa được diễn tả bằng hình ảnh bữa tiệc cánh chung, bữa tiệc mà Thiên Chúa Giavê tổ chức trên Núi Thánh, bữa tiệc đầy thịt, đầy rượu. Bữa tiệc  mà Thiên Chúa ban cho nhưng-không, mời gọi mọi người đến tham dự, uống rượu uống sữa thỏa thuê, không phải trả tiền. Bữa tiệc hoan lạc, khi Thiên Chúa cất khăn tang bao trùm mặt đất ; không ai còn phải khóc phải than, mọi người vui mừng hớn hở vì được hạnh phúc dư đầy (Is 25,6-10).

Vì sự gần gũi, thực tế của bữa ăn trong đời sống con người, vì sự no thỏa và niềm hoan lạc mà nó đưa tới, bữa ăn hay được sử dụng như một biểu tượng cho sự kết hiệp giữa Thiên Chúa với Dân của Người, tổ chứùc trên Núi Thánh hay trong Đền Thờ. Sự kết hiệp với Khôn Ngoan của Giavê cũng được diễn tả bằng hình ảnh ăn và uống. Trong sách Cách Ngôn, “Khôn Ngoan” dọn tiệc và mời gọi mọi người : “Hãy đến ! Hãy ăn bánh của Ta, hãy uống rượu Ta đã hãm” (Cn 9,5).

Đối với Đức Kitô, Đấng là Sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa, Con Một Thiên Chúa, bữa ăn cũng mang nhiều ý nghĩa cho cuộc sống và sứ vụ của Ngài :

– Bữa ăn là “hình ảnh niềm vui thời Thiên Sai”, Đức Kitô tự ví mình như “Tân lang” (giống Giavê trong Cựu Ước) đang hiện diện ở giữa Dân Ngài. (Mc 2,18-19).

Đức Kitô thường dùng bữa với những người thu thuế và tội lỗi ; dấu chỉ sứ mạng cứu thế của Ngài. Ngài đến thế gian để cứu chuộc những người tội lỗi. Những người Do-thái, nhất là giới biệt phái và luật sĩ không thể hiểu và chấp nhận cách cư xử của Ngài (Lc 7,33-35).

– Nước Trời thường được Ngài ví như bữa tiệc dành cho mọi hạng người (Lc 14,15-24).

Giáo Hội thì có thể được ví như Ngôi Nhà của Khôn Ngoan, nơi người ta phân phát bánh và rượu, dấu chỉ sự sống thần linh.

Nguồn gốc khởi đầu của việc cử hành bí tích Thánh Thể có lẽ là “bữa ăn phượng tự” (repas cultuel), nơi đó người ta “bẻ bánh”, trao cho nhau để tưởng nhớ cuộc Khổ Nạn và sự Phục Sinh của Đức Kitô. Bí tích Thánh Thể là “Bàn ăn của Chúa”, là “Bữa tối của Chúa” (Cena Domini), là “Bánh bẻ ra”. Bí tích Thánh Thể được cử hành dưới hình thái bữa ăn, vì hình thái này rất phù hợp để biểu lộ sự hiệp thông sâu xa nhất. Chính vì bữa ăn cùng bàn ăn biểu lộ sự chia sẻ tình yêu và số phận, mà Đức Giêsu vô cùng đau đớùn khi nghĩ tới sự phản bội của Giuđa, người môn đệ cùng với các môn đệ khác đồng bàn với Ngài, cùng ăn cùng uống với Ngài : “Sẽ nộp Ta, một người cùng ăn với Ta” (Mc 14,18 ; Ga 13,21-22).

Bàn Tiệc Ly, không phải tự dưng mà có, nhưng đã được chuẩn bị từ lâu. Đức Giêsu đã kêu gọi mười hai môn đồ, để họ ở với Ngài (Mc 3,14), cùng ăn và cùng uống với Ngài. Bữa ăn chung, dù là đơn sơ, là môi trường tạo ra tình yêu, là sự “ấm cúng” của tình yêu, là hạnh phúc cho những người yêu thương nhau chân thựïc. Theo Tin Mừøng Luca, một người biệt phái đồng bàn với Chúa Giêsu, vì thích chí đã thốt lên : “Phúc cho kẻ được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa” (Lc 14,15).

Tất cả thần học của Phaolô về bí tích Thánh Thể xoay quanh hai chủ đề có quan hệ mật thiết với nhau : bánh và chén – bàn tiệc của Chúa : “Chén chúc tụng ta cầm lên mà đội ơn, lại không phải là thông phần Máu Đức Kitô sao ? Bánh ta bẻ ra, lại không phải là thông phần Thân Mình Đức Kitô sao ?”  (1 Cr 10,16).

Đó là những từ rất quen thuộc đối với người kitô-hữu gốc Do-thái. Chén chúc tụng là chén mà người Do-thái cầm lên vào cuối bữa tiệc để chúc tụng và đội ơn Thiên Chúa. Theo Jérémias, đó là chén thứ ba trong bữa tiệc Vượt qua, sau phần chíng của bữa. Và đó cũng là chén rượu mà Chúa đã cầm lên, đọc lời chúc tụng và trao cho các môn đệ mà phán : “Này là chén Máu Ta…”. Những lời chúc tụng ấy là lời chúc tụng trong bữa ăn, đại loại như sau :

– “Xin chúc tụng Ngài, lạy Chúa là Thiên Chúa của chúng con, là Vua vũ trụ, là Đấng nuôi dưỡõng toàn thể nhân loại bởi lòng tốt, ân sủng và sự thương xót của Ngài”.

– “Chúng con tạ ơn Ngài, ôi lạy Chúa là Thiên Chúa của chúng con, vì Ngài đã ban phát cho chúng con một xứ sở tốt đẹp và rộng rãi”.

– “Xin thương xót, lạy Chúa là Thiên Chúa của chúng con, xin thương Israel Dân Chúa, Giêrusalem thành đô của Chúa, Sion, nơi cư ngụ của uy phong Ngài, là Đền Thờ và là Bàn Thờ của Ngài. Xin chúc tụng Ngài, lạy Chúa, Đấng đã xây dựng Thành Giêrusalem”. Amen.

Những người kitô-hữu đã dùng những lời chúc tụng tương tự có phần giống, có phần khác ; phần khác chủ yếu là những lời nói tớùi Đức Giêsu Kitô, cái chết và sự phục sinh của Ngài. Những kitô-hữu, hợp nhau lại cầu nguyện, cử hành Thánh Thể, được thông phần chén ấy. Và khi uống từ chén rượu ấy là được thông phần với Máu Đức Kitô.

Bánh cũng thế. Trong bữa tiệc Do-thái, người chủ tiệc, sau khi uống chén rượu thứ nhất, cầm lấy bánh, bẻ ra và trao cho những người ngồi gần, để họ chuyền đi cho mọi người trong bàn tiệc, mỗi người một miếng, bấy giờ chủ tiệc mới đọc lời tạ ơn, đại loại như sau :

“Xin chúc tụng Ngài, lạy Chúa là Thiên Chúa của chúng con, Đấng làm phát sinh ra bánh từ trái đất”. Amen. 

Những người kitô-hữu khi cử hành Thánh Thể, cũng được thông phần cùng một bánh mà vị chủ sự bẻ ra và trao cho từng người. Ăn bánh bẻ ra, đó là thông phần Thân Mình Đức Kitô.

Sự thông phần cùng một bánh này, nối kết mọi người kitô-hữu nên một Thân Mình, vì mọi người đều cùng ăn một bánh, chia sẻ cùng một sự sống, được nuôi dưỡng bằng cùng một của ăn duy nhất.

Việc ăn bánh và uống chén ở đây, chắc chắn hiểu là việc cử hành bí tích Thánh Thể, vì rõ ràng mang màu sắc phượng tự. Cả văn mạch từ câu 14 đến hết câu 22 của đoạn X, đều đầy màu sắc phượng tự từ đầu chí cuối. Nhưng việc phượng tự biểu lộ bằng việc ăn uống :

“Tôi không muốn anh em thông phần với ma quỉ ! Anh em không thể uống cả chén của Chúa, cả chén của ma quỉ ! Anh em không thể chia phần vừa nơi bàn tiệc của Chúa, vừa nơi bàn tiệc của ma quỉ !” (1 Cr 10,20-21).

Ăn bánh và uống chén là thông phần Mình Máu Chúa Kitô, kết hiệp mật thiết với Ngài, sống bằng sự sống của Ngài, và điều đó, đối với người kitô-hữu là quan trọng hơn cả, có thể nói, là cốt yếu nữa.

Hiệp thông với Chúa Kitô trong bí tích Thánh Thể là hiệp thông với cuộc Tử Nạn của Ngài, với Hy Tế Thập Giá của Ngài, là thông phần với Máu Giao Ước đổ ra cho nhiều người được tha tội.

Hiệp thông với Chúa Kitô là ăn “của lễ” mà Ngài hiến dâng cho Chúa Cha, cũng chính là thân mình Ngài. Đó là của lễ mà Giáo Hội dâng lên cho Chúa Cha, để tạ ơn Cha :

“Chúng con dâng lên Cha lễ tế hằng sống và thánh thiện này để tạ ơn Cha”.

Chúng con nài xin Cha đoái nhìn lễ vật Hội Thánh dâng lên Cha, và khi nhận ra đó là của lễ mà Cha muốn hiến tế để đẹp lòng Cha, xin cho chúng con được bổ dưỡng bởi Mình và Máu Con Cha, cũng được tràn đầy Chúa Thánh Thần, hầu trở nên một thân thể và một tinh thần trong Đức Kitô” (Kinh Nguyện Thánh Thể III).

Hiệp thông với Đức Kitô trong bí tích Thánh Thể cũng là thông phần sự sống của Đấng Chúa Phục Sinh, và vì thế được tràn đầy Chúa Thánh Thần. Sau lời Truyền Phép, bánh đã trở thành Bánh Hằng Sống, vì là Mình Thánh Chúa Kitô, và chén trở thành Chén Cứùu Độ, vì đó là Máu Thánh Chúa Kitô. Giáo Hội dâng lên Thiên Chúa Bánh Hằng Sống và Chén Cứùu Độ để tạ ơn Người. Nhưng liền sau đó lại nài xin Thiên Chúa cho được thông phần Mình và Máu Đức Kitô để được hợp nhất với nhau nhờø Chúa Thánh Thần. (Kinh Nguyện Thánh Thể II).

Bí tích Thánh Thể là bữa ăn : ăn Bánh và uống Chén để được thông phần Mình và Máu Chúa Kitô là điều tối quan trọng. Nhưng không là một bữa ăn phàm tục như mọi bữa khác, mà là “bữa tối của Chúa”. Do đó thói tục ở nhiều nơi, đặc biệt là ở Côrintô, tụ họp nhau lại, ăn uống vui vẻ, và cuối bữa ăn mới “bẻ bánh thánh”, ngay từ thời Phaolô đã được yêu cầu dẹp bỏ, vì người ta hay lạm dụng :

“Cứù như cách anh em hội hiệp cùng nhau một chỗ, thì không phải còn là để ăn tối của Chúa. Vì mỗi người lo đánh bữa riêng của mình trước và người thì đói, kẻ lại say mèm. Bởi anh em không có nhà mà ăn uống sao ?” (1 Cr 11,20-22).

Không thể đặt việc ăn Bánh và uống Chén trong bí tích Thánh Thể ngang hàng với một bữa tiệc thường :

“Vì mỗi lần anh em ăn Bánh và uống Chén ấy, anh em loan báo sự chết của Chúa, cho tới lúc Ngài đến. Cho nên kẻ ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, tất sẽ mắc tội với Mình và Máu Chúa” (1 Cr 11,26-27).

Đây là một bữa ăn tưởng nhớ sự chết của Chúa, nơi chúng ta lãnh nhận Mình và Máu của Chúa, sự sống mà Chúa ban cho nhờ cái chết của Ngài. Chính vì thế, ăn Bánh và uống Chén là loan báo, “loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến”.

Chúa Kitô hiện diện trong bí tích Thánh Thể với tư cách là của ăn và của uống, là lương thực thần linh mà Chúa Cha ban cho chúng ta. Không nên tách rời hai yếu tố hiện diện và lương thực dưỡng nuôi. Nếu chỉ giữ lại yếu tố thứ hai, thì đó chỉ là biểu tượng, chỉ là hình ảnh Tình Yêu của Chúa đối với ta và tình yêu của ta đối với Ngài ; nếu chỉ giữ lại yếu tố thứ nhất, thì sự hiện diện của Ngài hóa ra vô nghĩa, không mang lại sự sống gì cho chúng ta, và cuối cùng không khác gì những cách thức hiện diện khác của Ngài, có khi còn kém hơn, vì Lờøi Chúa cũng là của ăn dưỡng nuôi tâm hồn ta.

Được hiệp thông với Chúa, chúng ta sống bằng sự sống của Chúa. Chúa Phục Sinh là Thần Khí như Phaolô nói, nên có sự sống của Ngài là có Thần Khí. Phụng vụ không ngừng nhấn mạnh việc lãnh nhận Thần Khí trong Mình và Máu Chúa Kitô. Hiệp thông với Chúa Kitô, chúng ta trở nên con người đầy Thánh Thần như Chúa Kitô. Chúa Thánh Thần vừa là mối dây hiệp thông, vừa là hoa quả đẹp nhất của Hiệp Thông bí tích. Sự sống của Chúa Kitô mà chúng ta lãnh nhận cũng là sự sống thần linh mà Chúa Cha ban cho Ngài. Như chính Chúa Kitô đã nói : “Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta cũng vậy, nó sẽ sống nhờ Ta” (Ga 6,57).

Bí tích Thánh Thể biểu lộ Tình Yêu bao la vô hạn của Chúa Kitô và Thiên Chúa ở chỗ chúng ta được thông phần, được sống bằng cùng sự sống với Chúa Kitô. Trong bức họa của Rublev, “Chén” đặt trên bàn, ởû giữa Ba Ngôi Thiên Chúa là Chén Hiệp Thông, chứùa đựng sự sống thần linh, chứa đựng tình yêu tự hiến của Cha và của Con cho nhau. Chén ấy được Ngôi Hai Thiên Chúa mang xuống trần gian, trở thành Chén Cứùu Độ trần gian, mà mọi người được kêu gọi thông phần.

Mầu Nhiệm Thánh Thể đâm rễ sâu vào Mầu Nhiệm Ba Ngôi, xây dựng trên tình yêu Ba Ngôi, mang lại sự sống Ba Ngôi, biểu lộ Tình Yêu Ba Ngôi, và cuối cùng đưa chúng ta vào quỹ đạo tình Yêu Ba Ngôi.

Hiệp thông Thánh Thể còn một hoa quả nữa là sự kết hiệp mật thiết giữa những người kitô-hữu : “Chỉ có một bánh, nên ta tuy là nhiều, ta cũng chỉ là một thân mình” (1 Cr 10,17).

Dây liên kết chúng ta với Đức Kitô cũng sẽ liên kết chúng ta với nhau là Chúa Thánh Thần. Nhờ nên một với Chúa Kitô, mà chúng ta nên một với nhau. Bí tích Thánh Thể, trước khi là bữa ăn huynh đệ, phải là “Bữa tối của Chúa” (Cena Domini). Trong bí tích Thánh Thể, chúng ta hiệp thông với Đức Kitô Trưởng Tử, trở nên anh em với nhau và con cùng một Cha trên trời. Nhưng xét về phương diện khác, sự hiệp thông đức ái với nhau là điều kiện mà Đức Kitô đòi hỏi để dâng của lễ :

“Nếu ngươi dâng của lễ nơi bàn thờ, và ở đó nhớ ra anh em có điều gì bất bình với ngươi, hãy đặt của lễ đó trước bàn thờ, đi làm hòa với anh em ngươi trước đã, rồi bấy giờ hãy đến dâng lễ vật của ngươi” (MT 6,23-24).

 

 

BÍ TÍCH THÁNH THỂ VÀ MẦU NHIỆM BA NGÔI

 

Công đồng Vatican II đã nhìn Bí tích Thánh Thể như trung tâm, nguồn mạch và chóp đỉnh của tất cả đời sống Kitô giáo (PV 10, GH 11). Là Bí tích tình yêu, dấu chỉ hiệp nhất, mối dây bác ái (T. Augustinô, In Johannis Evangelium tractatus XXVI, ch. VI, s. 13 : PL 35, 1613), bí tích Thánh Thể đưa người tín hữu hiệp thông với Mình và Máu Chúa Kitô nhận lãnh tràn đầy sức sống của Người trong Chúa Thánh Thần để tôn vinh Thiên Chúa Cha. Nơi bàn tiệc Tạ ơn, các tín hữu biểu lộ một cách cụ thể mối dây hiệp nhất của Dân Thiên Chúa, họ trở nên Thân thể-Giáo Hội của Chúa Kitô và xây dựng Giáo Hội thành Đền thờ Chúa Thánh Thần.

Cử hành Thánh Thể là cử hành trong “Ân sủng Chúa Kitô, Tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần” (2 Cr 13,13 ; x. Nghi thức Thánh lễ).

Như thế, chúng ta thấy Mầu nhiệm Ba Ngôi và Thánh Thể liên hệ chặt chẽ với nhau bởi vì cử hành Thánh Thể là hành vi tạ ơn và tôn vinh của Giáo Hội hướng về Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, trong Chúa Thánh Thần. Trong mầu nhiệm hiệp lễ, người tín hữu nhận được sự sống của Chúa Kitô đầy Thánh Thần để tôn vinh Chúa Cha và khi được Chúa Kitô nuôi dưỡng, người tín hữu hiệp nhất với nhau trong một Chúa Thánh Thần để đi về Nhà Cha.

Chúng ta sẽ suy tư về mầu nhiệm Thánh Thể trong tương quan với mầu nhiệm Ba Ngôi. Trong mối tương quan này, chúng ta sẽ thấy Thánh Thể là “nơi” ưu tiên để Giáo Hội sống Mầu nhiệm Ba Ngôi và trong Mầu nhiệm thẳm sâu của Ba Ngôi, người tín hữu sẽ cảm nghiệm được Thánh Thể là bàn tiệc mà mỗi ngày Thiên Chúa dọn ra cho chúng ta.

I. BÍ TÍCH THÁNH THỂ: MỘT VẬN HÀNH HAI CHIỀU   

Về phía Giáo Hội, Thánh Thể là lời chúc tụng tạ ơn của Giáo Hội hướng lên Ba Ngôi. Về phía Thiên Chúa, Thánh Thể là Hồng ân và lời chúc phúc của Ba Ngôi Thiên Chúa cho Giáo Hội.

Giáo phụ I-rê-nê-ô đã mô tả vận hành từ dưới lên trên của mầu nhiệm Thánh Thể như hành trình của con người hướng lên Thiên Chúa và gặp gỡ Thiên Chúa, hành trình này băét đầu trong Chúa Thánh Thần, “bước đi của những người được cứu rỗi và bước đi lên của họ. Nhờ Chúa Thánh Thần, họ đi lên với Chúa Con và nhờ Chúa Con, họ đến với Chúa Cha và rồi Chúa Con giao lại công trình của Người cho Chúa Cha” (Contre les hérésies V, 36, 2).

Giáo phụ Ba-si-li-ô lại diễn tả mầu nhiệm này trong vận hành từ trên xuống dưới như hành trình Thiên Chúa đến với con người. Chúa Cha là Khởi điểm của hành trình này. Thiên Chúa trao ban và con người đón nhận “sự tốt lành, thánh thiện và vinh dự thuộc hàng vương đế chảy xuống từ Chúa Cha, qua Con duy nhất đến Chúa Thánh Thần” (Traité du Sanit-Esprit, 18, 47). Và ta có thể thêm : nhờ Chúa Thánh Thần xuống trên tất cả tạo vật.

Như thế, vận hành hai chiều này được thực hiện nơi cử hành Thánh Thể : Thiên Chúa gặp gỡ con người để chúc lành và thánh hóa ; con người gặp gỡ Thiên Chúa để tôn vinh và đón nhận sự sống của Thiên Chúa. Thiên Chúa đến với con người để cho con người được ơn cứu độ và con người đi lên với Thiên Chúa như người con đến với Cha. Nơi bàn tiệc Tạ ơn, Thiên Chúa ban cho con người sự sống của Chúa Con trong sức mạnh thánh hóa của Chúa Thánh Thần mà Chúa Cha sai đến.

Từ đó, chúng ta sẽ hiểu rằng cử  hành Thánh Thể là cử hành một mầu nhiệm, Giáo Hội cử hành trong Ba Ngôi và hướng về Ba Ngôi. Hệ lụy thần học đầu tiên mời gọi chúng ta vượt ra khỏi cái nhìn duy-nghi thức khi cử hành Thánh Thể. Chúng ta xác tín rằng các giai đoạn làm nên Thánh Thể vượt ra ngoài phạm vi thuần nghi thức. Đây là công việc “khôn tả” của Ba Ngôi.

II. THÁNH THỂ, PHƯỢNG TỰ TRONG BA NGÔI VÀ HƯỚNG VỀ BA NGÔI

Cử hành Tạ ơn là hành vi phụng vụ của Giáo Hội được thực hiện trong Ba Ngôi và hướng về Ba Ngôi. Là bí tích của ơn cứu độ và của Giao ước mới, Thánh Thể biểu lộ rõ rệt nhất căn tính thiêng liêng của Giáo Hội, một Giáo Hội sinh ra từ mầu nhiệm Vượt qua của Đức Giêsu, được xây dựng theo khuôn mẫu của mầu nhiệm hiệp thông nơi Ba Ngôi Thiên Chúa. Nơi Hiến Lễ Tạ ơn, Giáo Hội chúc tụng, tôn vinh và tạ ơn Chúa Cha (x. kinh tiền tụng). Nơi bàn tiệc Thánh Thể, Giáo Hội tưởng nhớ công trình cứu rỗi của Chúa Con mà cao điểm là mầu nhiệm Vượt qua của Người được thực hiện trong sự vâng phục Chúa Cha đồng thời dâng lên Chúa Cha lễ tế của chính Con Một của Người trong quyền năng Chúa Thánh Thần làm cho Chúa Kitô hiện diện. Thánh Thể là “nơi” ưu tiên mà Giáo Hội cầu xin với Chúa Cha nhờ hiến tế của Chúa Kitô trong mối hiệp thông của Chúa Thánh Thần. Như thế, mầu nhiệm Thánh Thể đưa Giáo Hội vàøo trong tương quan hiệp thông với Ba Ngôi vĩnh cửu.

Phượng tự của Giáo Hội, tự bản chất, luôn hướng về Ba ngôi. Thiên Chúa Ba Ngôi là đối tượng của lời ngợi khen. Thiên Chúa Ba Ngôi là Đích điểm của hành trình gặp gỡ này và là “Quê hương” của Giáo Hội. Chiêm ngắm Thiên Chúa Ba Ngôi là chiêm ngắm sự hiệp thông tình yêu giữa Ba Ngôi vị, vận hành vô biên và vĩnh cửu của Tình yêu và của sự chia sẻ giữa Ba Ngôi vị. Nơi mầu nhiệm Thánh Thể, người tín hữu được sống trong tình hiệp thông thâm sâu của Ba Ngôi và được mời gọi để khám phá rằng các mối tương quan giữa Thiên Chúa Ba Ngôi có liên quan đến ơn cứu độ của thế giới và con người. Nơi bàn tiệc Tạ ơn, Giáo Hội được dìm sâu trong Tình yêu của Chúa Cha nhờ Chúa Con trong Chúa Thánh Thần.

Sống mối dây hiệp thông Ba Ngôi của Thánh Thể là khám phá và loan báo rằng hiện hữu của con người là hiện hữu trong Ba Ngôi “vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Hiện hữu trong Tình yêu Ba Ngôi được tiếp nối và được biểu lộ trong đời sống Giáo Hội qua sự hiệp nhất (Cv 1,14), nhờ Chúa Thánh Thần.

Lời cầu xin trong kinh tạï ơn sẽ cho ta khám phá ra rằng Ba Ngôi không chỉ cùng hiện diện trong chính cử hành tạ ơn của Giáo Hội mà còn trong chính lời cầu xin của Giáo Hội hướng về tương lai : “chúng con cúi xin Cha cho Thánh Thần liên kết chúng con nên một khi chúng con dự tiệc Mình và Máu Đức Kitô” (Kinh tạï ơn II) ; “Và khi chúng con được Mình và Máu Con Cha bổ dưỡng, được đầy tràn Thánh Thần của Người, xin cho chúng con trở nên một thân thể và một tinh thần trong Đức Kitô” (Kinh tạï ơn III) ; “xin thương cho tất cả những ai cùng chia sẻ một tấùm bánh và một chén rượu này, được Chúa Thánh Thần liên kết thành một thân thể” (kinh tạï ơn IV). Lời cầu xin cho Giáo Hội và cho thế giới hướng về Chúa Cha là nguồn mạch của mọi hồng ân, Chúa Con là Hồng ân của Chúa Cha được trao ban trong Thánh Thể và Chúa Thánh Thần là mối dây hiệp thông liên kết những người đón nhận Hồng ân của Chúa Cha và làm cho họ trở nên một thân thể-Giáo Hội của Chúa Kitô.

Nói tóm lại, Lễ Tạ ơn được cử hành trong mầu nhiệm Ba Ngôi. Giáo Hội hướng về Chúa Cha để tạ ơn Người trong khi tưởng nhớ Chúa Con và xin Chúa Cha sai Chúa Thánh Thần đến làm cho Chúa Kitô được hiện diện, một sự hiện diện cần thiết cho Giáo Hội.

Cử hành Thánh Thể là tạ ơn (eucharistia) Chúa Cha, Chủ tể càn khôn “Lạy Cha, Cha thật là Đấng Thánh, và muôn vật Cha đã tạo thành đều phải ca ngợi Cha” (Kinh tạï ơn III), Nguồn mạch mọi hồng ân “Cha rộng ban mọi ơn lành cho thế gian” (kinh tạï ơn III), Nguồn mạch sự sống (Kinh tạï ơn IV), Nguyên lý của ơn cứu độ. Đấng ban sự sống và thánh hóa (Kinh tạï ơn III, IV). Tiếp nối lời kinh chúc tụng Do-thái-giáo, Giáo Hội kể ra những kỳ công của Thiên Chúa qua ý định tạo dựng và cứu chuộc của Người (x. kinh tiền tụng Kinh tạï ơn II, IV). Trong “hy tế ngợi khen” (sacrificium laudis) này, Giáo Hội nói với Chúa Cha nhân danh toàn thể vũ trụ được tạo thành, bánh và rượu, hoa quả của ruộng đất và công lao vất vả của con người được dâng lên Chúa Cha trong đức tin như một lời tạ ơn và một hy lễ. Hy lễ mà Giáo Hội dâng lên Chúa Cha vừa là hy lễ của chính Chúa Con vừa là hy lễ của Giáo Hội “Nguyện xin Cha đoái nhìn hiến lễ của Hội Thánh và nhận đây chính là hy lễ Con Cha đã dâng tiến” (kinh tạï ơn III). Giáo Hội hướng về Chúa Cha và xin Người sai Chúa Thánh Thần đến để làm cho bánh và rượu trở nên Mình và Máu Đức Kitô.

Chúng ta sẽ tiếp tục thấy mối tương quan gắn bó này trong cấu trúc của kinh tạï ơn, kinh làm nên Thánh Thể.

III. CẤU TRÚC BA NGÔI CỦA KINH TẠ ƠN

Một trong những nét cơ bản của các kinh phụng vụ cổ xưa nhất là lời kinh luôn hướng về Chúa Cha và nói với Chúa Cha (x. La Tradition apostolique de saint Hippolyte ; L’Eucologie de Sérapion). Cấu trúc của kinh tạï ơn từ những thế kỷ đầu đã đáp trả lại quy luật này của kinh phụng vụ. Giáo Hội tạ ơn Chúa Cha nhờ Đức Giêsu Kitô trong Chúa Thánh Thần. Kinh tạï ơn luôn mang một cấu trúc ba ngôi.

A. Chúa Cha, đối tượng của kinh tạ ơn (eucharistie).

Kinh tạï ơn hướng về Chúa Cha. Chúa Cha là đối tượng của kinh tạï ơn. Trong kinh tạï ơn, Giáo Hội nói với Chúa Cha. Tiếp nối lời cầu nguyện “tế hiến” của Đức Giêsu (x. Ga 17), Giáo Hội hướng về Chúa Cha để tôn vinh và tạ ơn Người. Chính nơi Chúa Cha mà Giáo Hội cầu xin. Và từ Chúa Cha mà Giáo Hội đón nhận ân sủng của đời sống mới, “Lạy Cha chí thánh, chúng con tạ ơn Cha mọi lúc, nhờ Đức Giêsu Kitô, Con yêu quý của Cha, thật là chính đáng, phải đạo, và sinh ơn cứu độ cho chúng con” (x. lời mở đầu của các kinh tiền tụng).

Lời cầu khẩn Thánh Thần (Epìclèse) cũng được thưa với Chúa Cha, “chúng con tha thiết nài xin Cha cũng nhờ Chúa Thánh Thần mà thánh hóa của lễ chúng con dâng tiến Cha đây, để biến thành Mình và Máu Đức Giêsu Kitô, Con Cha, Chúa chúng con” (kinh tạï ơn III). Trong phụng vụ Byzantin, cả hai lời cầu khẩn Thánh Thần đều được thưa với Chúa Cha : lời cầu khẩn thánh hiến (Epiclèse de consécration) trong kinh tạï ơn và lời cầu khẩn hiệp thông trước kinh lạy Cha (Epiclèse de communion).

Chúa Cha là đối tượng của kinh tạï ơn vì Người là Cội Nguồn của tất cả. Người là nguồn mạch của sự thánh thiện (Kinh tạï ơn II, III), là Cha rất nhân từ (Kinh tạï ơn I), là Chủ tể càn khôn, là Đấng Sáng tạo và Thánh Hóa, Đấng ban sự sống và quy tụ Dân Thiên Chúa (kinh tạï ơn III), Đấng duy nhất tốt lành, Đấng ban mọi âân phúc, là Ánh Sáng, là Nguồn mạch ơn cứu độ và hòa giải (Kinh tạïï ơn IV).

Lời tạ ơn và ca ngợi hướng về Chúa Cha nhưng đồng thời Chúa Cha cũng là đối tượng mà Giáo Hội dâng lên lễ vật, lễ vật của Đức Giêsu Kitô và lễ vật của Giáo Hội : “chúng con dâng lên Cha bánh trường sinh và chén cứu độ” (kinh tạï ơn II), “chúng con dâng lên Cha hy lễ hằng sống và thánh thiện này” (kinh tạ ơn III) ; “chúng con dâng lên trước tôn nhan Mình và Máu Thánh Người làm hy lễ đẹp lòng Cha và sinh ơn cứu độ cho toàn thế giới” (kinh tạ ơn IV) ; “chúng con dâng lên Cha lễ tế ca tụng này” (sacrificium laudis) (kinh tạ ơn I).

Giáo Hội dâng lên Chúa Cha lễ tế là chính Con Một của Người trong quyền năng Chúa Thánh Thần và vì thế Chúa Cha cũng là Đấng mà Giáo Hội hướng về trong lời cầu xin (intercession) ; “Xin Cha nhớ đến …”.

B. Tưởng nhớ Chúa Con (Anamnèse)

Trong kinh tạï ơn, Giáo Hội tạ ơn Chúa Cha và trong khi tạ ơn Chúa Cha thì Giáo Hội tưởng nhớ Chúa Con. Nói khác đi, lý do tạ ơn là vì Đức Giêsu Kitô.

Đối tượng của tưởng nhớ là công trình cứu rỗi do Chúa Con thực hiện, nhưng trong sự sung mãn của Chúa Thánh Thần và trong sự vâng phục Chúa Cha.

Thánh Thể là bí tích Vượt qua, bí tích của Hy tế Đức Giêsu. Thánh Thể hiện tại hóa biến cố chết và sống lại của Người, được thực hiện một lần vì nhân loại. Trong Chúa Thánh Thần, Giáo Hội tưởng nhớ lại tất cả công trình cứu chuộc của Đấng Cứu Thế và nhìn lịch sử cứu độ dưới ánh sáng của mầu nhiệm Chúa Kitô. Trong cái nhìn này, lịch sử và nhân loại có một hướng đi. Lịch sử nhân loại hướng tới Chúa Kitô là “Alpha và Omega, là Đầu và Cuối, là Khởi nguyên và Tận cùng” (Kh, 22,13), được tái tạo và được thu tóm trong Người. Mầu nhiệm Phục sinh, đối tượng của việc tưởng nhớ (anamnèse) là trung tâm điểm của lịch sử thế giới và là tương lai cho định mệnh đích thực nhất của con người.

Giáo Hội tạ ơn Chúa Cha vì Đức Giêsu khi nhớ đến Người, một cách đặc biệt “trong đêm Người bị nộp” để vâng phục Chúa Cha. Trong quyền năng Chúa Thánh Thần, việc tưởng nhớ này của Giáo Hội vượt thời gian và không gian, quá khứ  của “tưởng nhớ” trở thành hiện tại của ơn cứu độ cho Giáo Hội.

Việc tưởng nhớ Đức Kitô còn lan rộng tới việc tưởng nhớ các thánh, những người đã qua đời, những người đau khổ, những người sống và tất cả mọi chi thể trong Thân Thể Chúa Kitô. Và sau cùng việc tưởng nhớ Đức Kitô đạt tới cao điểm trong hiệp lễ (communion). Hiệp lễ đưa chúng ta kết hiệp với Đấng Phục sinh, Ngài hiện diện sâu thẳm hơn chính cõi thẳm sâu của chúng ta và hướng tới tình huynh đệ, hướng tới một đời sống chung và chia sẻ với mọi chi thể trong Thân Thể Chúa Kitô là Giáo Hội.

Trong việc tưởng nhớ, Giáo Hội nhớ đến Chúa Kitô đang hiện diện, đã đến và đang đến. Vinh tụng ca (doxologie) bắt đầu trong thì hiện tại. Thiên Chúa luôn luôn có mặt trong hiện tại, Chúa Kitô đang hiện diện và qua hiện tại này chúng ta có thể nói tới quá khứ và tương lai, Mầu nhiệm Thánh Thể nhắc chúng ta rằng “bây giờ chúng ta không còn biết Chúa Kitô theo xác thịt nữa” (2 Cr 5,16). Nơi bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh Thể, Chúa Kitô đang hành động, Chúa Kitô đang nói, Chúa Kitô đang cầu nguyện. Và chính nơi lời cầu nguyện trong hiện tại mà đôi mắt và tâm lòng chúng ta khai mở ra trước Mầu nhiệm Khôn dò của Ba Ngôi, mầu nhiệm cứu độ do kế hoạch yêu thương của Chúa Cha được thực hiện trong Chúa Con trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần (x. Eph 1, 3-14).

Hy tế thập giá của Chúa Kitô, của lễ dâng cho Chúa Cha vì sự sống của nhân loại trở thành lời cầu bầu liên tục cho Giáo Hội, cho con người và cho thế giới.

Chúng ta không thể giới hạn ý nghĩa của Thánh Thể vào tương quan một chiều giữa Thánh Thể–Thập giá hay Thánh Thể–Phục sinh. Tương quan này là một toàn thể thống nhất toàn bộ công trình của Chúa Kitô, của tất cả nhiệm cục cứu độ đang được hiện tại hóa trong việc tưởng nhớ của mầu nhiệm Thánh Thể.

Chúng ta cũng nhớ rằng, cộng đoàn Thánh Thể không chỉ nhớ lại quá khứ hay hiện tại, mà còn hướng về tương lai, nhớ rằng Chúa Kitô đang đến ở phía trước. Nhờ Thánh Thể, Giáo Hội hướng về Chúa Kitô, Người luôn là “tương lai” cho Giáo Hội và của Giáo Hội.

Bên cạnh những lời cầu khẩn hướng tới Chúa Thánh Thần (Epiclèses neumatologiques), Giáo Hội tiên khởi đã biết đến ngay từ thời các tông đồ, từ lễ Ngũ Tuần, những lời cầu khẩn hướng về Chúa Kitô (Epiclèses christologiques).

Đọc lại các bản văn Tân Ước và các phụng vụ tiên khởi, ta thấy rằng sự chờ đợi Đức Giêsu đến rất là sâu xa và mãnh liệt, đặc biệt trong một số lời nói, một số lời tung hô mà ta gặp thấy nơi Kinh Thánh cũng như nơi những phụng vụ cổ xưa, chẳng hạn từ Maranatha. Từ này vừa có nghĩa là một lời kêu cầu “Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến”, vừa có nghĩa là một lời tung hô : “Vâng, Chúa đang đến”, một sự mong đợi và một lời loan báo : “Chúa sẽ đến”.

Như thế, Maranatha diễn tả lời cầu khẩn, sự tùy thuộc, lòng vâng phục của Giáo Hội đối với Chúa Kitô và cũng là niềm xác tín, lời loan báo của Giáo Hội cho thế giới rằng Chúa Kitô đang có mặt, Người đang đến như Chúa Phục sinh (Kyrios) để cứu độ loài người, ban cho loài người sự sống mới, kéo con người ra khỏi sự dữ, cái chết, nỗi đau khổ, cảnh nô lệ và những vong thân.

C. Lời cầu khẩn Thánh Thần (Epiclèse).

Lời cầu khẩn Chúa Thánh Thần (Epiclèse) được nói với Chúa Cha nhưng là để biến đổi của lễ dâng tiến (bánh và rượu) thành Mình và Máu Chúa Kitô. Như thế, hoa quả của Chúa Thánh Thần là sự hiện diện của Chúa Kitô và sự thân mật với Chúa Cha.

“Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy, Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14,23).

Mục đích của lời cầu khẩn Chúa Thánh Thần trong Thánh Thể đi đôi với hiệp lễ. Giáo Hội khẩn nài Chúa Cha sai Chúa Thánh Thần đến trên lễ vật để biến thành Mình và Máu Chúa Kitô cho những ai hiệp lễ thì được ơn cứu độ.

Lời cầu khẩn Chúa Thánh Thần không chỉ diễn tả một sự chờ đợi nhưng còn là một lời khẩn nài tha thiết và mãnh liệt  bởi vì Giáo Hội xác tín rằng lời cầu khẩn Chúa Thánh Thần (Epiclèse) và lời cầu xin (intercession) của Giáo Hội trong cử hành Thánh Thể liên kết mật thiết với lời cầu nguyện của Đức Giêsu Thượng Tế, đang ngự bên hữu Chúa Cha.

Thần học Đông phương cho rằng lời cầu khẩn Thánh Thần làm nên Thánh Thể. Giáo Hội kêu cầu Chúa Cha sai Chúa Thánh Thần xuống trên bánh và rượu để biến thành Mình và Máu Chúa Kitô. Trong thực tế, vai trò của Chúa Thánh Thần trong mầu nhiệm Thánh Thể vượt lên trên phạm vi của một công thức. Thánh Thể được cử hành vừa như một lời cầu khẩn Thánh Thần vừa như một tưởng nhớ Chúa Kitô. Hành động của Chúa Thánh Thần không thể bị giản lược vào một thời điểâm của Lễ Ngũ Tuần, nhưng bao hàm cả lịch sử. Trong cử hành Thánh Thể, Chúa Thánh Thần không là đối tượng của việc tưởng nhớ, nhưng nhờ sức mạnh của Người, Chúa Kitô trở nên hiện diện trong Giáo Hội và cho con người. Như thế, lời cầu khẩn Chúa Thánh Thần không chỉ nằm một công thức nhưng còn trải rộng ra toàn bộ cử hành Thánh Thể.

Trong phụng vụ Rôma, lời cầu khẩn Chúa Thánh Thần đi trước tường thuật việc thành lập Thánh Thể. Dẫu sao trong thần học, thời điểm thánh hiến vẫn còn là một thực tế  khác biệt giữa Đông và Tây.

Nicolas Cabasilas đã chú ý tới ý nghĩa của Thánh Thể như một lễ Ngũ tuần liên tục. Cử hành Thánh Thể mang tính chất của một lời cầu khẩn Chúa Thánh Thần. Nhờ hơi thở của Chúa Thánh Thần mà Giáo Hội, trong mầu nhiệm Thánh Thể, có thể tưởng nhớ, kêu cầu, khẩn nài, loan báo Chúa Kitô. Dưới quyền năng sức mạnh của Chúa Thánh Thần mà Giáo Hội có thể tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa của mình. Tuy nhiên, lời cầu khẩn Chúa Thánh Thần diễn tả một sự lệ thuộc và vâng phục hoàn toàn vào Chúa Kitô và Chúa Cha.

Đối với lời cầu khẩn xin Chúa Thánh Thần ngự đến, ta gặp thấy trong Tân Ước, đặc biệt trong diễn từ ly biệt của Chúa Giêsu với các môn đệ trước cuộc khổ hình (Ga 14,16). Nội dung của lời nguyện này rõ ràng là một lời cầu khẩn Chúa Thánh Thần đến (Epiclèse) : “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ gửi đến cho anh em một Đấng Phù trợ khác” (Ga 14,16). Do đó, lời cầu khẩn Chúa Thánh Thần chỉ thực hiện được trong Giáo Hội nhờ Chúa Kitô.

Trong những cuộc tranh luận về thời điểm làm nên Thánh Thể giữa Đông và Tây : tranh luận giữa Lời và lời cầu khẩn Chúa Thánh Thần (parole et épiclèse), ta thấy dường như chúng không cần thiết. Thánh Thể được làm nên do những lời đọc trong tường thuật lập Thánh Thể hay do lời cầu khẩn Chúa Thánh Thần ? Ta chọn Chúa Kitô hay là Chúa Thánh Thần ? Chọn sự hiện diện của Chúa Kitô hay là tác động của Chúa Thánh Thần ? Chúng ta phải thấy rằng sự hiện diện của Chúa Kitô thì khác sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong mầu nhiệm Thánh Thể. Chúa Kitô hiện diện trong các yếu tố Thánh Thể, nhờ đó Người làm cho ta nên một với Người. Chúa Thánh Thần hiện diện một cách thế khác, Người là sức mạnh thánh hóa làm cho bánh và rượu trở nên Mình và Máu Chúa Kitô. Người là Ánh sáng trong đó chúng ta nhìn thấy khuôn mặt của Chúa Kitô.

Thánh hiến bánh rượu và thánh hóa các tín hữu làm nên hai góc cạnh của thực tại Thánh Thể và cả hai đều có liên hệ mật thiết với Chúa Thánh Thần.

Cử hành Thánh Thể là cử hành trong Ba Ngôi. Vì thế, ta có thể nói, cử hành Thánh Thể là lời cầu khẩn Chúa Thánh Thần hướng về Chúa Cha để làm cho Chúa Kitô hiện diện. Linh mục và cộng đoàn không phải là những “ông chủ” của hành động Thánh Thể, nhưng chính Chúa Thánh Thần là Tác Nhân đích thực của Thánh Thể cũng như của các bí tích. Khi chúng ta nói rằng tất cả Thánh Thể là lời cầu khẩn Chúa Thánh Thần thì chúng ta sẽ thấy một sự lệ thuộc của Giáo Hội vào Chúa Kitô và Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần. Giáo Hội chỉ là người tôi tớ, Giáo Hội chỉ có thể làm chứng và loan báo Đấng vượt lên trên Giáo Hội.

Trong hai nghi thức Phụng vụ Thánh Thể Đông phương được gán cho Gio-an Kim Khẩu và Basiliô, kinh tạï ơn bắt đầu sau lời nguyện chúc mang cấu trúc ba ngôi của  2 Cr 13,13 : “Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em” và kết thúc bằng lời vinh tụng ca hướng tới việc chúc tụng Ba Ngôi.

Như thế, Kinh tạï ơn nói với Chúa Cha trong sự duy nhất với Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

KẾT LUẬN

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi đi xuyên suốt việc cử hành mầu nhiệm Thánh Thể mà cao điểm là kinh tạ ơn, kinh Lạy Cha và sự hiệp lễ. Trong mầu nhiệm Thánh Thể, Chúa Thánh Thần đưa ta vào trong sự thân mật của đời sống Ba Ngôi, nhờ Chúa Kitô, đến với Chúa Cha.

Nơi mầu nhiệm Thánh Thể, Chúa Thánh Thần như vị Tiền hô vĩ đại của Đức Giêsu khi chuẩn bị cho Người đến trong tâm hồn chúng ta. Chúa Thánh Thần cầu nguyện trong chúng ta (Gl 4, 6 ; Rm 8, 26) và chúng ta cầu nguyện trong Người (Rm 8,15), Người tạo nên nơi chiều sâu của hữõu thể chúng ta một không gian lớn dần cho Nước của Chúa Giêsu, nơi mà “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2, 20).

Tương quan giữa Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần trong Thánh Thể là ân huệ hỗ tương liên tục cho Giáo Hội, ân huệ này luôn gìn giữ Giáo Hội trong hiện hữu, sứ mạng và trong đời sống của Giáo Hội (Cv 17,28). Chúa Thánh Thần đào sâu nơi chúng ta một không gian vô biên của sự đón nhận, thiết lập trong chúng ta một đền thờ thiêng liêng, chính Người kêu lên trong chúng ta “Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến” (Maranatha) ; Cha ơi (Abba) ; để đến lượt Chúa Kitô Phục sinh lại thông ban cho chúng ta Thánh Thần của Người như lúc tạo dựng và phục sinh : “Anh em hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần” (Ga 20, 22).

Lời kinh duy nhất mà Chúa Giêsu thốt lên trong Chúa Thánh Thần và lời kinh của Chúa Thánh Thần trong Chúa Giêsu đó là lời thưa Abba, Cha ơi, hướng về Chúa Cha như Cội nguồn.

Thánh Thể là nơi mà Cội nguồn Ba Ngôi được diễn tả luôn luôn mới mẻ. Thiên Chúa Ba Ngôi thúc bách và nuôi dưỡng Giáo Hội như mầu nhiệm hiệp thông trong sự khác biệt và hướng về sự hiệp nhất cuối cùng của Nước Trời. Ta có thể nói rằng cử hành Thánh Thể là nơi gặp gỡ cụ thể giữa Thiên Chúa Ba Ngôi và Giáo Hội. Nơi đây Cội nguồn và Quê hương của Giáo Hội gặp nhau để khai sinh Giáo Hội một cách mới mẻ trong hiện tại. Mối liên hệ mật thiết giữa mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi và Thánh Thể được tìm thấy ngay trong cấu trúc kinh tạï ơn. Lời tạ ơn Chúa Cha, Nguồn mạch của mọi sự thánh thiện liên kết chặt chẽ với lời kêu cầu Chúa Thánh Thần, nhờ đó mà việc tưởng nhớ mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Con được hiện tại hóa.

 

 

SỰ hiỆn diỆN cỦa Chúa Kitô

trong Thánh ThỂ

Quan điểm của các nhà Cải Cách

 

Giáo Hội Công Giáo dạy phải tin rằng Chúa Kitô hiện diện thực sự dưới hai hình Thánh Thể và hiện diện bằng sự biến thể. Nhưng các nhà Cải Cách ở thế kỷ XVI lại có những quan niệm khác, hoặc về chính sự hiện diện hoặc về sự kiện làm phát sinh sự hiện diện. Bài này trình bày những quan niệm khác biệt đó, dựa vào những nhà Cải Cách lớn là Zwingli, Luther và Calvin.

I. Ulrich Zwingli

Quan niệm của Zwingli về sự hiện diện thâu tóm vào mấy điểm chính sau đây : Chúa Kitô chỉ hiện diện trong tâm trí người tham dự nhờ đức tin, vì thân xác của Chúa Kitô ở trên trời không thể xuống thế realiter và essentialiter trong bánh và rượu ; các hình bánh rượu chỉ biểu thị mình và máu Chúa hiến dâng vì ta. Như vậy, quan điểm của Zwingli dựa trên đức tin chủ quan và từ đó đưa đến cách giải thích biểu trưng về những lời Tin Mừng liên hệ tới Thánh Thể.

Theo Zwingli, sự hiện diện thực sự chỉ có cho đức tin chứ không có trong thực tại. Ông dùng một hình ảnh so sánh : để có lửa xẹt ra từ đá lửa, người ta phải đánh vào đá  ấy ; cũng vậy, để có được sự hiện diện của Chúa trong Thánh Thể, người ta phải tìm kiếm Ngài ở đó bằng đức tin.

Đức tin này cũng là quy tắc chú giải Lời Chúa (“fides magistra et interpres verborum”). Khi chú giải chương VI của Tin Mừng Gioan, Zwingli đã đề ra một nguyên tắc hướng dẫn như sau : “Chính đức tin áp đặt ý nghĩa của đoạn văn này, nếu thực sự chắc chắn chỉ có một con đường cứu độ duy nhất là tin rằng Con Thiên Chúa là bảo chứng của ơn cứu độ chúng ta, và tin tưởng vào Ngài, đến nỗi để được ơn cứu độ, người ta không được gán một điều gì cho những yếu tố của trần gian, tức là những sự vật khả giác” (Dict. de Théol. cath., art. Zwingli, col. 3828). Ông còn nói mạnh hơn : “Đức tin đến từ Thiên Chúa vô hình và hướng tới Thiên Chúa vô hình. Thế nên nó là điều hoàn toàn xa cách cái khả giác. Tất cả những gì là vật thể, tất cả những gì là khả giác, đều không thể là đối tượng của đức tin” (ibid.).

Từ nguyên tắc trên đây, Zwingli cho rằng lời Chúa nói trong Ga 6 không phải là ăn thịt và uống máu Ngài, nhưng là ăn uống lời Tin Mừng bằng đức tin. “Các bạn thấy là mình và máu Chúa Kitô không là gì khác hơn là lời đức tin, tức là mình Người bị sát tế vì ta và máu Người đổ ra cho ta, đã cứu chuộc ta và giải hòa ta với Thiên Chúa. Nếu ta mạnh mẽ tin điều đó thì linh hồn ta được nuôi dưỡng và được tưới tắm bằng thịt và máu Chúa Kitô” (ibid. col. 3826). Zwingli còn trưng dẫn lời Chúa nhấn mạnh trong Ga 6,63 : “Thần Khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì”. Như vậy, người ta có thể căn cứ vào lời của chính Chúa Giêsu để bác bỏ mọi cách giải thích duy thực về sự hiện diện. Bánh chỉ tượng trưng cho thịt của Chúa. Rượu chỉ tượng trưng cho máu của Chúa. Người ta ăn uống không phải Mình Máu thật của Chúa, nhưng là ăn uống thiêng liêng.

Cách giải thích này cũng được Zwingli áp dụng vào lời truyền phép. Lời của Chúa : “Này là Mình Thầy” chỉ có ý nói rằng : đây là dấu chỉ hoặc biểu tượng thuần túy của thân xác Chúa (Hoc est corpus meum = Hoc significat corpus meum). Tuy nhiên, nhờ đức tin của con người mà Chúa Kitô hiện diện cách thiêng liêng và nuôi dưỡng linh hồn họ.

Zwingli còn củng cố cách giải thích theo nghĩa biểu tượng này bằng cách nại tới Luca và Phaolô. Khác với Matthêu và Marcô, hai tác giả Luca và Phaolô ghi nhận lời Chúa Giêsu nói thêm sau lời truyền phép : “Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,19 và 1 Cr 11,25). Do đó, đây chỉ là một nghi thức tưởng niệm thuần túy. Nhất là Zwingli dựa vào 1 Cr 10,14-22. Phaolô quảng diễn ý tưởng về việc dự phần, chia sẻ hay hiệp thông (koinonia). Theo Zwingli, koinonia ở đây không hiểu theo nghĩa năng động là hiệp thông hay dự phần vào mình máu Chúa, nhưng theo nghĩa thụ động, tức là hiệp thông trong Giáo Hội, như thấy ở câu 17 (“vì tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể”). Việc các tín hữu chia sẻ cùng một tấm bánh chỉ muốn nói lên rằng họ chỉ là chi thể của cùng một thân thể, liên kết với nhau như bằng một bí tích.

Zwingli cũng căn cứ vào đoạn Xh 12,11tt để biện minh cho cách giải thích của mình. Nếu bữa ăn Vượt Qua của người Do-thái biểu thị sự đi ngang qua của Giavê, thì cũng vậy, bánh trong bữa Tiệc Ly biểu thị lễ Vượt Qua Mới của Đức Kitô. Không thể hiểu cách khác, nếu nhớ rằng phép Thánh Thể được thiết lập trong khung cảnh lễ Vượt Qua của người Do-thái, và cả hai sự kiện tương ứng với nhau từng điểm một. Các Tông Đồ hẳn đã hiểu theo nghĩa biểu trưng này, chứ không hiểu là Chúa Giêsu ban cho họ mình máu thật của Ngài dưới hình bánh hình rượu.

Đồng quan điểm với Zwingli, hai nhà Cải Cách khác là Karl-stadt và Oecolampade cũng hiểu lời truyền phép theo nghĩa bóng, nhưng mỗi người nhấn mạnh một khía cạnh riêng. Karlstadt nhấn mạnh “Hoc” (“Hoc” hiểu là mình Chúa, vì khi nói câu này, Chúa chỉ tay vào mình chứ không vào bánh). Oecolampade nhấn mạnh “corpus” với ý nghĩa “figura corporis”. Còn Zwingli, như đã nói trên, nhấn mạnh “est” với ý nghĩa “significat”.

II. Martin Luther

Khác với các bạn hay các đồ đệ thuộc nhóm Cải Cách, Luther luôn luôn khẳng định sự hiện diện thực sự, và mạnh mẽ bảo vệ quan điểm của mình. Theo Luther, cách giải thích Lời Chúa của các người trên đây đều không có cơ sở, thậm chí là nghịch lý. Cách giải thích của Karlstadt thì kỳ quặc, không thể chấp nhận. Còn những cách giải thích của Zwingli và Oecolampade đều không đúng với ý nghĩa đích thực của bản văn. Luther chống lại tất cả các cách giải thích đó, nhất là của Zwingli.

Luther đã dựa vào đâu khi chủ trương sự hiện diện thực sự của Chúa ? – Dựa vào đức tin của toàn thể Giáo Hội, nhất là dựa vào phân tích bản văn, vào nghĩa tự nhiên và trong sáng của chính lời Chúa nói : “Này là mình Thầy”, “Này là máu Thầy”. Người ta không thể đưa ra bất cứ lý do nào để hiểu những lời này khác với những gì chúng được nói ra. Ông viết : “Bản văn này không chỉ nói : Này là mình Đức Kitô…, nhưng nó chỉ đích danh bánh được bẻ ra và nói : bánh này là mình Đức Kitô, thậm chí : bánh chúng ta bẻ ra không chỉ là mình Đức Kitô, mà còn là mình Đức Kitô được phân phát” (trích trong Charles Boyer, Luther et sa doctrine, Rome, 1970, pp. 173-174). “Là” (est) không thể tương đương với “biểu thị” (significat), không thể hiểu theo nghĩa tượng trưng. Vào giây phút long trọng thiết lập một bí tích mà cũng là giao ước mới của mình, Đức Kitô gán cho những lời của Ngài một ý nghĩa được mọi người thừa nhận. Và nếu Ngài nói “Này là mình Thầy” thì phải hiểu rằng đó chính là thân mình Ngài.

Về điểm này, Luther đã bảo vệ chủ trương của mình tới cùng. Sau nhiều cuộc tranh luận với các nhà Cải Cách khác, sau những cố gắng hòa giải của Bucer, năm 1537, Luther viết trong khoản 6 của Các điều khoản Smalkalde như sau : “Về bí tích bàn thờ, chúng tôi tin rằng bánh và rượu là mình thật và máu thật của Chúa chúng ta, rằng không chỉ các kitô-hữu đạo đức, mà cả những người vô đạo cũng lãnh nhận nữa” (ibid., p. 175).

Nếu chủ trương của Luther về sự hiện diện dừng lại ở đó, thì không khác với đức tin Công Giáo. Tuy nhiên, những cách cắt nghĩa liên hệ tới sự hiện diện đã làm Luther xa rời đức tin này. Có thể thấy ba khác biệt chính trong quan điểm của Luther : 1/ phủ nhận sự biến thể (transsubstantiatio) và chủ trương lưỡng-thể-đồng-tại (consubstantiatio, companatio, impanatio) ; 2/ cắt nghĩa sự hiện diện của Chúa bằng lý thuyết phổ-tại-tính (ubiquisme) ; 3/ giới hạn sự hiện diện của Chúa lúc cử hành tiệc thánh và lúc chịu lễ (in usu). Trong ba dị biệt này, dị biệt cơ bản liên hệ tới biến thể. Các dị biệt khác tùy thuộc vào đó.

Theo giáo lý Công Giáo, Đức Kitô hiện diện nhờ sự biến đổi bánh và rượu thành Mình và Máu Người. Sự biến đổi này được gọi là “biến thể”. Luther phủ nhận tín điều này, được ông coi là sản phẩm của kinh-viện. Thay vào đó, ông chấp nhận ít nhiều ý kiến của J. Wyclif và của Pierre d’Ailly, theo đó bánh và rượu không biến đổi nhưng tồn tại đồng thời với mình và máu Chúa Kitô. Mình Chúa Kitô hiện diện cùng với (cum) bánh hoặc trong (in) bánh hoặc dưới (sub) bánh. Đó là một sự đồng-hiện-hữu, đồng-bản-thể, lưỡng-thể-đồng-tại. Bánh và thân mình Chúa Kitô, một cách nào đó, trở thành một hữu thể duy nhất. Luther viết : “Cho dù thân mình và bánh là hai bản tính khác nhau, bản tính nào cho bản tính đó, và cho dù khi chúng tách biệt nhau, bản tính này chắc chắn không phải là bản tính kia, nhưng khi chúng kết hợp với nhau và trở thành một hữu thể mới mẻ đầy đủ, chúng mất đi sự khác biệt trong những gì liên hệ đến hữu thể mới mẻ độc nhất này … là vì bây giờ không còn thuần túy là bánh trong lò nữa, nhưng là bánh – xác thịt (pain–chair) hoặc bánh – thân mình (pain–corps), tức là bánh đã trở thành một hữu thể duy nhất và một sự vật bí tích duy nhất với thân mình Chúa Kitô” (ibid., p. 181).

Để biện minh cho quan điểm của mình, Luther nại tới Kinh Thánh. Bánh tồn tại vì Kinh Thánh nói tới bánh trong Thánh Thể. Phaolô chẳng hạn đã viết : “Khi ta cùng bẻ bánh, đó chẳng phải là dự phần vào thân thể Chúa sao ?” (1 Cr 10,16). Như vậy cùng một lúc có cả bánh lẫn thân thể Chúa.

Thực ra, nếu Luther có một quan điểm dứt khoát về sự hiện diện, thì về cách thức trở nên hiện diện, ông không hẳn có một thái độ như vậy. Tiên vàn ông chỉ không chấp nhận sự biến-thể như một tín điều, vì Kinh Thánh không nói. Nhưng trong cuộc tranh cãi với vua Henry VIII, ông mạnh mẽ phủ nhận sự biến-thể vì thấy trái ngược với Kinh Thánh. Về sau, nhân chống lại Zwingli, Karlstadt …, ông coi vấn đề này không cần thiết và không quan trọng lắm. “Cho dù tôi chủ trương như Wyclif là bánh còn lại đó, tôi cũng chủ trương ngược lại như người công giáo là thân thể Đức Kitô ở đó”“Tôi thích cùng với giáo hoàng chủ trương chỉ có máu, hơn là chỉ muốn có rượu ở đó” (ibid., p. 180). Dường như Luther coi những quan điểm của mình cũng như của người khác về cách thức hiện diện chỉ là những ý kiến thuần túy.

III. Jean Calvin

Quan điểm của Calvin là quan điểm dung hòa giữa Zwingli và Luther, cộng thêm với những suy nghĩ riêng của ông. Giống như Luther, Calvin cho rằng Chúa Kitô hiện diện thực sự trong Thánh Thể và chỉ hiện diện trong lúc cử hành. Nhưng ông không đồng ý với Luther về cách giải thích sự hiện diện dựa vào lý thuyết phổ-tại-tính và về quan niệm lưỡng-thể-đồng-tại. Giống như Zwingli, Calvin nhấn mạnh đức tin, đến nỗi nếu không có đức tin thì không có sự hiện diện. Nhưng ông phủ nhận quan niệm của Zwingli về sự hiện diện thuần túy tượng trưng. “Chúng ta phải tuyên xưng rằng nếu sự thể hiện mà Thiên Chúa làm cho ta trong bữa Tiệc thánh là thật, thì bản chất bên trong của Bí Tích liên kết với những dấu chỉ hữu hình. Cũng như bánh được ban nơi tay ta, thân xác Đức Kitô cũng được chuyển đạt cho ta, để ta trở thành người dự phần vào đó” (trích trong Max Thurian, L’Eucharistie, Delachaux et Niestlé, 1959, p. 258).

Có thể tóm tắt quan niệm của Calvin về sự hiện diện của Chúa Kitô trong Thánh Thể như sau : Đó là một sự hiện diện thật sự, chứ không phải là kết quả của tư tưởng và đức tin của ta.

Đó cũng là một sự hiện diện “bản thể”. Calvin viết : “Tất cả chúng ta cùng tuyên xưng rằng khi lãnh nhận bí tích này trong đức tin, theo lệnh Chúa truyền, chúng ta thực sự được dự phần vào bản thể riêng của mình và máu Đức Giêsu-Kitô” (ibid., p. 260).  Tuy nhiên bản thể ở đây không có nghĩa như chúng ta hiểu. Theo giáo lý công giáo, hiện diện bản thể là toàn thể Chúa Kitô cùng với nhân tính và thần tính của Ngài trong đó, đặc biệt nhấn mạnh sự hiện diện bản thể của mình và máu Chúa, tức là khía cạnh nhân tính. Calvin bác bỏ giáo lý ấy, vì, theo ông, Đức Kitô cùng với thân xác vinh hiển của Ngài đã lên trời, vào ngày Thăng Thiên, và chỉ xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết vào ngày tận thế, nên không thể đến kết hợp ở một nơi với những hình Thánh Thể. Hiện diện “bản thể” không phải là hiện diện bằng thân xác (présence corporelle), nhưng là hiện diện bằng thần lực của Chúa, bằng Thần Khí của Chúa. Có thể coi đó là một sự hiện diện thiêng liêng (présence spirituelle), vì có liên hệ với Chúa Thánh Thần. Chính nhờ Chúa Thánh Thần mà sự “liên kết” giữa mình máu Chúa Kitô và các dấu chỉ bí tích được thực hiện. Chúa Thánh Thần giống như một “con kênh hoặc ống dẫn qua đó tất cả những gì Chúa Kitô là và có xuống với ta” (ibid., p. 261). Vai trò của Chúa Thánh Thần được Calvin nhấn mạnh. Như vậy, khi ta lãnh nhận Thánh Thể thì, đúng ra, không phải là lãnh nhận thân xác của Chúa Kitô Phục Sinh, nhưng là Thần Khí của Ngài. Thần Khí này là dây liên kết (vinculum communicationis) các tín hữu với Chúa Kitô, giữa đức tin của người chịu lễ và Chúa Kitô ở trên trời, qua các dấu chỉ bánh rượu. Chúng ta lãnh nhận thần lực của Chúa Kitô mà như lãnh nhận chính thân xác của Ngài, như chính thân xác ấy đang hiện diện.

Cho đến cuối đời, Calvin vẫn mạnh mẽ tin vào sự hiện diện thực sự của Mình và Máu Chúa Kitô. Năm 1562, tức là hai năm trước khi mất, ông còn viết : “Cho dù thân xác Chúa Kitô ở trên trời, thì ở trần gian chúng ta vẫn được nuôi dưỡng thực sự bằng thân xác ấy, vì do quyền năng khôn dò và tỏa rộng khắp nơi của Thần Khí của mình, Chúa Kitô trở thành của ta đến nỗi Ngài ngự trong ta mà vẫn không thay đổi chỗ ở … Tôi không thấy có gì phi lý khi nói rằng chúng ta thật sự lãnh nhận Mình Máu Chúa Kitô, và như vậy Chúa Kitô là lương thực cho ta theo bản thể, miễn là chúng ta nhận rằng Chúa Kitô xuống với ta không chỉ qua các biểu tượng bên ngoài, mà còn nhờ tác động âm thầm của Thần Khí Ngài, để chúng ta lên với Ngài bằng đức tin” (ibid., pp. 266-267).

 

PhỤ lỤc

Ngày nay, giáo huấn chính thức của giáo phái Luther vẫn dạy về sự hiện diện thực sự. Một số người theo phái Calvin cũng nhận sự hiện diện thực sự theo nghĩa công giáo, chẳng hạn 30 đại diểu của Giáo Hội Cải-cách Hòa-lan (1950), tu hội Taizé.

Phong trào hiệp nhất thúc đẩy những cuộc gặp gỡ trao đổi giữa các Giáo Hội, qua đó dần dần hình thành những quyết định chung về giáo lý, trong đó có giáo lý về Thánh Thể : Dombes (Công-giáo và Tin-lành Pháp), Hội Đồng Đại-kết các Giáo Hội ở Genève (năm 1982, với sự tham dự của phía Công-giáo, Ủy vụ Foi et Constitution đã đưa ra tuyên bố chung về phép Rửa-tội, Thánh Thể và thừa tác vụ, gọi chung là “Document de Lima”), Ủy vụ quốc tế Công-giáo và Tin-lành Luther bàn về “Le repas du Seigneur”.

Sau nhiều cố gắng, nhóm Dombes chẳng hạn đã công bố một bản văn chung về Thánh Thể (1972), trong đó có phần nói về sự hiện diện bí tích của Chúa Kitô, như sau :

 

Sự hiện diện bí tích của Đức Kitô

17. Cử hành Thánh Thể là ân huệ của con người Đức Kitô. Quả thực, Chúa nói : “Các con cầm lấy mà ăn, này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con” – “Tất cả các con cầm lấy mà uống, này là chén máu Thầy, máu giao ước, sẽ đổ ra cho các con và mọi người được tha tội”. Thế nên chúng tôi nhất trí tuyên xưng sự hiện diện thực sự, sống động và hoạt động của Đức Kitô trong bí tích này.

18.  Sự biện biệt mình và máu Đức Kitô đòi hỏi đức tin. Tuy nhiên, sự hiện diện của Đức Kitô nơi Giáo Hội trong Thánh Thể không tùy thuộc vào đức tin của từng người, vì chính Đức Kitô, bằng lời nói và trong Thần Khí, liên kết mình với biến cố bí tích, dấu chỉ sự hiện diện của Ngài.

19.  Vì hành vi của Đức Kitô là ban mình và máu Ngài, tức là chính Ngài, nên thực tại được ban dưới các dấu chỉ bánh và rượu là mình và máu Ngài 1 . Chính nhờ lời sáng tạo của Đức Kitô và quyền năng của Chúa Thánh Thần mà bánh và rượu trở thành bí tích và vì vậy “dự phần  vào mình và máu Đức Kitô” (1 Cr 10,16). Từ đây, trong chân lý cuối cùng của chúng, dưới dấu chỉ bên ngoài, chúng là thực tại được ban, và còn là như thế để người ta ăn uống. Cái được ban như mình và máu Đức Kitô thì tiếp tục được ban như mình và máu Đức Kitô, và đòi phải được coi như thế.

20.  Nhận thấy sự khác biệt về thực hành trong các Giáo Hội 2 , nhưng rút ra những hệ quả tự thỏa thuận trước đây …, chúng tôi xin :

       – phía công giáo nhắc nhở, đặc biệt trong huấn giáo và giảng thuyết, rằng ý định đầu tiên của việc lưu giữ Thánh Thể là để phân phát cho các bệnh nhân và các người vắng mặt 3 ;

       – phía thệ phản : phải vận dụng cách tốt nhất chứng tỏ sự kính trọng cần có đối với những yếu tố đã dùng để cử hành Thánh Thể, tức là ăn uống chúng sau đó, không loại trừ việc sử dụng chúng cho các bệnh nhân rước lễ.

(Nhóm Dombes, Vers une même foi eucharistique, Accord entre catholiques et protestants, Les Presses de Taizé, 1972, pp. 21-23)

 

Linh mục Micae Trần Đình Quảng

 

 

 

1 Điều này không có nghĩa là là Đức Kitô được định vị trong bánh và rượu, cũng không nghĩa là các sự vật  này biến đổi về phương diện lý hóa (x. Thomas, S.Th. III, 76, 3 à 5 và III, 77, 5-8 ; Calvin, Inst. Chrét., I, 11.13 và IV, 14.18

2 Một vài Giáo Hội Đông Phương (Giáo Hội copte chẳng hạn) không thực hành việc lưu giữ Thánh Thể.

3  Huấn thị Eucharisticum mysterium (25.5.1967) số 49 và 50.

 

 

MỘT CỐ GẮNG TIẾP CẬN BÍ TÍCH THÁNH THỂ

KHỞI TỪ KINH NGHIỆM CON NGƯỜI

Lm. Athanasiô Nguyễn Quốc Lâm

 

Chắc chắn có rất nhiều khía cạnh nơi con người mà từ đó ta có thể đi sâu vào bí tích Thánh Thể. Chẳng hạn chúng ta có thể khởi đi từ kinh nghiệm quý giá nhất đồng thời là khát vọng thâm sâu nhất nơi con người là “tình yêu” để rồi khám phá ra tuyệt đỉnh của tình yêu nơi Bí Tích Thánh Thể, đó là sự tự-hiến (don de soi). Trong giới hạn của bài này cũng như của chính người viết, chúng ta tạm dừng lại ở một độ sâu khiêm tốn hơn, khởi từ hai kinh nghiệm rất cụ thể của đời người, đó là : “viếng thăm”“bữa ăn”, để từ đó có thể sống bí tích Thánh Thể cách sống động hơn, gần gũi hơn.

I. Mảnh đất đời người, lối đường của Thiên Chúa

A. “Ngôi Lời đã làm người và đã lưu trú giữa chúng tôi” (Ga 1,14)

“Đến” “lưu trú” nói lên cuộc viếng thăm trọn vẹn của Thiên Chúa với nhân loại, trong Đức Kitô, “Emmanuel, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” (Mt 1,21).

Vì thế, mảnh đất người (l’humain) trở thánh nơi, thành lối đường mặc khải của Thiên Chúa. Với Đức Kitô, từ nay Thiên Chúa nói với chúng ta bằng tiếng nói của con người, đến với chúng ta bằng bước chân người và chia sẻ bữa ăn với chúng ta nơi bàn ăn đậm tình người.

Nói khác đi, từ nay những gì thuộc về con người, phận người, trở thành phương thế, ngôn ngữ để Thiên Chúa hành động, thố lộ.

Những gì là “thần linh nhất” (le plus divin) được tỏ bày qua những gì là “con người nhất” (le plus humain), và ngược lại những gì là “rất người” có thể mang lấy cả chiều sâu thần linh.

Một khi Con Thiên Chúa làm người

và bày tỏ ý định cứu độ qua chính nhân tính của Ngài

thì việc hiểu biết con người là điều thiết yếu

để có thể khám phá ý định của Thiên Chúa.

(Barbotin, Humanité de Dieu, Aubier, p. 13)

B. Hiểu biết con người

“Để hiểu biết Thiên Chúa

cần phải hiểu biết con người”

(Đức Phaolô VI, Diễn văn kết thúc CĐ. Vaticanô II, ngày 08.12.1965)

Hiểu biết con người, vì thế, trở thành điều kiện cần thiết để có thể hiểu biết về Thiên Chúa. Đi sâu vào kinh nghiệm con người giúp ta đi sâu vào kinh nghiệm về Thiên Chúa.

“Thiên Chúa đến viếng thăm”, nhưng vấn đề là viếng thăm mang ý nghĩa thế nào trong đời sống con người.

“Ngài cầm bánh trong tay, bẻ ra, trao cho các môn đệ”, nhưng cơm bánh đóng vai trò thế nào trong đời người và một bàn cơm, một mâm cơm mang ý nghĩa gì trong mối tương giao nhân loại, gia đình, cộng đoàn.

Một sự vật, một hành vi nhân linh đều có chiều sâu và sức nặng riêng của nó, nếu không cảm được sức nặng nhân linh thì làm sao nghiệm ra được chiều sâu thần linh ?

C. Con người cụ thể

Có nhiều cách tiếp cận con người. Có cách tiếp cận theo hướng suy tư, phân tích, tìm ra những phạm trù xác định (explication). Có cách tiếp cận cụ thể, tìm hiểu những gì làm nên đời sống con người, ngộ ra ý nghĩa của mỗi trạng thái, hành vi đối với toàn bộ đời sống (compréhension). Sự khác biệt giữa hai lối tiếp cận, hai lối hiểu có lẽ cũng dễ nhận ra. Bởi lẽ, có khi ta không biết đến một định nghĩa hay suy tư cao sâu nào đó về con người, nhưng lại cứ nhớ mãi một lời hỏi han, một bữa ăn với Ai đó, làm xoay chuyển cả cuộc sống.

Vậy những gì cụ thể nhất, thông thường nhất của con người là gì ? – Thưa, đó là : khuôn mặt, bàn tay, lời nói, là sự thăm viếng, gõ cửa, mở cửa, là nụ cười đón tiếp hay sự xua tay từø chối, là ngồi với nhau, bên một mâm cơm, là thinh lặng hay trao đổi.

Liên quan đến Bí Tích Thánh Thể, ở đây chúng ta chỉ dừng lại ở hai khía cạnh, hay có thể gọi là hai phạm trù cụ thể, đậm tính người nhất trong mối tương giao nhân loại, đó là : viếng thăm bữa ăn.

Cử hành Thánh Thể là cử hành cuộc viếng thăm của Thiên Chúa với dân Người ; tham dự Thánh Thể là chia sẻ một bữa ăn, một “tấm bánh được bẻ ra cho một thế giới mới”.

II. Viếng thăm – bữa ăn,

Những phạm trù nhân học cụ thể

A.  Viếng thăm

— Viếng thăm tạo nên không gian, thời gian sống sinh động của cuộc sống con người.

Một kẻ sống cô độc hay chỉ vần vò trong xó góc của mình (chez soi) là kẻ sống trong một không gian và thời gian thường là trống và rỗng, thậm chí là một không–thời-gian chết, vì không có sự lui tới, ra vào, không có tiếng gõ cửa và lời hỏi han, không có ai-khác…

Một “không gian người” (espace humain) luôn cần đến sự thăm viếng của ai đó. Một đứa trẻ đến chơi, quanh ta bỗng có cả một không gian và thời gian tươi trẻ, sống động. Gặp được một khuôn mặt khác, một ánh mắt khác, ta mới có cơ may phá vỡ cái thế giới bít bùng, đơn điệu, không thay đổi của mình.

Tất nhiên là có nhiều loại viếng thăm.

Viếng thăm đột ngột, làm xáo trộn mất mát, như của một tên trộm. Viếng thăm làm ta cảm thấy thêm ngột ngạt, phiền phức như của kẻ làm ăn, đút lót, cầu cạnh…

Nhưng cũng có những cuộc viếng thăm trong đó ta gặp được một người bạn, một người thầy, một người có thể cảm thông, hoặc một ai đó làm ta nhớ mãi, làm ta thay đổi cả cách nhìn, cách sống.

Chẳng hạn:

một ai đó rất cao sang đến thăm kẻ bần hàn,

một ai đó đến bên giường hỏi han khi những người khác đã hoàn toàn mỏi mệt,

một ai đó ngồi yên bên cạnh, lặng lẽ kiên trì bên người nổi loạn,

một ai đó can đảm đến bắt tay, khi những người khác đã hoàn toàn khinh bỉ

hoặc một ngày thật trống vắng, bỗng có người bạn đến chơi…

Những cuộc viếng thăm như thế không chỉ thêm bớt cái bên ngoài, mà có khi làm thay đổi tận bên trong, động chạm tới phần sâu thẳm nhất hoặc làm biến đổi tất cả.

Cuộc sống bình thường tất nhiên hiếm khi có được hay thực hiện được cuộc viếng thăm như thế, nhưng phải chăng : tận cõi lòng, ta vẫn hằng ao ước, vẫn chuẩn bị, vẫn muốn làm tất cả để có được một lần viếng thăm quyết định ?

— Những khía cạnh chính yếu của cuộc viếng thăm.

Có nhiều loại viếng thăm, và vì thế có nhiều đòi hỏi, nhiều khía cạnh khác nhau. Ở đây, chúng ta chỉ đề cập đến những cuộc “viếng thăm – gặp gỡ” đích thực. “Viếng thăm – gặp gỡ” theo nghĩa động chạm tới cõi lòng, tới ý nghĩa cuộc sống thường bao hàm ba khía cạnh chính :

1. Thuận tình gặp gỡ

Không thể có viếng thăm nếu không có sự thuận tình gặp gỡ.

Sự thuận tình của người đi thăm biểu lộ qua tính “nhưng-không” (gratuité). Tôi muốn đi thăm anh ta vì anh ta mà thôi. “Nhưng-không” là tên gọi khác của tình yêu mạnh mẽ và thuần khiết. Nếu không đủ mạnh thì không thể ra đi, ra khỏi nhà mình (chez soi) để vượt qua khoảng cách, để chấp nhận cuộc sống, chấp nhận không–thời-gian của người khác. Nếu không thuần khiết thì ta có thể nhắm điều gì khác hơn là chính người được thăm.

Thuận tình của người được thăm đó là thái độ ân cần, rộng mở. Rộng mở cánh cửa, rộng mở tâm hồn và cả cuộc sống của mình. Nếu chỉ mở cửa, bắt tay mà không rộng mở tâm hồn thì khách đến thăm mà vẫn trống vắng. Nếu rộng mở cả cuộc sống, tận những gì thâm sâu nhất thì ngay cả khi khách đã ra đi, ta vẫn thấy người đó như đang lưu lại, và có một điều gì đã thay đổi trong cuộc sống, thường là rộng hơn, lớn hơn.

“Rộng mở” là tên gọi khác của tình yêu sẵn sàng, khao khát : khao khát đón nhận và sẵn sàng biến đổi chính mình.

2. Trao đổi, chia sẻ

Viếng thăm thực sự bao giờ cũng có trao đổi. Trao đổi nụ cười, cái nhìn, lời nói và ngay cả sự thinh lặng. Mức độ thâm sâu nhất của trao đổi là chia sẻ, đến nỗi không còn nói là “của anh” – “của tôi” nữa, mà là “của chúng ta”.

Cuộc sống, thời gian, không gian bây giờ là “của chúng ta”. Chính trong cái không – thời gian chung đó mới có thể xảy ra những điều mới lạ, nghịch lý :

Nỗi khổ vơi đi còn niềm vui lại tăng bội.

Thế giới của “cái tôi” thường cố định và mang tính chất tuyệt đối : nỗi khổ của tôi, sự giầu có của tôi, cái nghèo của tôi…

Thế giới của chúng ta thì ngược lại, rộng lớn hơn, nhưng lại tương đối hơn, hàm chứa lẫn nhau, giao thoa với nhau, hoán đổi cho nhau :

Tôi khổ nhưng anh còn khổ hơn

Tôi không thể vui vì biết anh đang buồn

Tôi sống trong thiên đàng làm sao được khi anh đang lầm lũi trong hỏa ngục…

Có khi ta sống nỗi niềm của người khác và quên hẳn cuộc sống riêng của mình. “Tôi sống nhưng không còn là tôi…” (x. Gl 2,20).

Ai đó cười hồn hậu và tôi cảm thấy đời đáng sống…

3. Biến đổi, thăng hoa

Một cuộc viếng thăm có ý nghĩa thường đưa đến sự biến đổi theo hướng thăng hoa. Một cuộc gặp gỡ đích thực tự nó đã làm cho thời gian và không gian sống của mỗi người rộng lớn hơn.

Biến đổi có thể xảy ra ở nhiều mức độ khác nhau, có khi nhìn thấy được, có khi nằm ở bình diện thâm sâu nhất, nền tảng nhất : bình diện giá trị, bình diện hiện hữu.

Một cuộc đời bị bỏ rơi nay lại được đón nhận,

một cuộc sống cô độc nay được chia sẻ,

một cuộc đời lây lất tìm lại được sứùc sống,

một cuộc đời thất vọng nay tìm lại được can đảm để sống …,

một “cái tôi” chật hẹp nay mở toang cho một “ai-khác”.

B. Bữa ăn

Viếng thăm dẫn đến bữa ăn. Đó là sự đời thông thường nhất, và có lẽ chính trong bữa ăn mà cuộc viếng thăm – gặp gỡ  đạt tới mức đậm đà, chân tình nhất.

Bữa ăn đậm chất người và có lẽ là nơi người ta sống thực nhất. Bữa ăn tạo nên bầu khí gia đình, tổ ấm (foyer). Trong bữa ăn, có sự đón tiếp, bắt tay, trao đổi, chia sẻ, tâm tình…

Bữa ăn tất nhiên phải là vật chất (cơm, bánh) và cũng hết sức tâm linh (chia sẻ, nhường nhịn, tôn trọng, cởi mở, tâm sự).

Về bữa ăn có rất nhiều khía cạnh, ở đây chúng ta chỉ dừng lại ở ba khía cạnh chính :

1. Thời gian chung

Ý thức cá nhân, thời gian, không gian cá nhân, có lẽ đó là một trong những đặc điểm của nền văn minh hiện đại. Càng văn minh tiến bộ thì càng phân chia, chuyên-biệt-hóa. Mỗi người với chuyên môn, với chương trình sống riêng của mình.

Có lẽ vì thế mà con người ngày càng cô độc hơn … (!)

Cũng may còn có bữa ăn, trong đó mọi thời gian riêng tạm thời phải gạt bỏ. Thời gian bữa ăn là thời gian chung.

Người Việt-nam thường nói : “Trời đánh tránh bữa ăn !”,  có lẽ thâm thúy lắm. Dường như thời gian bữa ăn là rất thiêng liêng mà người ta dành cho nhau, sống với nhau, gạt bỏ tất cả mọi chuyện, mọi lo toan khác.

“Ăn cái đã !”, câu nói không hề dung tục ; ngược lại, ý muốn nói rằng đây là thời gian đặc biệt, nó phải liền lạc, liên tục, trọn vẹn, không ai được phá vỡ vì bất cứ điều gì.

Cứ nhìn vào bữa ăn thì có thể biết rõ về một gia đình !

“Ngày ngày họ đồng tâm nhất trí, chuyên cần lui tới Đền Thờ,

bẻ bánh ở nhà, cùng nhau chia sẻ của nuôi thân,

lòng hân hoan, dạ đơn thành” (Cv 2,46)

Tưởng không có thông tin nào rõ hơn về cộng đoàn kitô-hữu tiên khởi !

“Cơm lành canh ngọt”

2. Không gian cho tất cả

Một bữa ăn bao giờ cũng phải đủ chỗ cho mọi người tham dự. Bàn ăn là nơi ta có thể đoán ra số thành viên trong gia đình, cộng đồng.

Nơi khác có thể thiếu chỗ, bàn ăn thì không.

“Thêm đũa thêm bát”, câu nói mộc mạc nhưng rất ý vị. Bàn ăn chật hay rộng, điều đó không quan trọng. Rộng thì nới ra cho thoải mái, chật thì xích lại cho ấm cúng.

Cơm canh cũng thế : “Nhiều no ít đủ” – “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”.

Không gian bữa ăn quả thực là không gian chia sẻ, tôn trọng, nhường nhịn lẫn nhau. Nó rất tế nhị, uyển chuyển, co lại hay giãn nở cũng là để đủ chỗ cho mọi người.

3. Bữa ăn, nơi của sự thật

Bữa ăn là “nơi của sự thật”, có lẽ hơi văn vẻ quá đáng. Nhưng quả thực, khi ngồi vào bàn ăn với nhau, dường như người ta dễ sống thật với nhau hơn, sẵn sàng nói, sẵn sàng thổ lộ những điều mà nơi khác thì không thể.

Hãy thử so sánh một người ngồi nơi bàn làm việc và lúc anh ta ngồi vào bàn ăn !

Đồng bàn với nhau là chấp nhận sống thật, sống gần gũi với nhau bất chấp mọi khác biệt về quan điểm, chức vị…

Ở đây chúng ta muốn nói tới bữa ăn bình thường, đậm chất người chứ không kể đến những bữa tiệc ngoại giao, thù tiếp.

Ăn để bàn bạc, tính toán, trả lễ … thì khác. Còn mời vào bữa ăn gia đình, để gặp gỡ – hỏi han thì khác. Cũng thật nghịch lý, càng xã giao, trọng vọng theo nghĩa xa cách thì càng “làm mặt” : bàn ăn đầy ắp, không có cũng chạy vạy cho ra ; ngược lại, càng thân thiết, chân tình, càng thật với nhau thì cơm dưa muối đã là quá đủ.

Không có gì đáng buồn hơn một bữa ăn dối trá, hay nói đúng hơn, bữa ăn không thể đi đôi với sự dối trá. Đã dối trá thì không thể ăn được, lúc đó chỉ có ngậm đắng nuốt cay.

“Cơm không lành, canh không ngọt”.

Ngọt bùi của cơm bánh là ngọt bùi của sự thật, của tấm chân tình.

Hỡi ôi, ngày nay nhiều bữa ăn dối trá mà người ta vẫn cứ ăn ngon lành ! Hoặc một bữa ăn rất chân thực mà người ta vẫn dùng với một tấm lòng dối trá. Phải chăng đấy là dấu hiệu của một tấn bi hài kịch ?

4. Bữa ăn, nơi của sự sống

Bữa ăn là “nơi của sự sống”, đó là điều đương nhiên. Nhưng sự sống ở đây không chỉ theo nghĩa thể lý, sinh lý.

Bạn hữu ngồi vào bàn ăn thì tình bạn được nuôi dưỡng. Gia đình ngồi vào bàn ăn để căn nhà trở thành mái ấm.

Bàn ăn quả thực là nơi gìn giữ, nuôi dưỡng và làm tươi mớùi các mối tương giao.

Bàn ăn nuôi dưỡng tương giao sự sống vì nó đưa vào mối hiệp thông theo cả hai nghĩa vật chất – tinh thần, biểu lộ bên ngoài – cảm thông bên trong.

Người mẹ đút cơm cho con, người vợ gắp thức ăn cho chồng, những dĩa thức ăn đẩy đưa, qua lại giữa bạn hữu…, trong khi đó là những lời tâm sự, trao đổi, hỏi han. Thậm chí sự thinh lặng cũng thông chuyển những tâm tình đầy tràn nơi mỗi người tham dự.

Tất nhiên không thể lý-tưởng-hóa bữa ăn, bàn ăn, nhưng giả thử nếu một lúc nào đó gia đình, cộng đồng không còn bữa ăn, bữa tiệc chung, mỗi người giải quyết vấn đề bằng “fast-food” và “self-service”, hoặc mỗi người ăn riêng theo chương trình thuận tiện nhất cho mình … thì liệu cuộc sống rốt cuộc còn lại gì ?

Xin trích dẫn một câu thơ của T. S. Eliot :

“Where is the Life we have lost in living ?”

(Đâu rồi Sự Sống chúng ta đã đánh mất trong đời ?)

5. Cơm (bánh), lương thực căn bản

Người Tây-phương dùng bánh, người Việt-nam dùng cơm.

Cơm, cơm áo, miếng cơm manh áo, cơm gạo, nồi cơm…

Pain, copain, compagnon, gagner son pain…

Những kiểu nói đó tưởng cũng đủ cho thấy : cơm bánh không những là lương thực căn bản, mà còn là ẩn dụ về tất cả đời người với những chiều rộng, dài, cao, sâu của nó.

Cơm là “hương hoa của Đất”, là “lộc bởi Trời”, là “mồ hôi nước mắt con người”. Cơm trở thành dấu hội tụ của Trời –  Đất – Người.

Cơm đưa ta về ý thức cội nguồn : “Cơm cha áo mẹ” ;

ý thức về thực tại và sự liên đới chia sẻ :

“Ai ơi bưng bát cơm đầy,

dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần” 

và xa rộng hơn nữa, cơm đưa ta về ý thức quê hương : tha hương đến cùng trời cuối đất thì cơm vẫn là “nỗi nhớ” và là chiếc cầu nối với Quê-hương.

Cơm bao giờ cũng có mùi thơm của Đất, hương của Trời đượm tình người. Tất nhiên người ta có thể giản lược nó đến mức trơ trụi, định phẩm định lượng bằng đơn vị calori hay vitamin. Nhưng nếu chỉ còn là như thế thì cuộc sống con người sẽ cằn cỗi đến như thế nào !

III. Bí tích Thánh thể,

bí tích của viếng thăm – gặp gỡ

Theo Kinh Thánh, một trong những từ ngữ hầu như xuyên suốt Lịch-sử cứu-độ và nói lên mối tương quan giữa Thiên Chúa và nhân loại, đó là từ “viếng thăm” (paqad)

“Chúc tụng Chúa, Thiên Chúa của Israel,

vì Người đã viếng thăm và cứu chuộc dân Người” (Lc 1,68)

Thiên Chúa

thăm viếng Ađam – Evà trong vườn địa đàng (St 3,8)

thăm nom tất cả công trình Người đã tạo nên (x. Tv 65,10-12)

thăm Abraham và Sara (x. St 21,1-2)

đến với Môsê trong bụi gai bốc cháy (x. Xh 3,1tt)

thăm dân Israel dưới ách Ai-cập (x. Xh 3,16-17)

thăm để tỏ lòng thương xót dân trong cảnh lưu đày

và trừng phạt vua Babylon (x. Gr 50,17-19)

và cuối cùng, Người đã viếng thăm và lưu lại trọn vẹn giữa nhân loại, nơi Con của Người, vì Tên của người Con đó là :

“Emmanuel, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” (Mt 1,23)

Bí tích Thánh Thể chính là bí tích của cuộc viếng thăm – cứu độ của Thiên Chúa với chúng ta trong Đức Kitô.

Cử hành Thánh Thể là cử hành cuộc viếng thăm của Thiên Chúa trong hiện tại.

Khởi từ kinh nghiệm con người, chúng ta có thể suy niệm ít nhất ba khía cạnh trong cuộc viếng thăm đó.

A. Thuận tình gặp gỡ

Về phía Thiên Chúa, ít nhất chúng ta có thể chiêm niệm sựï thuận tình “nhưng-không” đến mức tuyệt đối của Thiên Chúa.

Cho đến tận hôm nay, bí tích Thánh Thể vẫn là điều không thể chấp nhận nổi (scandale), đặc biệt là với giới trí thức. Bí tích Thánh Thể ư ? – Quá phi lý, Thiên Chúa lại có thể đến hiện diện một cách quá tầm thường, quá “vật chất” như thế sao ?

Điều không thể nào hiểu được về vũ trụ (le plus incompré-hensible) là tại sao vũ trụ lại có thể hiểu được (compréhensible) !

Chúng ta có thể bắt chước câu nói của Einstein để nói rằng :

“Điều lạ thường đến mức không thể tưởng

đó là Thiên Chúa đã chọn cách bình thường đến như thế

để viếng thăm – cứu chuộc nhân loại”

Việc làm như thế đã không thể nào hiểu nổi, thì câu hỏi tại sao Ngài “thuận tình” làm điều đó lại càng không thể hiểu.

Chúng ta chỉ có thể mãi mãi kinh ngạc về việc Thiên Chúa thuận tình viếng thăm trong bí tích Thánh Thể.

Về phía con người, sự thuận tình gặp gỡ tùy thuộc ở mức độ khai mở (ouverture). Chúng ta có thể đọc lại ví dụ về người gieo giống (x. Mt 13,4-23) để nghe Đức Giêsu nói về những mức độ khai mở khác nhau : kẻ thuộc hạng “gieo dọc đường”, kẻ thuộc hạng “gieo vào đất đá”, kẻ thuộc hạng “gieo vào gai”, và cuối cùng là kẻ “gieo vào đất tốt”.

Mẫu mực của tâm hồn đón tiếp có lẽ là viên bách quản với lời mà mỗi tín hữu vẫn hằng lặp lại trước khi rước lễ :

“Thưa Ngài, tôi không đáng được Ngài vào mái nhà tôi.

Song Ngài hãy phán một lời mà thôi…” (Mt 8,8)

Lời nói của ông cho thấy một tâm hồn vừa rất ân cần, vừa vô cùng khiêm hạ, vừa kính trọng, vừa cởi mở hết lòng ; ông ý thức rõ về mình và biết rõ Ai đến viếng thăm.

B. Trao đổi – chia sẻ

Trao đổi, chia sẻ trong bí tích Thánh Thể được đẩy đến mức tận cùng.

Bánh : ơn của Trời, hoa màu của ruộng đất và công lao của con người. Xin dâng lên Chúa !

“Anh em hãy cầm lấy mà ăn, này là Mình Thầy… Anh em hãy cầm lấy mà uống, này là Máu Thầy…”

Con người dâng lên và Thiên Chúa trao lại tất cả, phong phú vạn bội. Chính trong bí tích Thánh Thể mà người kitô-hữu sống lấy trong giây phút hiện tại điều mà thánh Gioan đã thốt lên : “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian như thế đó, đến nỗi đã thí ban người Con Một…” (Ga 3,16) ; và cũng chính trong bí tích Thánh Thể mà chúng ta có thể “trút cả mọi lo âu lại cho Chúa, vì Người chăm sóc chúng ta” (1 Pr 5,7).

Trong bí tích Thánh Thể, chia sẻ không còn chỉ là lời lẽ hay quà tặng bên ngoài, mà là chia sẻ đến mức không tưởng :

“Anh em hãy cầm lấy mà ăn, này là Mình Thầy…”

Quà tặng Ngài trao ban là chính Thân Mình tự hiến (Don de soi) của Ngài. Đó là tuyệt đỉnh của Tình Yêu.

Đến đây, quả chúng ta không còn dám nói đến chữ trao – đổi. Tất cả nhường lại cho thinh lặng tôn thờ. Nếu ngôn ngữ còn một chút nào ý nghĩa thì có lẽ chỉ còn lại câu :

“Con đây, lạy Chúa…”

Thân mình tự hiến cho chúng ta phải chăng chính là để chúng ta biết tự hiến-thân-mình (don de soi) cho anh em ? –  Chắc hẳn đó mới là sự trao đổi và cũng là sự tưởng nhớ (mémorial) mà Đức Giêsu mong muốn :

“Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy !”

C. Biến đổi – thăng hoa

Một câu hát có lẽ đã đi sâu vào ký ức nhiều người :

“Chúa đến thăm con, thăm con mỗi sáng ngày,

linh hồn thấy lại tuổi thơ ngây…”

Cuộc viếng thăm đích thực nào cũng động chạm tới cõi lòng và làm biến đổi cuộc sống. Biến đổi sẽ đến mức trọn vẹn khi ta có thể thốt lên : “Tôi sống, nhưng không phải tôi, mà là chính Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).

Một trong những điểm mấu chốt, thu hút suy tư thần học đó là vấn đề “biến-bản-thể” (transsubstantiatio). Nhưng dầu sao đó mới chỉ là một phía, phía của Đức Kitô, phía của Thiên Chúa, của người viếng thăm. Còn phía thứ hai thiết tưởng quan trọng không kém nhưng dường như đã không được quan tâm đúng mức, đó là sự biến đổi nơi người kitô-hữu, người được-viếng-thăm.

Nếu sự biến đổi bánh rượu trở nên Mình và Máu Thánh Chúa Kitô là trên bình diện bản thể, dưới tác động của Thánh Thần, vậy thì cũng dưới tác động của Thánh Thần, người kitô-hữu biến đổi tận bình diện nào khi lãnh nhận Thánh Thể ? Nói khác đi, Thiên Chúa viếng thăm, chấp nhận ra khỏi chính mình để mang lấy những gì thuộc về con người, vậy con người liệu có ra khỏi chính mình để nhận lấy những gì thuộc về Thiên Chúa hay không ?

Câu trả lời tất nhiên thuộc về Thánh Thần và thái độ tâm hồn của mỗi người chúng ta.

IV. Bàn tiệc Thánh thể

Nếu mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn đều được quy tụ quanh bàn ăn, thì Bàn Tiệc Thánh Thể cũng chính là nơi quy tụ cộng đoàn kitô-hữu.

“Họ chuyên cần với giáo huấn các Tông Đồ

và sự hiệp thông, việc bẻ bánh và kinh nguyện” (Cv 2,42)

Bữa ăn tạo nên tổ ấm gia đình. Bí tích Thánh Thể tạo nên cộng đoàn kitô-hữu.

Cũng dựa vào những khía cạnh trong bữa ăn, chúng ta có thể dừng lại ở một vài khía cạnh trong Bữa Tiệc Thánh Thể : thời gian, không gian của cử hành Thánh Thể, bí tích Thánh Thể nơi của sự thật và sự sống.

A. Thời gian chung

Mỗi người đến tham dự với thời gian riêng, đời sống riêng của mình. Nhưng khi đã ngồi vào bàn thì tất cả phải hòa nhập chung để sống trọn vẹn cho bữa ăn.

Thời gian của bí tích Thánh Thể là thời gian mà Thiên Chúa sống trọn vẹn cho chúng ta, cho con người và vũ trụ này, hay có thể nói đó chính là “Giờ” (kairos) mà Thiên Chúa viếng thăm và cứu chuộc (x. Lc 1,68). Vì thế, “Giờ” đó trở thành giờ chung của mọi người và giờ riêng của mỗi người.

Ngoại trừ thời gian của đồng hồ, ngay cả thời gian vật lý cũng là một ý niệm tương đối, co giãn, dài hay ngắn … tùy theo vị trí của chủ thể. Một người đứng yên, thời gian kéo dài là một giờ (60 phút), thì một người đang bay với vận tốc 80% tốc độ ánh sáng, thời gian chỉ còn là 36 phút (Trịnh Xuân Thuận, Le chaos et l’harmonie, Fayard, 214).

Cũng thế, thời gian bí tích Thánh Thể có thể là phút chốc mà như là vĩnh cửu (instant éternel), đó là tùy thái độ của chủ thể. Maria là người đã đón tiếp và sống thời gian như thế : “Martha, Martha, ngươi lo lắng xôn xao về nhiều chuyện ! Cần thì ít thôi, hay môâït điều thôi ! Maria đã chọn phần tốt rồi, và sẽ không bị ai giật mất” (Lc 10,41-42).

Thời gian “không bị ai giật mất”, đó là thời gian chung giữa con người với Thiên Chúa, giữa con người với nhau, và phải chăng đó là khoảnh khắc vĩnh cửu ?

B. Không gian cho tất cả

Nếu không gian bàn ăn luôn đủ chỗ cho mọi người thì không gian bí tích Thánh Thể càng muôn trùng hơn thế.

Quả thực, không gian bí tích Thánh Thể là “cảnh vực thần linh” (milieu divin) bao trùm cả vũ trụ nhân sinh.

Bánh rượu chúng ta dâng lên là kết tinh của vũ trụ và là công lao của con người.

Không gian mênh mông đó không thể hình dung bằng trí tưởng mà có lẽ chỉ có thể qua một trực giác thần bí như của cha Teilhard de Chardin :

“Trong lúc nhân loại chúng ta chế biến vũ trụ vật chất

và trong lúc Mình Máu Thánh Đức Kitô chế hóa nhân loại chúng ta,

thì cuộc biến hình Thánh Thể vượt quá và hoàn tất

việc biến-thể của tấm bánh trên bàn thờ.

Dần dà, cuộc biến hình đó nhất thiết phải lan khắp vũ trụ.

Đó chính là ngọn lửa cháy bén trên cỏ khô,

là chiếc vồ làm rung chuyển toàn khối đồng.

Theo ý nghĩa tương tự và phổ quát,

nhưng là theo một nghĩa đích thực,

thì những hình sắc Nhiệm-tích

là do toàn thể vũ trụ tác tạo nên

và thời gian cần thiết cho việc thánh hiến vũ trụ

là thời gian suốt dòng lịch sử vũ trụ :

Chúng ta sống, sinh hoạt và hiện hữu trong Đức Kitô”

(Teilhard de Chardin, “Cảnh vực thần linh”, trang 159)

Bí tích Thánh Thể là nơi “đủ chỗ” cho mọi thực tại, mọi phận người : “Anh hãy mau ra ngoài phố và các ngõ hẻm trong thành mà dẫn ăn mày, tàn tật, đui mù, què quặt vào đây”.  Đầy tớ lại rằng : “Trình ông, ông truyền sao, thì đã làm rồi, thế mà vẫn còn chỗ”. Chủ bảo đầy tớ : “Anh hãy ra đàng xá, bờ giậu, và cố ép người ta vào cho đầy nhà tôi…” (Lc 14,21-23).

C. Bí tích Thánh Thể, nơi của sự thật

Trong nhiệm-cục cứu-độ hiện tại, chắc chắn không có “nơi” nào mà Thiên Chúa lại mặc khải trọn vẹn sự thật về Người, về ơn cứu độ của Người như bí tích Thánh Thể. Bởi lẽ “bí tích Thánh Thể là Đức Kitô hiện diện trong giây phút hiện tại”chính “Thần Khí dẫn đưa ta vào Sự Thật” đó.

Nói một cách đơn giản hơn, không nơi nào mà Thiên Chúa lại sống “chân tình” với chúng ta trọn vẹn như thế.

Do đó, bí tích Thánh Thể phải là nơi mà người kitô-hữu có thể và phải sống thật nhất, chân tình nhất với Thiên Chúa. Matthêu đến với Chúa trong tất cả sự thật của mình : nơi bàn thu thuế (x. Mt 9,9 ; Lc 5,27-31) ; Giakêu cũng vậy (x. Lc 19,1tt) ; còn người phụ nữ ngoại tình thì bằng những giọt nước mắt ăn năn (x. Lc 7,36tt).

Giuđa đồng bàn nhưng với sự dối trá. Chính vì thế, “vừa chịu lấy miếng ăn, lập tức y đi ra và trời đã tối” (Ga 13,30).

“Trời đã tối” phải chăng là ngẫu nhiên hay vì dối trá trong lòng của Giuđa ?

Nhưng cái che lấp sự thật, phủ nhận sự thật không phải chỉ có sự dối trá, mà còn có một điều khác nguy hại không kém, đó là sự dửng dưng. Dửng dưng thì không dối mà cũng chẳng thật. Người dối trá thì đã đành, người dửng dưng với bữa tiệc, với bàn ăn cũng làm chủ mời đau không kém.

D. Bí tích Thánh Thể, nơi của sự sống

Nơi Bàn Tiệc Thánh Thể, chúng ta được nuôi dưỡng không phải bằng thứ lương thực hư hoại mà là thứ lương thực thần thiêng, lương thực đem lại Thần Khí sự sống (x. Ga 6,58).

“Bánh hằng sống bởi trời xuống, chính là Ta !

Ai ăn bánh này, thì sẽ được sống đời đời” (Ga 6,51)

Nếu cơm bánh nuôi dưỡng sự sống thể lý đồng thời nuôi dưỡng tương giao con người, thì cũng vậy, Thánh Thần là sự sống cho mỗi kitô-hữu cũng đồng thời là sự sống cho cộng đoàn tham dự. Thánh Thần sự sống là Thánh Thần thông hiệp (communion)

“Chúng con cúi xin Cha

cho Thánh Thần liên kết chúng con nên một

khi chúng con dự tiệc Mình và Máu Đức Kitô”

(Kinh Tạ Ơn II)

“… và khi được chúng con Mình và Máu Con Cha bổ dưỡng,

được đầy tràn Thánh Thần của Người,

xin cho chúng con

trở nên một thân thể và một tinh thần trong Đức Kitô”

(Kinh Tạ Ơn III)

Chính vì điều này mà có thể nói : để đánh giá sức sống của một cộng đoàn Thánh Thể, tiêu chuẩn đúng nhất là sự hiệp thông, duy nhất nơi cộng đoàn đó. Một cộng đoàn chia rẽ thì không thể nói về “một thánh lễ sốt sắng”, cũng như một gia đình tan nát không thể nào nói về “bữa ăn ấm cúng” của gia đình mình !

Kết luận

 

“Hiện hữu con người luôn luôn là trong-thế-giới

và liên-hệ-với-thế-giới (wesentlich weltbezogen)

tận trong bản chất của mình.

Vì thế, theo Wulf, mối liên hệ với thế giới là điểm mấu chốt

cho sự canh tân về thiêng liêng”

(Ludger Schulte, Aufbruch aus der Mitte, Echter, s. 103)

Sự phân ly giữa đời sống đạo và cuộc sống giữa đời, giữa cử hành phụng vụ và những kinh nghiệm hằng ngày, phải chăng cũng một phần vì tính chất hiện sinh của cử hành phụng vụ, đặc biệt là Thánh Lễ, đã không được ý thức, đào sâu, hay ít nhất, không làm nổi bật đủ, vì thế nó thường mang tính chất “một cuộc lễ”, có khi rất đặc biệt, rất trang trọng… nhưng cũng rất lẻ loi, lạ lẫm với đời thường. Người ta khó có thể nhận ra những “nét người”, nét thân quen nơi bí tích Thánh Thể : viếng thăm, gặp gỡ, chia sẻ, tâm sự, ấm cúng bên nhau.

Nhưng đàng khác, những nét sinh hoạt đầy chất người, xây dựng tình người cũng dần mất đi trong nền văn minh hiện đại.

Viếng thăm nhau, chỉ vì tình người, thật nhưng-không, không “nằm trong chương trình” nào cả, không nhằm “được cái gì” cả… dần dần thưa vắng.

Cả những bữa cơm cũng thế, vội vàng hơn, hợp lý hơn… nhưng ít khi đủ mặt, có lẽ cũng do vậy mà đời sống gia đình ngày nay rất dễ tan rã.

Chính vì thế, cử hành Thánh Thể như một cuộc viếng thăm, một bữa ăn ấm cúng cũng là điều cần thiết cho việc canh tân lại đời sống con người. Kinh nghiệm thần linh gìn giữ, đào sâu, hoàn tất kinh nghiệm nhân linh. Cứ giả thiết rằng mai kia người ta không còn đến thăm nhau, điện thoại hay e-mail là đủ, và cũng chẳng còn giờ giấc nào để nói đến một bữa ăn chung, thì có lẽ Bàn Tiệc Thánh Thể sẽ là cơ may vô cùng quý giá cho nhân loại.

Chúa đến thăm tôi mỗi sáng

với bướùc chân nhẹ nhàng

và tôi đến với Người, như người Cha, người Bạn

Có khi chỉ lặng yên

mà lòng đầy ấm áp…

 

Linh mục Athanasiô Nguyễn Quốc Lâm

 

 

GIÁO HỘI VÀ BÍ TÍCH THÁNH THỂ

 

“Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” : Thánh Thể bắt nguồn từ những lời này của Đức Giêsu trong bữa ăn cuối cùng với các môn đệ. Thánh Thể hiện tại hóa mầu nhiệm trung tâm của đức tin Giáo Hội, hiện tại hóa cái chết của Chúa để cứu độ nhân loại và sự sống lại vinh hiển của Người. Các Kitô hữu đầu tiên đã không cử hành Thánh Thể chiều ngày thứ năm như để diễn tả lại bữa tiệc ly, nhưng ngay từ thuở ban đầu, họ đã cử hành lễ tạ ơn vào ngày chúa nhật, ngày Chúa Phục Sinh (x. Cv 20,7 ; Didachè 14,1)

Thánh Thể tháp chúng ta vào mạch sống của mầu nhiệm phục sinh. Và cũng chính từ mầu nhiệm phục sinh mà Giáo Hội đượïc hình thành. Mầu nhiệm phục sinh trở thành nền tảng cho cả việc cử hành Thánh Thể và xây dựng Giáo Hội trở thành cộng đoàn những  kẻ tin vào Đức Kitô  là “Chúa Phục sinh”.

Trong bài này, chúng tôi muốn suy nghĩ về mối tương quan giữa Giáo Hội và Thánh Thể. Một trong nhữõng quan niệm rộng rãi nhất về Thánh Thể, có khả năng diễn tả tất cả vẻ phong phú mà Giáo Hội nhận thấy nơi Thánh Thể là quan niệm được Henri de Lubac tóm tắt trong cái đượïc gọi là thần học của các giáo phụ về Thánh Thể : Thánh Thể làm nên Giáo Hội và Giáo Hội làm nên Thánh Thể.

Nhưng trước hết chúng ta  hãy hỏi xem Giáo Hội tiên khởi đã cử hành Thánh Thể như thế nào ? Các Kitô hữu đầu tiên đã hiểu như thế nào về Thánh Thể ?

I. GIÁO HỘI TIÊN KHỞI VÀ VIỆC CỬ HÀNH THÁNH THỂ

Giáo Hội – “Ekklèsia” là sự tập họp cộng đoàn những kẻ tin vào Đức Giêsu là Chúa Phục sinh.

Tân Ước đã không gọi “Ekklèsia” là sự tập họp những kẻ tin vào Đức Giêsu trước biến cố khổ nạn. Tân ướùc chỉ dùng từ này để gọi nhóm người tin vào sự phục sinh của Đức Kitô. Vào lúc Nhất lãm được viết ra thì từ này đã đượïc sử dụng. Trường hợp Luca là điển hình : từ Ecclesia không xuất hiện chỗ nào trong quyển thứ nhất, nhưng ngược lại đượïc sử dụng 16 lần trong quyển thứ hai tức Tông đồ công vụ. Trường hợp Mt 16,18, nhiều nhà chú giải cho rằng từ này hướng về tương lai ; còn Mt 18,17 có lẽ sử dụng từ Ecclesia để nói về cộng đoàn Syrie-Palestine của thập niên 80 (x. TILLARD, Eglise d’Eglises, Paris, Cerf, 1987, p. 17-18)

Đây có phải là tình cờ không ? Đọc lại các bản văn chính của Tân Ước, trong toàn bộ các truyền thống hình thành Tân Ước, ta tin rằng đối với các tác giả Tân Ước, thực tại Ecclesia hoàn toàn không thể tách khỏi biến cố chết và sống lại của Đức Giêsu. Như vậy, mầu nhiệm vượt qua của Đức Giêsu làm nền tảng cho sự hiện hữu của Giáo Hội. Giáo Hội trước hết là “Giáo Hội phục sinh”, Giáo Hội được xây dựng trên một biến cố.

Đến ngày lễ Ngũ Tuần, với việc nhận lãnh Chúa Thánh Thần, cộng đoàn của “Giáo Hội – phục sinh” đã xuất hiện như sự biểu lộ mở ra thời đại mới, thời đại của ơn cứu độ. Ba nhân tố làm nên “Giáo Hội ngũ tuần” là Thánh Thần, lời chứng của các tông đồ về cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu và sự hiệp thông Giáo Hội (x. Cv 2,14-47). Ba nhân tố này thuộc về bản chất của Giáo Hội. Giáo Hội của Chúa Phục sinh cũng là Giáo Hội của Thánh Thần. Giáo Hội đượïc liên kết thành một dân mới. Các nhà chú giải đã cho rằng đây chính là lý do các giáo phụ của những thế kỷ đầu xem tường thuật lễ Ngũ tuần như đối nghịch lại tường thuật Babel (x. St 11, 1-9 ; Cv 2,1-13).

Giáo Hội hiệp thông, một Giáo Hội của Thánh Thần, hiệp thông trong liên đới, trong cầu nguyện, trong đứùc tin và đứùc ái. Giáo Hội cũng được mô tả như là một Giáo Hội đượïc xây trên sự chuyên cần : chuyên cần nghe lời giáo huấn của các tông đồ, luôn luôn hiệp thông với nhau, bẻ bánh và cầu nguyện.

“Bẻ bánh”, một danh từ ám chỉ đến Thánh Thể. Giáo Hội ngũ tuần cử hành bẻ bánh và chính việc chuyên cần này đã xây dựng Giáo Hội tiên khởi (Cv 2,42-47 ; 4,32-35 ; 5,12-16).

Mặc dù sách Công vụ tông đồ không nói rõ, nhưng hình như việc “bẻ bánh”, tên gọi của Thánh Thể đã đượïc cử hành đều đặn mỗi ngày chúa nhật. Chúng ta không có những chi tiết về những gì diễn ra trong cử hành Thánh Thể hay tạ ơn ngày chúa nhật, có thể việc cử hành vẫn còn gắn liền với các bữa ăn.

Thánh Phaolô đã trách cứ các Kitô hữu Corintô đã không cử hành đúng cách “bữa ăn của Chúa”. Ngài viết : “Khi anh em họp nhau thì không phải để ăn bữa tối của Chúa nữa” (1 Cr 11,20). Ngài trách họ điều gì ? Trách rằng thái độ của họ không phù hợp với sự cử hành của họ. Họ hiệp thông với Đấng dạy rằng: “Đây là Mình Thầy hy sinh vì anh em”, vậy mà trong thựïc tế “mỗi người lo ăn bữa riêng của mình trước, và như thế kẻ thì đói, người lại say. Hay anh em khinh dể Hội Thánh của Thiên Chúa và làm nhục những người không có của” (1 Cr 11,12).

Trong đoạn này, thánh Phaolô cho ta thấy có mối tương quan giữa “bữa ăn của Chúa” và Giáo Hội. Cử hành “bữa ăn của Chúa” không đúng cách là làm cho Giáo Hội bị thương tổn.

II. Giáo HỘi đưỢc tẬP hỌp vào “ngày cỦa Chúa” đÊ cỬ hành

Didachè, chương 14, 1, để lại cho chúng ta chứng từ về “ngày của Chúa” là để “bẻ bánh” và để “tạ ơn” :

            “Ngày của Chúa, anh em hãy tụ họp lại để bẻ bánh và để tạ ơn”.

Trong chương 67 của tác phẩm 1 Apologie (Minh giáo), được viết vào khoảng năm 150 tại Rôma mà thánh Justinô gửi cho hoàng đế Antoniô le Pieux (138-161), lần đầu tiên, chúng ta có đượïc chứùng từ về diễn tiến của việc tập họp ngày chúa nhật của các Kitô hữu :

“Trong ngày mà người ta gọi là ngày của mặt trời, tất cả mọi người ở thành thị cũng như thôn quê, đều hội họp lại ở một nơi. Người ta đọc hồi ký của các tông đồ và các bài viết của các ngôn sứ, tùy theo thời giờ cho phép. Đọc sách xong, vị chủ tọa lên tiếng và khuyên mọi người hãy bắt chước các lời giáo huấn tốt lành đó. Sau đó tất cả chúng tôi đứng lên, và cùng nhau cầu nguyện lớn tiếng. Rồi như chúng tôi đã nói, khi đã cầu nguyện xong, người ta mang tới bánh mì, rượu nho và nước. Vị chủ tọa dâng lên trời những lời cầu nguyện và cảm tạ tùy sức của người, và tất cả dân chúng đáp lại bằng lời hô lớn : Amen. Sau đó là việc phân phối và chia phần các thứùc ăn đã đượïc thánh hiến cho mỗi người, và giữ phần cho các người vắng mặt, nhờ thừa tác vụ của các phó tế” (1 Apologie 67).

Thánh Justinô, trong chương này đã nhắc đến việc đọc các “hồi ký của các tông đồ” (Mémoires des apôtres) có nghĩa là các “phúc âm” (x. 1 Apologie 66) và bài viết của các ngôn sứ (Ecrits des prophètes) có nghĩa là Cựu Ước. Qua việc đọc Cựu Ước, Giáo Hội thuở ban đầu muốn loan báo “ngày hôm nay” của việc hoàn tất lời hứa nhờ Đức Kitô, trong mầu nhiệm Vượt qua của Người. Buổi hội họp mà Justinô vừa mô tả vẫn là cấu trúc cơ bản của việc cử hành Thánh Thể cho tới ngày nay : sự tập họp, phụng vụ Lời Chúa với các bài đọc, bài giảng và lời nguyện chung, phụng vụ Thánh Thể với việc mang tới bánh và rượu, kinh tạ ơn, thánh hiến và hiệp lễ.

Qua chứùng từ của thánh Justinô, chúng ta thấy “ngày của mặt trời” trở thành “ngày của Chúa”. Và “ngày của Chúa” trở thành “ngày của Giáo Hội”, ngày của sự tập họp (Eglise = rassemblement).

Tập họp để cử hành bẻ bánh và tạ ơn trở thành “nơi” ưu tiên của Giáo Hội. Như thế, Giáo Hội “duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền” biểu lộ căn tính của mình không chỗ nào rõ bằng lúc cử hành Thánh Thể hay Tạ ơn.

Từ những gì nói ở trên, chúng ta có thể rút ra ba điểm thần học quan trọng :

A. Trước hết, một Giáo Hội không có một cộng đoàn đượïc tập họp sẽ là một mâu thuẫn ngay trong từ ngữ. Vì thế, “sự tập họp” hay “Giáo Hội” của Thiên Chúa  hay của Đức Kitô  là đặc tính của người kitô hữu. Từø cái nhìn này, chúng ta có thể nói, ngườøi kitô hữu là người đến tập họp với anh em mình nhân danh Đức Kitô và để tưởng nhớ công trình cứu chuộc của Người mà cao điểm là cái chết trên thập giá và sự sống lại.

B. Mô hình mẫu của Giáo Hội là sự tập họp ngày chúa nhật, ngày của Chúa, ngày mà người kitô tưởng nhớ Đức Giêsu như là “Chúa” phục sinh. Ngày này mang một ý nghĩa thần học và phụng vụ. Nó như nền tảng cho đời sống phụng vụ của Giáo Hội tiên khởi và đã trở thành một thói quen cho cộng đoàn kitô hữu từ những năm 50 (x. 1 Cr 16,1-2) : đoạn văn này cho ta thấy rằng Phaolô đã đề cập đến thói quen này đã có nơi giáo đoàn Corintô cũng như tại Galat) ; sách công vụ cho thấy Phaolô cùng cử hành “bẻ bánh” ngày chúa nhật khi ngài ghé qua thành Troa (Cv 20,7-12). Như thế, với việc tưởng niệm Chúa Kitô Phục sinh, ngày thứù nhất trong tuần của người Do thái trở thành ngày trung tâm và nền tảng của đờøi sống Giáo Hội Kitô, ngày Giáo Hội đượïc tập họp, ngày Giáo Hội đượïc quy tụ lại, được xây dựïng.

Chắc hẳn việc “bẻ bánh” (Thánh Thể) đã trở thành trung tâm cho ngày này (x. Didachè 14,1). Nhiều chứng từ của các giáo phụ cho biết rằng việc cử hành Thánh Thể trước hết nằm vào ngày chúa nhật tại tất cả các Giáo Hội, sau đó đến ngày thứ tư và thứù sáu, rồi thứ bảy, rồi đến mỗi ngày trong tuần. Tuy nhiên, đối với các ngày khác ngày chúa nhật thì tùy thuộc vào các Giáo Hội khác nhau và tùy vào từng thời đại (x. Augustin, Lettre 54,2 : “tại một vài nơi, không có ngày nào qua đi mà không có hy lễ (Thánh Thể), ở những nơi khác, chỉ có hy lễ ngày thứù bảy và chúa nhật, và một số nơi thì chỉ có ngày chúa nhật” ; Basile, Lettre 93 (372). Thánh lễ hằng ngày dườøng như đượïc thánh Cyprianô ở Carthage nói đến vào giữa thế kỷ thứ III, nhưng thói quen này được phổ biến trong các Giáo Hội rõ ràng nhất kể từ thế kỷ IV (cf R. TAFT, Concilium, 172, 1982, p.27-44).

Nhưng nếu Thánh Thể chiếm một vị trí trung tâm của ngày chúa nhật thì Thánh Thể cũng là trung tâm cho cộng đoàn cử hành biến cố vượt qua của Chúa mình. Ta thấy có một sự liên hệ mật thiết giữa ngày của Chúa, Thánh Thể ngày của Giáo Hội.

Các chứng từ của các giáo phụ trong 4 thế kỷ đầu đều cho thấy có mối liên hệ sâu xa giữa “ngày của Chúa” – “cử hành Thánh Thể” – “việc giảng dạy” (thánh kinh, luân lý, các mầu nhiệm) và đời sống Giáo Hội và cộng đoàn. Phụng vụï ngày chúa nhật là nơi đào luyện, duy trì và củng cố khuôn mặt của kitô hữu và của Giáo Hội Chúa Kitô (x.Cyrille de Jérusalem, Les catéchèses mystagogiques )

Chúng ta có thể tóm tắt như sau: là kitô hữu có nghĩa là thuộc về Giáo Hội và thuộc về Giáo Hội có nghĩa là tham dự vào việc cử hành ngày Chúa sống lại để bẻ bánh và để tạ ơn.

Tác giả cuốn La Didascalie hay là Doctrine catholique des douzes apôtres et des saints disciples de notre Sauveur, có lẽ là một giám mục thuộc vùng Syrie vào khoảng giữa thế kỷ III đã viết như sau :

“Hỡi vị giám mục, khi ngài giảng dạy, hãy truyền dạy và khuyến dụ dân chúng phải trung thành tới hội họp trong cộng đoàn Giáo Hội : họ đừng vắng mặt, mà hãy trung thành tớùi hội họp, để không một ai làm cho Giáo Hội nhỏ bé đi vì tại mình không tới, và đừng để thân thể Chúa Kitô  thiếu mất một chi thể  (… ).

Vì anh em là chi thể của Chúa Kitô , anh em đừøng để mình hư mất ở ngoài Giáo Hội, do sự anh em không tới hội họp. Bởi vì Chúa Kitô là Đầu của anh em đúng như Ngài đã hứa, Ngài hiện diện và hiệp thông với anh em. Vậy anh em đừøng coi thường bản thân mình và đừng để Chúa Cứu Thế bị mất đi các chi thể của Người. Đừng xé nát và đừng phân tán chi thể của Người” (Didascalie 13).

Như thế, sự thuộc về Giáo Hội đượïc bày tỏ và đượïc thựïc hiện bằng sự thuộc về cộng đoàn cử hành Thánh Thể.

Mỗi cộng đoàn Thánh Thể biểu lộ thựïc tại Giáo Hội với điều kiện được cử hành trong sự hiệp thông với giám mục và với những cộng đoàn khác của Giáo Hội. Điều này muốn nói lên rằng Giáo Hội của Chúa Kitô không ở đâu xa xôi nhưng ngay trong chính cộng đoàn cử hành tạ ơn.

Thánh Ignatiô, giám mục thành Antiokia (+110), trong thư gửi cộng đoàn tín hữu Ephesô cho ta những thông tin về những cuộc họp của các tín hữu quanh giám mục và linh mục đoàn để  “bẻ bánh” (x. Ignace  d’Antioche, Eph. 20,2 trong  ‘coll. Littératures chrétiennes’, Paris, 1957).

Bây giờ chúng ta tìm hiểu nền thần học của giáo phụ được Henri de Lubac trình bày lại : Thánh Thể làm nên Giáo Hội và Giáo Hội làm nên Thánh Thể.

III. Thánh Thể làm nên Giáo Hội

(L’eucha-ristie fait l’Eglise)

Trong vế thứ nhất này, chữ “Thánh Thể” phải được hiểu theo nghĩa rộng nhất. Thánh Thể ở đây là sự tập họp các tín hữu để cử hành thánh lễ, để lắng nghe Lời Chúa, lấy Lời Chúa soi sáng cuộc sống của mình, múc lấy trong Lời Chúa những nghị lực để cảm tạ Thiên Chúa Cha, trong Chúa Thánh Thần, vì những gì Chúa Kitô làm cho họ : họ đi vào tâm tình Chúa Kitô  khi hiệp lễ, rồi họ được sai đi vào môi trường của thế giới để xây dựng tình thương, công lý và hoà bình ; để đến với những người nghèo và phục vụ họ, để chia sẻ với họ bánh của trái đất và bánh tình thương, để loan báo Tin Mừng cho một thế giới được Thiên Chúa yêu thương và cứu chuộc. Thánh Thể chỉ làm nên Giáo Hội thực sự trong chiều hướùng Thánh Thể đượïc cử hành trong bầu khí bác ái của Giáo Hội. Lý do bởi vì Thánh Thể làm nên sựï hiệp nhất và do đó bác ái phải trở nên động cơ của đờøi sống Giáo Hội. Thánh thể quy tụ lại những ai tham dự vào Thân Mình của Đức Kitô như những chi thể của một thân thể

A. Thánh Thể xây dựng Giáo Hội và làm tăng trưởng dân Kitô

Sống Thánh Thể là sống sự hiệp thông trong Giáo Hội và của Giáo Hội như là hồng ân của Thiên Chúa. Truyền thống luôn luôn phủ nhận một sự cắt  đứt căn bản giữa việc thuộc về Đức Kitô, nguồn mạch ơn cứu độ và thuộïïc về Giáo Hội. Bởi vì làm sao có thể thuộc về Đức Kitô mà lại không tháp nhập vào Người một cách nào đó ? Làm sao có thể thuộc về Đức Kitô  mà lại không thuộc về Giáo Hội của Người ? Chúùa Giêsu không thể nào phân ly khỏi Giáo Hội.

Như vậy, sẽ thực sự là mâu thuẫn khi tách thân thể Chúa Kitô trong bí tích khỏi thân-thể-Giáo-hội của Người. Hay nói cách khác, Thánh Thể làm nên Giáo Hội.

Chúng ta cũng cần chắc lại rằng từ những thế kỷ đầu, người ta đã hiểu từ “ex-communion” theo hướùng Thánh Thể rồi dần dà theo hướng Giáo-hội-học. Từ đó chúng ta sẽ thấy Giáo-hội-học không thể tách ra khỏi thần học về Thánh Thể. Giáo-hội-học của Vatican II là Giáo Hội học hiệp thông hay nói khác đi là Giáo Hội Thánh Thể (Eglise eucharistique) theo nghĩa rộng của từ ngữ này.

Hiểu như thế, với sức năng động của Thánh Thần, thì rõ ràng Thánh Thể làm nên Giáo Hội. Thánh Thể biến đổi các người tham dự thành thân thể Đức Kitô. Kinh tạ ơn III đã diễn tả như sau:

“Và khi chúng con được Mình và Máu Con Cha bổ dưỡng,

đượïc đầy tràn Thánh Thần của Người,

xin cho chúng con

trở nên một thân thể và một tinh thần trong Đức Kitô”.

Thánh Augustinô đã trình bày cách tuyệt hảo về mối tương quan giữa thân thể Chúa Kitô  mà chúng ta nhận lấy một cách bí tích và thân thể Giáo Hội của Chúa Kitô  mà chúng ta trở thành khi hiệp lễ trong bài giảng 272 :

“Bạn muốn hiểu thân thể Chúa Kitô là gì không ? thì bạn hãy nghe thánh tông đồ nói với các tín hữu : “anh chị em là thân thể Chúa Kitô và là các chi thể của Người” (1 Cr 12,27). Vậy nếu anh chị em là thân thể Chúa Kitô và là chi thể của Người, thì chính mầu nhiệm của anh chị em đang ngự trị trên bàn tiệc của Chúa. Anh chị em nhận lấy mầu nhiệm của mình. Anh chị em thưa Amen để đáp lại lời nói về bản thân anh chị em, và lời đáp này nói lên sựï chấp thuận của anh chị em. Bạn nghe nói “Mình thánh Chúa Kitô” và bạn hãy là chi thể của Chúa Kitô, để lời thưa Amen của bạn là chân thật” (sermon 272).

Giáo Hội là một biến cố : Giáo Hội đượïc tạo thành khi các kitô-hữu họp nhau nghe Lời Chúa Kitô, đón nhận Thân mình Người và hiệp thông với mầu nhiệm chết đi và sống lại của Người.

Không những Thánh Thể quy tụ và xây dựng Giáo Hội, nhưng theo nghĩa chặt, Thánh Thể còn là lương thựïc của Giáo Hội.

B. Thánh Thể, lương thựïc của Giáo Hội lữ hành

Chúng ta sẽ đi từ chứùng từ của các giáo phụ :

Giá trị cứu chuộc của Thánh Thể rất rõ nét trong tư tưởng của các giáo phụ khi các ngài gợi lên tư tưởng sau đây : Thánh Thể như là sự cứu rỗi cho Giáo Hội và là sự hiệp nhất cho Giáo Hội.

Thánh Ignatiô thành Antiôkia cho rằng tường thuật về việc thành lập Thánh Thể nói lên bánh và rượu Thánh Thể chứa đựng Mình và Máu Đức Kitô . Ngài nói rằng cử hành Thánh Thể là để thực hiện và bày tỏ tính hiệp nhất của Giáo Hội. Tư tưởng này đượïc viết trong thư gởi người thành Philiphê :

“Anh chị em  hãy cẩn thận chỉ tham dự vào một cử hành Thánh Thể mà thôi, bởi vì có một nhục thể của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, chỉ có một ly rượu để hiệp nhất chúng ta trong máu Người, chỉ có một bàn thờ cũng như chỉ có một giám mục cùng với linh mục đoàn và các  phó tế là những bạn cùng phục vụ với tôi” (Phil 4,2).

Thánh Justinô trong cuốn 1 Apologie chú thích như sau :

“Chúng tôi gọi lương thực này là Thánh Thể (eucharistie = tạ ơn), không ai có thể tham dự mà không tin vào chân lý của giáo huấn của chúng tôi và không được rửa trong giếng của ơn tha tội và của ơn tái sinh và không sống theo giáo huấn của Chúa Kitô. Bởi vì chúng tôi không cầm lấy lương thực này như bánh thường và của uống thường… Thức ăn này nuôi dưỡng chúng ta bằng cách đồng hóa máu và thịt chúng ta với Máu và Thịt của Chúùa Giêsu nhập thể ; đó là giáo lý của chúng tôi. Trong các sách hồi ký của các ngài mà người ta gọi là sách phúc âm, các tông đồ đã kể lại cho chúng ta những gì mà Chúùa Giêsu đã nhắn nhủ các ngài ; Chúa cầm lấy bánh và sau khi đã tạ ơn ; Người nói với các ông : anh em hãy làm việc này để tưởng nhớ đến Thầy. Cũng thế, Chúa cầm lấy chén rượu, và sau khi đã tạ ơn, Người nói : Đây là Máu Thầy và Người đã ban các thứù đóù cho họ mà thôi” (1Apologie 66).

Trong lời chú thích này, thánh Justinô nhấn mạnh đến đức tin của Giáo Hội : Giáo Hội cử hành “tạ ơn” trong đức tin. Đức tin và việc gia nhập vào Giáo Hội là những điều kiện để lãnh nhận lương thực này. Lương thực này kết hiệp mật thiết những người tham dự vào Thân mình Đức Kitô. Giáo Hội không coi Thánh Thể như của ăn của uống thông thường, nhưng như lương thực thiêng liêng và đích thực nuôi dưỡng Giáo Hội.

Giáo Hội, ngay từ những thế kỷ đầu tiên đã nhìn Thánh Thể như bánh nuôi dưỡng đức tin, niềm hy vọng và lòng mến cho Dân Chúa lữ hành. Nhiều chứng từ cho chúng ta thấy, ngay từ thế kỷ thứ II, trong nhiều Giáo Hội, đã xuất hiện thói quen đem về nhà một phần bánh được hiến thánh để được hiệp thông mỗi ngày, hay dành cho những người đau yếu không thể đếùn trong các buổi tụ họp ngày chúa nhật hay là dành cho những tín hữu chuẩn bị chấm dứt hành trình trần gian như “của ăn đường” (x. 1 Apologie 67).

Thánh Thể là lương thực nuôi dưỡng đức ái của Giáo Hội, vì Thánh Thể đưa Giáo Hội vào kinh nghiệm sự viên mãn của tình yêu dâng hiến mà cao điểm là mầu nhiệm vượt qua của Đức Kitô. Khi cử hành Thánh Thể, Giáo Hội được mời gọi sống khai mở cho Thiên Chúa và cho thế giới. Là lương thực nuôi dưỡng đức ái của Giáo Hội, Thánh Thể xây dựng một Giáo Hội hiệp thông và không ngừng canh tân khuôn mặt của Giáo Hội này.

Vì vậy mà cộng đoàn Kitô hữu thựïc sự trở thành Hội Thánh của Thiên Chúa nơi cử hành Thánh Thể. Khi người tín hữu tham dự Thánh Thể, Chúa Thánh Thần liên kết họ vào thân thể Chúa Kitô và làm cho họ trở nên thân thể Hội Thánh của Người. Kinh tạ ơn III đã diễn tả mối tương quan này như sau :

 “Và khi chúng con đuợc Mình và Máu Con Cha bổ dưỡng,

được đầy tràn Thánh Thần của Người,

xin cho chúng con trở nên

một thân thể và một tinh thần trong Đức Kitô”

Tóm lại, Thánh Thể cung cấp năng lực sống và liên kết các phần tử của Giáo Hội như Giáo Hội là cộng đoàn bác ái (Eglise = communauté de charité). Thánh Thể xây dựng Giáo Hội xét như là thân thể Đức Kitô.

IV. GIÁO HỘI LÀM NÊN THÁNH THỂ

Thánh Thể làm nên Giáo Hội nhưng ngược lại, chính Giáo Hội làm nên Thánh Thể. Giáo Hội, chứ không phải một cá nhân nào. Toàn thể Giáo Hội là người cử hành Thánh Thể. Chủ thể của việc cử hành tạ ơn là Giáo Hội, có nghĩa là cộng đoàn cụ thể của nhữõng người đã được rửa tội nhân danh Chúa Kitô. Chắc chắn, linh mục có một vai trò đặc biệt, đó là “chủ sự” nhân danh Đức Kitô. Nhưng chức vụ này không đặt ngài ở trên Giáo Hội, nhưng về phương diện thần học, ngài ở trong lòng Giáo Hội. Chỉ có một chủ sự, nhưng tất cả đều cử hành (un seul préside, mais tous célèbrent). Hay nói theo Vatican II thì chủ thể của phụng vụ là Giáo Hội cử hành. Sách Lễ Rôma, trong quy chế tổng quát, đã nhấn mạnh về điểm này khi nói: “Thánh lễ là sựï cử hành của dân Chúa được tổ chức có phẩm trật” (x. Quy chế tổng quát Sách Lễ Rôma, ch. I, 1 ).

Không có Thánh Thể nếu không có Giáo Hội. Giáo Hội làm nên Thánh thể trước hết bằng cách mời gọi các tín hữu tụ họp quanh Chúa Giêsu, Đấng chịu đóng đinh thập giá và đã sống lại, Đấng mà họ tuyên xưng là “Chúa” (Kyrios) và là Thiên Chúa (Théos) của họ. Lời mời gọi này gắn chặt với “ngày của Chúa”. Lẽ dĩ nhiên, sự tập họp của cộng đoàn thánh thể trước hết là do lời mời gọi của Thiên Chúa, bởi vì Giáo Hội là Dân đuợc Thiên Chúa tuyển chọn và kêu gọi nhờ việc Đức Giêsu chịu chết và sống lại trong quyền năng Chúa Thánh Thần.

Giáo Hội làm nên Thánh Thể khi mà Thánh Thể đượïc cử hành trong bối cảnh của đứùc bác ái, vì bản chất của Giáo Hội là hiệp thông sự sống như hiến chế về phụng vụ đã viết :

“Tại bữa ăn sau cùng, trong đêm Người bị nộp, Chúa Cứu Thế của chúng ta đã lập hy lễ Thánh Thể Mình và Máu Người, để tồn tại muôn đời lễ hy sinh thập giá của Người cho tới khi Người lại đến, và cũng là để ủy thác cho Giáo Hội, hiền thê chí ái của Người, việc tưởng niệm sự chết và sựï sống lại của Người : đó là bí tích tình yêu, dấu chỉ của hiệp nhất, dây ràng buộc của đứùc ái, bữa tiệc phục sinh, trong đó Chúa Kitô  đượïc người ta ăn, linh hồn ta đượïc tràn đầy ân sủng, và bảo chứùng của phúc vinh quang sau này đã được ban cho chúng ta” (PV 47).

Chúng ta sẽ dễ hiểu vế này : Giáo Hội làm nên Thánh Thể khi chúng ta hiểu Giáo Hội như là “bí tích của ơn cứu rỗi” hay “bí tích của Nước Thiên Chúa”. Đây không phải là bí tích thứ tám, nhưng là “bí tích căn bản” (sacrement fondamental), bí tích bao gồm các bí tích khác. Lẽ dĩ nhiên, Giáo Hội chỉ là “bí tích căn bản” do sự lệ thuộc hoàn toàn và mãi mãi vào “bí tích uyên nguyên” (sacrement-source) của Thiên Chúa và sự gặp gỡ giữa con ngườøi với Thiên Chúa là Đức Kitô .

Giáo Hội mạc khải và thể hiện ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban cho nhân loại trong Con của Người là Đức Giêsu nhờ sức mạnh của Thánh Thần. Chính trong cử hành Thánh Thể và các bí tích khác mà Thánh Thể là trung tâm mà Giáo Hội tưởng nhớ đến Chúa của mình, nhớ  đến mầu nhiệm Đức Kitô, mầu nhiệm đã làm nên sự hiện hữu của Giáo Hội như là Giáo Hội của Chúa Kitô và hiện tại hóa mầu nhiệm này để sống lấy mỗi ngày.

Thánh thể cũng như các bí tích khác đều được cử hành trong Giáo Hội, với Giáo Hội và bởi Giáo Hội (dans l’Eglise, avec l’Eglise et par l’Eglise).

Sau khi đã tìm hiểu hai vế trong tư tưởng thần học của giáo phụ về Thánh Thể, chúng ta hỏi xem vậy đâu là thần học của mối tương quan này.

V. TRUYỀN THỐNG THẦN HỌC VỀ MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA THÁNH THỂ VÀ GIÁO HỘI.

A. Thánh Thể : điểm tới của các bí tích khai tâm kitô giáo (initiation chrétienne)

Truyền thống phụng vụ trong 6 thế kỷ đầu luôn luôn cử hành các bí tích khai tâm kitô giáo mà ngày nay ta gọi là Rửa tộâi – Thêm sức – Thánh Thể như một toàn thể thống nhất. Bộ ba này đã trở thành khuôn mẫu và quy tắc cho việc nhập Kitô-giáo.

Thánh Augustin đã diễn tả bằng một biểu tượng tuyệt vời để nói lên tính năng động gắn bó của bộ ba này :

“Như những hạt lúa mì, anh em đã đượïc chứa vào các kho lẫm khi bước vào bậc dự tòng ; rồi trong suốt thời gian dự tòng, anh em đã đượïc nghiền nát bởi các cuộc chay tịnh và các lần trừ tà ; sau đó anh em tới giếng rửa tội để được thấm nước, rồi đượïc nướng chín trong lửa Chúa Thánh Thần. Anh em đã trở nên tấm bánh của Chúa. Vậy anh em hãy là những gì anh em xem thấy và hãy nhận lấy những gì mà anh em là” (sermons 227 và 272).

Như vậy, từ rửa tội, bí tích của sự gia nhập vào Giáo Hội đến Thánh Thể tạ ơn là một hành trình duy nhất gồm nhiều giai đoạn. Nếu rửa tội là điểm khởi hành thì Thánh Thể là điểm tới của hành trình. Vấn đề cốt yếu là trở thành những chi thể của thân thể Giáo Hội của Chúa Kitô bằng cách tham dự vào thân thể Thánh Thể.

Hành trình đi vào Giáo Hội phải dẫn người tân tòng đến Thánh Thể. Đến với Giáo Hội để đến với Chúa Kitô và kết hiệp với Chúa Kitô để trở nên chi thể trong thân-thể-giáo-hội của Người. Chính bằng cách hiệp thông với Thân mình Đức Kitô mà người tân tòng hoàn toàn trở thành thành viên của Giáo Hội. Bí tích Thánh Thể xác định chúng ta thuộc về Giáo Hội. Cả hai bí tích đều được xây dựng trên mầu nhiệm chết và sống lại của Chúa Kitô .

Bí tích rửa tội – thêm sức tìm thấy hướng đi nơi Thánh Thể. Thánh Phaolô nói : Rửa tội là một sự ngụp lặn vào trong sự chết với Chúa Kitô, rồi Ngài nói chúng ta cùng được “mai táng” (Rm 6,3), “cùng đóng đinh” (Rm 6,6), “cùng tháp vào Người” (Rm 6,5) để được “cùng sống với Người” (Rm 6,8).

Chết với Đức Kitô và sống lại với Đức Kitô (x. Rm 6,4-6), người Kitô hữu đượïc mời gọi hiến dâng thân xác mình như mộïït của lễ dâng hiến trong hy tế Thánh Thể. Khi dâng Thánh lễ, ngườøi kitô hữu dâng chính mình với Đức Kitô. Thánh Tôma nói rằng tất cả ơn các bí tích đều bắt nguồn từ Thánh Thểû và cốt yếu là ơn làm con trong Giáo Hội.

B. Truyền thống La-tinh về tương quan giữa Thánh Thể và Giáo Hội

Truyền thống thần học Tây phương về Thánh Thể đã nhìn Thánh Thể như phần trung tâm, thánh thiện nhất của toàn bộ đời sống Giáo Hội : Giáo Hội phổ quát cũng như Giáo Hội địa phương và đối với từng tín hữu (x. Quy chế tổng quát sách lễ Rôma, ch. I, 1 ; PV 41 ; GH 11). Chỉ có bí tích Thánh thể mới thực hiện trong con người sự hiệp thông viên mãn với Đấng mà con người tuyệt đối cần để được sống và sống dồi dào sung mãn. Truyền thống còn nhìn bảy bí tích của Giáo Hội lữ hành bắt nguồn trong sự phục sinh của Đức Kitô và Thánh Thể là bí tích tuyệt vời, là chóp đỉnh của mọi bí tích. Các giáo phụ luôn nhìn trong Máu và Nước từ cạnh sườn Đức Kitô  trên thập giá như nguồn mạch phát sinh các bí tích, và Máu Đức Kitô tượng trưng cho Thánh Thể và Nước cho bí tích Rửa tội.

Bí tích Rửa tội đưa ta vào cuộc tạo dụng mới trong mầu nhiệm Vượt qua của Đức Kitô, Thánh Thể kết hiệp ta với Đức Kitô và là “mầm mống ơn trường sinh bất tử” và là lương thực cho ta được phục sinh (x. Ga  6, 54-48  : diễn từ về bánh hằng sống).

Như thế, các bí tích đều chất chứa ân sủng đến từ phục sinh của Đức Kitô. Vì vậy, tất cả mọi bí tích đều hoàn tất và viên mãn trong Thánh Thể.

C. Truyền thống Đông phương về tương quan giữa Thánh Thể và Giáo Hội

Cũng đồng ý với thần học Tây phương, Jean Zizioulas 1, một nhà thần học nổi tiếng của Đông phương, trong tác phẩm “l’être ecclésial” thêm rằng : Thánh Thể như là biến cố của hiện xuống ( événement de Pentecôte) và ông nhấn mạnh đến chiều kích vũ hoàn của Thánh Thể.

Chính vì Thánh Thể liên kết Giáo Hội một cách mật thiết với sức sống phục sinh của Đức Kitô mà Giáo Hội, dưới sức mạnh của Thánh Thần, được củng cố và canh tân sứ mạng thừa sai của mình. Cũng như Giáo Hội – ngũ tuần đã để cho Thánh Thần đổi mới để thực sự trở thành Giáo Hội của Chúa Phục sinh thì nếu Giáo Hội ngày nay cũng chấp nhận để cho Thánh Thể canh tân chính mình, Giáo Hội cũng tìm lại được căn tính và ơn gọi nguyên thủy của mình.

Đồng thời, khi cử hành Thánh lễ tạ ơn, Giáo Hội dược mời gọi để hy vọng : cùng với Đức Kitô, Giáo Hội tham dự vào sự hình thành một nhân loại được cứu độ và được tập họp trong niềm mong đợi ngày mà Thiên Chúa sẽ là tất cả trong tất cả (1 Cr 15, 28).

   Giáo Hội tìm thấy trong mầu nhiệm tạ ơn lương thực nuôi dưỡng niềm tin tưởng và hy vọng của mình. Khi tham dự vào biến cố cứu độ được hiện tại hóa trong bữa ăn của Chúa, các chi thể của thân thể Giáo Hội đã được kết hiệp với Đấng giải thoát họ và họ hướng về ngày mà mọi con cái của Thiên Chúa sẽ cởi mở hoàn toàn để đón nhận tình thương của Chúa Cha. Tuy vẫn là Giáo Hội lữ thứ, nhưng trong sự mong đợi, Giáo Hội đã có chân trong cuộc biến đổi vĩ đại sẽ làm cho vũ trụ này thay hình đổi dạng .

Cuối cùng, theo ông, cộng đoàn Thánh Thể chính là thân thể của Đức Kitô tuyệt hảo nhất và Giáo-hội-học của Đông phương luôn hướng về Thánh Thể.

 

1 ZEAN ZIZIOULAS, thần học gia chính thống, giáo sư thần học tín lý tại Đại học Glasgow. Ông sinh tại Hy lạp năm 1931. Sau khi tốt nghiệp tại Đại học Athena, ông chuyên về lịch sử giáo hội trong ba thế kỷ đầu tại Đại học Harward, Hoa Kỳ. Tác phẩm đầu tay của ông: “Sự duy nhất của Giáo hội trong Thánh Thểû và trong chứùc giám mục trong ba thế kỷ đầu” đã đóng một vai trò quyết định trong việc soi sáng thần học và lịch sử về khoa Giáo hội học Thánh Thể (ecclésiologie eucharistique).

 

KẾt luẬn

Thánh Thể là kho tàng xây dựng Giáo Hội, nghĩa là nguồn suối và cùng đích của đời sống Kitô hữu, là kinh nguyện tạ ơn, là cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa.

Thánh Thể, bánh của Lời Chúa và Bánh của Mình và Máu Chúa Kitô (x. Origène, Homélie XIII, 3 ; Ambroise, Traité sur l’évangile de saint Luc)â, nuôi dưỡng cuộc sống Giáo Hội và tạo nên khuôn mặt tín hữu của các chi thể. Thánh Thể là thức ăn đem niềm vui đến cho Giáo Hội mỗi ngày, là lương thực hàng ngày giúp Giáo Hội lữ hành bướùc tới phía trước, hôm nay và ngày mai.

Thánh Thể làm cho Giáo Hội mạnh sức tiến về Nướùc Trời và đặt Giáo Hội luôn hướùng về Nước Trời. Nơi Thánh Thể, Giáo Hội nhận được sự hiểu biết, niềm tin tưởng và tính bâát tử. Thánh Thể hiệp nhất tạo vật đã đượïc tạo thành với tạo vật đang hình thành, hiệp nhất sự phục vụ Thiên Chúa với sự phục vụï anh em.

Và để kết luận những gì chúng ta vừa trình bày, chúng ta hãy nghe lại một trong những suy tư của Thánh Phaolô về Thánh Thể và Giáo Hội :

“Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Kitô ư ? Và khi ta cùng bẻ bánh thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân thể Người sao ? Bởi vì chỉ có một tấm bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1 Cr 10,17-19).

 

 

THÁNH THỂ,  BÍ  TÍCH  VƯỢT  QUA

F.X. Durwell

I. NHẬP ĐỀ

Thánh Thể là một mầu nhiệm không thể nào diễn tả và thấu triệt được. Mỗi thế hệ bày tỏ đức tin ngàn đời theo cách của mình. Ngày nay, người ta chú trọng nhiều đến các khoa học nhân văn và lịch sử. Cách riêng, nhiều người tập trung việc nghiên cứu vào lãnh vực phức tạp và lý thú là biểu tượng và việc sử dụng biểu tượng. Các sử gia thì làm sáng tỏ những nét phong phú của các nền phụng vụ cổ xưa và cho thấy sự tiến triển của thần học về bí tích Thánh Thể theo dòng thời gian. Còn các nhà chú giải Kinh thánh thì đã phân tích các bản văn về Thánh Thể một cách sâu sắc, cung cấp cho chúng ta một nguồn thông tin sâu rộng về các tập tục và nghi thức của Do-thái-giáo, nhờ đó bữa tiệc mà Đức Giêsu đã cử hành với các tông đồ trước khi chịu khổ nạn xuất hiện dưới một luồng sáng mới.

Tuy nhiên Thánh Thể không phải là một hiện tượng ta có thể hiểu được từ bên ngoài ; nó mang một chiều sâu khôn dò mà chỉ con mắt đức tin mới nhìn thấy được.

Tác phẩm thần học này muốn nói lên rằng Thánh Thể là bí tích của cuộc vượt qua của Đức Kitô và do đó chỉ có thể hiểu được chiều sâu của nó nhờ ánh sáng của mầu nhiệm vượt qua.

II. CHÌA KHÓA ĐỂ HIỂU THÁNH THỂ

A. NHỮNG CON ĐƯỜNG ĐI TỪ BÊN NGOÀI.

1. Đi từ bánh rượu

Thần học kinh viện dựa trên sự phân biệt của triết học Aristote giữa bản thể tùy thể để giải thích sự hiện diện thực sự, theo bản thể của  Đức Giêsu trong bí tích Thánh Thể, nhờ việc “chuyển bản thể”hay “biến thể” (transsubstantiation).

Tuy nhiên, con người  ngày nay, với những kiến thức khoa học hiện đại, không còn hiểu được lối giải thích này nữa. Ngoài ra, lý thuyết này chưa đạt đến Thánh Thể vì không đả động gì đến mối liên hệ của bí tích với mầu nhiệm vượt qua mà chỉ thuần túy đứng trên bình diện chiều ngang (nghĩa là bánh biến thành Mình Chúa) cũng như không đề cập đến khía cạnh hy tế (sacrifice) là khía cạnh cốt yếu của mầu nhiệm Thánh Thể.

2. Đi từ  ân ban bánh và rượu

Con người có khả năng đem đến một ý nghĩa, tạo ra những thực tại mới bằng cách  ấn  định một ý nghĩa mới cho sự vật, nhất là trong quan hệ tình yêu. Cũng vậy, khi Đức Giêsu ban tặng tấm bánh bẻ ra, là dấu chỉ cái chết của Người, Người tự hiến trong một tình yêu tuyệt đối và qua đó sáng tạo một ý nghĩa mới đến mức tối đa. Nhờ lòng tin, người tín hữu nhận ra sự hiện diện này trong biểu tượng, hiệp thông với sự tự hiến của Đức Kitô và hiến mình cho kẻ khác : các yếu tố (bánh và rượu) vẫn y nguyên nhưng mang một ý nghĩa, một mục  đích mới nghĩa là chuyển ý nghĩa (transsignification), chuyển mục đích (transfinalisation).

Lối giải thích này hợp với sự nhảy cảm của con người  ngày nay hơn nhưng lại không nhìn nhận sự hiện diện thực sự, trái với giáo huấn của Giáo Hội.

3. Đi từ cộng đoàn tập hợp và bữa ăn

Thánh Thể chủ yếu được xem như một bữa tiệc. Mọi bữa ăn cộng đoàn biểu lộ cách tự nhiên tình huynh đệ giữa những người  đồng bàn. Trong bữa tiệc Thánh Thể, các môn đệ họp nhau nhân danh  Đức Giêsu, có Đức Giêsu ở giữa. Người hiện diện không phải trong tấm bánh nhưng trong cộng đoàn tín hữu.

Thế nhưng, một cuộc tập hợp các tín hữu không phải là việc thánh hiến bánh và rượu và một bữa tiệc dù chan hòa tình huynh đệ đến đâu cũng không phải là việc cử hành Thánh Thể.

4. Đi từ các hy tế Cựu Ước

Thánh Thể là sự hiện diện của Đức Kitô trong cái chết của Người. Thần học đã ra sức khám phá ra trong Phụng vụ Kitô-giáo những yếu tố của hy tế Cựu Ước, nhất là nghi thức sát tế được xem là yếu tố làm thành hy tế.

Lý thuyết này thiếu mạch lạc vì biến các thừa tác viên của Giao ước mới thành những “đồ tể”, trong khi  Đức Giêsu hiến thánh họ làm tông đồ. Nhất là lý thuyết này nhân lên vô số lần hy tế độc nhất của Kitô giáo.

5. Đi từ biểu tượng hy tế của Thánh Thể

Thánh Thể được đặt trong lãnh vực dấu chỉ tượng trưng cho hy tế độc nhất không thể trở thành hiện tại. Bánh là dấu chỉ thân mình bị nộp, rượu là dấu chỉ máu đổ ra, lời và cử chỉ làm cho Đức Kitô vinh hiển ngày nay hiện diện, nhưng, nhờ dấu chỉ, qui chiếu về cái chết xưa kia.

Quan niệm này đánh mất tính hiện thực của hy tế Thánh Thể, một đàng khẳng định sự hiện diện thực sự của Đức Kitô trong Thánh Thể, nhưng đàng khác lại tuyên bố biểu tượng của hy tế không hiện thực, trong khi Thánh Thể là hiệp thông với Đức Kitô trong hy tế của Người, điều thiết yếu cho ơn cứu độ của Giáo Hội.

6. Đi từ lễ tưởng niệm của Cựu Ước (mémorial)

Theo Lc 22,19 và 1 Cr 11,24, chính Đức Giêsu đã nói đến việc tưởng niệm (“anamnesis”), liên tưởng đến bữa ăn chiên vượt qua (Xh 12,14). Đây không thuần túy là việc tưởng nhớ một biến cố quá khứ : nhắc nhớ lại cuộc giải thoát khỏi cảnh nô lệ Ai cập trong quá khứ bằng cách làm sống lại biến cố đó ngày hôm nay, đồng thời tiên báo cuộc giải thoát cánh chung.

Ba chiều kích đó có những điểm tương tự với việc cử hành Thánh Thể, song những khác biệt thì quá lớn. Trong Thánh Thể, con chiên độc nhất cho toàn dân, qua mọi thế hệ : đó là một con người và là Con Thiên Chúa ; biến cố cử hành cũng chính là con người đó, là mầu nhiệm cá vị, vĩnh hằng của cái chết trong đó Người được tôn vinh. Không có việc ăn thịt nướng nhưng hiệp thông với con người này, là hiến vật được thiêu hủy nhờ lửa Thánh Thần ; những người tham dự được đưa vào bản thân Người và vào ơn cứu độ mà Người là hiện thân.

Tất cả những quan niệm thần học kể trên chỉ có thể cung cấp một cách minh họa hay tiếp cận nhưng không mở được cửa đi vào mầu nhiệm.

B. CHÌA KHÓA Ở BÊN TRONG

Công trình chủ yếu của Thiên Chúa trong tạo dựng là việc Thiên Chúa làm người và việc con người được thần hóa trong Đức Kitô, mà cũng là cùng đích của mọi thọ tạo. Do đó, công trình này không chỉ ở tương lai mà một cách nào đó đã khởi sự trong các loài thọ tạo.

1. Hiểu từ mầu nhiệm

Phải tìm hiểu Thánh Thể theo cách người ta tìm hiểu ý nghĩa của toàn thể thực tại Kitô-giáo, nghĩa là từ Đức Kitô vượt qua là mầu nhiệm cánh chung, cùng tận, viên mãn. Diễn từ về Thánh Thể phải khởi đi từ cùng đích. Chính mầu nhiệm Đức Kitô vượt qua giải thích mầu nhiệm Thánh Thể. Chính mầu nhiệm đó chiếm hữu những thực tại đời này (dấu chỉ) và biến thành biểu tượng cho sự hiện diện thực sự của Người.

2. Hiểu trong đức tin của Giáo Hội

Thần học Thánh Thể là công trình của các tín hữu tìm kiếm trong Giáo Hội. Cuốn sách Thánh Thể đòi hỏi những độc giả sống nội tâm trong ngôi nhà của mầu nhiệm và của Giáo Hội là người cử hành mầu nhiệm.

Chỉ có thể nói về Thánh Thể trong lòng tin, nghĩa là trong thái độ lắng nghe. Người tín hữu cử hành và hiểu Thánh Thể trong Giáo Hội. Mọi diễn từ về Thánh Thể phải được phát biểu bên trong đức tin và  lời rao giảng của Giáo Hội.

III. BÍ TÍCH VƯỢT QUA

Bí tích Thánh Thể được gọi là Mầu-nhiệm Vượt Qua (“Paschale Mysterium”). Ngay từ đầu, Kitô-giáo đã liên kết mầu nhiệm Thánh Thể với cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, là mầu nhiệm sự chết, phục sinh và hiện diện của Người với thế giới.

Theo lời chứng của Tân Ước và của các giáo phụ, bí tích này là bí tích Vượt Qua. Việc qui chiếu về cái chết và sự phục sinh là thiết yếu. Việc thiết lập bí tích Thánh Thể đã diễn ra trong bầu khí lễ Vượt Qua, nhằm giải thích Thánh Thể như là một bữa tiệc Vượt Qua. Đức Giêsu “khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này trước khi chịu khổ hình” và chắc chắn bữa tiệc cánh chung đã gần kề mà sẽ là lễ Vượt Qua viên mãn (Lc 22,15-18).

Theo thánh Gioan, toàn thể cuộc đời của Đức Kitô khai mở con đường dẫn đến sự phục sinh. Thánh Thể thuộc mầu nhiệm sự chết và tôn vinh của Đức Kitô.

Nơi thánh Phaolô, Thánh Thể là “bữa tiệc của Đức Chúa” (Kyrios), “chén của Đức Chúa”, “Mình và Máu của Đức Chúa” (1 Cr 10,21 ; 11,20.27). (Kyrios là tước hiệu của Đức Kitô phục sinh vinh hiển : Rm 10,9 ; Pl 2,9t). Thức ăn thì linh thiêng (1 Cr 10,3), nghĩa là thuộc thế giới phục sinh, thuộc tình trạng viên mãn cánh chung. Thánh Thể là bí tích thân mình được  sống động và làm cho sống. Thánh Thể là thân thể phục sinh.

Tuy nhiên, Thánh Thể cũng là bí tích sự chết của Đức Kitô (1 Cr 11,23-26). Vì thế Công Đồng Vatican II có lý mà khẳng định rằng Thánh Thể là việc “tưởng niệm cái chết và sự sống lại của Đức Kitô”, là “bữa tiệc Vượt Qua” (PV 47), chứa đựng Đức Kitô “Chiên Vượt Qua của chúng ta”, “thịt đã được sống động nhờ Thánh Thần và làm cho người ta được sống” (LM 5).

Phụng vụ gọi Thánh Thể là “mầu nhiệm Vượt qua”, là “bí tích của Nước Trời”. Sau lời Truyền phép, các tín hữu công bố  Chúa đã chịu chết, ca mừng Chúa đã phục sinh và tung hô Chúa đến trong vinh quang.

Tắt một lời : Thánh Thể là bí tích của Đức Kitô trong cái chết và sự phục sinh của Người, trong việc Người đến hiện thời và mai sau, bí tích của Đức Kitô trong mầu nhiệm Vượt Qua.

A. MẦU NHIỆM VƯỢT QUA

Mầu nhiệm Vượt qua là mầu nhiệm cứu độ, xét như là mầu nhiệm của chính bản thân Đức Kitô, với tư cách là Con, được thực hiện để cứu độ thế gian, trong cái chết, sự phục sinh và giáng lâm của Người. Khẳng định này chống lại thứ thần học pháp lý định nghĩa việc Cứu chuộc là một việc trả nợ cho Chúa Cha, qua đó Chúa Con thỏa mãn những đòi hỏi của sự công bình báo oán của Thiên Chúa bằng giá máu của Người có giá trị vô cùng. Nhờ cái chết cứu chuộc đó, Đức Giêsu đã thủ đắc một kho tàng công nghiệp vô cùng để phân phát cho loài người và giao hòa thế gian với Thiên Chúa.

Hiểu như thế, Kitô-giáo chỉ còn là một tôn giáo chú trọng vào tội và việc đền tội. Người kitô-hữu nhìn về quá khứ : tội và cái chết của Đức Kitô, không cần gì  đến sự  phục sinh và sự hiện diện sống động của Đức Kitô. Thánh Thể không được hội nhập vào kế hoạch cứu độ.

Thế nhưng, Tin Mừng do các tông đồ loan báo, trước hết không phải là ơn tha tội mà là Đức Giêsu, Đấng được Thiên Chúa phục sinh và sai đến với chúng ta, chất chứa ơn tha thứ  và hồng ân cứu độ (Cv 3,26).  Đức Giêsu không chỉ thủ đắc ơn cứu độ, chính Người đã trở nên sự cứu độ … ngõ hầu chúng ta nhận được ơn này nhờ hiệp thông với Người (1 Cr 1,30 : “Đức Kitô đã nên sự khôn ngoan cho chúng ta, sự công chính, sự thánh thiện và cứu chuộc”). “Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người” (Cl 1,19 ; x. Cl 2,11).

“Công nghiệp” không phải là một giá đã được trả mà là chính Đức Kitô, trong cái chết, đón nhận hồng ân vô biên của Thiên Chúa. Ơn cứu độ, hơn là một sự tha tội, là chính Đức Kitô, trong cái chết của Người, được đầy tràn sự viên mãn của Thiên Chúa. Sự xá tội (expiation) và công chính hóa tội nhân cũng là Đức Kitô đích thân, trong cái chết đối với xác thịt tội lỗi và phục sinh trong sự công chính vô cùng của Thiên Chúa, nghĩa là trong sự thánh thiện của Thánh Thần, đã trở nên phương xá tội (propitiatoire) cho chúng ta (Rm 3,25), sự công chính của chúng ta, nguyên lý công chính hóa chúng ta (1 Cr 1,30 ; Rm 4,25). Mầu nhiệm của bản thân Đức Kitô trở thành mầu nhiệm của con người hiệp thông với Người trong sự chết và phục sinh của Người (Rm 6,3-11 ; Cl 2,12).

Theo Tin Mừng Gioan, ơn cứu độ ở nơi Ngôi Lời Nhập Thể. Toàn thể cuộc đời tại thế của Đức Giêsu là việc Thiên Chúa làm người, nhưng việc nhập thể cứu chuộc hướng đến cuộc Vượt Qua từ thế gian này về cùng Cha. Cuộc Vượt Qua đạt đến đỉnh điểm vĩnh hằng  khi Chúa Cha đổ tràn sự viên mãn trên Con (Cv 13,33) và từ sự viên mãn này “chúng ta nhận được hết ơn này đến ơn khác” (Ga 1,16). Tội lỗi thế gian được xóa bỏ vì Đức Giêsu  là con chiên Vượt Qua của Thiên Chúa, được thánh hóa trong Thánh Thần và đầy tràn  Thần khí  và vì con người, nhờ lòng tin, nuôi dưỡng mình bằng con Chiên Thiên Chúa, bằng “Bánh của Thiên Chúa” (6,33) và trở nên con Thiên Chúa trong sự hiệp thông với Chúa Con (1,12).

Trong cuộc Vượt qua của Người,  Đức Giêsu đích thân đã trở nên biến cố cứu độ. Biến cố này mang tính vĩnh hằng ; Đức Giêsu từ khi đó luôn sống ở đỉnh điểm này (không có gì có thể đến sau tình trạng phục sinh). Vì thế mầu nhiệm Vượt Qua mang tính cánh chung, nghĩa là sự viên mãn tối cao và do đó cũng là tối hậu.

Thế nhưng, cuộc Vượt Qua của Đức Giêsu chỉ trở nên ơn cứu độ cho con người trong mức độ Đức Kitô đến với con người, hiến mình cho con người, để con người hiệp thông với Người trong cái chết và sự phục sinh của Người. Thánh Thể là bí tích của Đức Kitô trong cuộc Vượt qua của Người đến hiện diện với Giáo Hội, hiến mình cho Giáo Hội, trong cái chết vinh hiển của Người. Thánh Thể chính là sự hiện diện này, trong biến cố này và là sự hiệp thông với Đức Kitô trong biến cố này.

B. BÍ TÍCH SỰ HIỆN DIỆN CỦA ĐỨC KITÔ VỚI GIÁO HỘI

Thánh Thể chủ yếu là sự hiện diện, là bí tích của sự phục sinh của Đức Kitô ở giữa các môn đệ. Đức Giêsu đã nói : “Này là Mình Thầy”. Cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi đã hiểu những lời này một cách hiện thực, chỉ  sự hiện diện thể chất của  Đức Kitô, khiến Giáo Hội cũng trở nên Thân Thể của Chúa nhờ hiệp thông với bánh này (1 Cr 10,16). Lòng tin vào Thánh Thể còn được nuôi dưỡng bởi sự xác tín rằng, nhờ phục sinh, Đức Giêsu hiện diện với cộng đoàn, vì Phục sinh là một mầu nhiệm giáng lâm (mystère parousiaque) nghĩa là mầu nhiệm Chúa đến và hiện diện.

1. Tầm quan trọng cứu độ của việc Giáng lâm (parousie)

Giáng lâm (= việc Chúa đến và hiện diện) không phải là chấm dứt lịch sử mà là chính mầu nhiệm cứu độ tác động vào thế giới, một chiều kích thiết yếu trong cuộc Vượt qua của Đức Kitô. Nếu vắng chiều kích này thì cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô không đem lại ơn cứu độ cho con người. Ơn cứu độ ở trong chính việc Chúa đến. Đức Kitô đến trong cái chết và sự phục sinh của Người. Người đã chết và sống lại vì chúng ta (2 Cr 5,15), vì trong cuộc Vượt Qua, Người đến và thông ban chính mình cho chúng ta.

2. Phục sinh, mầu nhiệm giáng lâm

 Đức Giêsu đích thân là Nước Thiên Chúa ; triều đại Người đã đến (Lc 11,20), nhưng việc Người đến chỉ biểu lộ cách viên mãn quyền năng của Thiên Chúa qua cái chết và sự phục sinh của Người. Việc tôn vinh  Đức Giêsu và việc ngự đến chung cuộc của triều đại Thiên Chúa làm thành một biến cố độc nhất, theo sau cái chết.

Thế nhưng, việc Đức Kitô được siêu tôn trên trời không kéo Người ra khỏi thế gian mà trái lại đánh dấu việc Người được sai đến thế gian (Cv 3,26). Trong tình trạng được tôn dương, Đức Giêsu đến và tỏ mình cho các môn đệ thấy (Mt 26,64). Giờ Vượt Qua là giờ Đức Giêsu được thánh hiến trong Thiên Chúa (Ga 17,19) và cũng là giờ Người đến (Ga 14,28). Đức Giêsu biến dạng và lại tỏ cho thấy (16,16) và việc thấy này đem lại ơn cứu độ (1 Ga 3,2). Phục sinh là việc tôn vinh Đức Kitô nơi Thiên Chúa và đồng thời là một mầu nhiệm về việc Người hiện diện và hiện đến đến với thế giới.

Thiên Chúa phục sinh Đức Giêsu bằng cách ban Người cho thế giới (Ep 1,19-20) và làm cho thế giới đầy sự hiện diện của Người (x. Ep 4,9 ; Mt 28,18.20). Khi tôn vinh Đức Giêsu, Thiên Chúa phục sinh Người hướng đến chúng ta (2 Cr 5,15). Việc Đức Giêsu đến với chúng ta, đó là cuộc hiện đến duy nhất, đem ơn cứu độ cánh chung. Biến cố phục sinh hoàn tất lịch sử cứu độ. Kinh Thánh không hề nói đến một cuộc trở lại của Đức Kitô hay một cuộc ngự đến lần thứ hai. Dĩ nhiên, ta không phủ nhận việc Chúa đến vào ngày sau hết trong vinh quang (ngày quang lâm), nhưng không phải là việc Chúa trở lại mà là việc chúng ta được tiếp nhận hoàn toàn trong Ngày của Người.

Cần nắm vững những điều này để hiểu ý nghĩa của Thánh Thể, là bí tích của Đức Kitô, nhờ cái chết của Người, qua đó Người đến với các tín hữu và thực hiện nơi họ ơn cứu độ ở trong Người.

3. Tính hiện thời của cuộc giáng lâm

Vì  cuộc phục sinh gắn liền với những biến cố xảy ra trong quá khứ, cố định trong lịch sử và cuộc gặp gỡ viên mãn còn đợi chờ ta, nên trí tuệ chúng ta quen trải ra trong dòng thời gian : Phục sinh trong quá khứ, quang lâm trong tương lai, ở giữa là thời kỳ của Giáo Hội, đặt nền trên sự phục sinh, hướng về ngày quang lâm. Thực ra, không phải như vậy. Mầu nhiệm Vượt Qua là một, vừa là phục sinh, vừa là hiện diện. Giáo hội phát sinh từ cuộc gặp gỡ đầu tiên với Đức Kitô Phục sinh đang đến và hướng đến sự hoàn tất trong cuộc gặp gỡ viên mãn với Đức Kitô, Đấng hằng đến với chúng ta nhờ sự Phục sinh của Người : phát sinh từ cuộc Giáng lâm (Parousie) và từ sự hiệp thông với Đức Kitô Vượt Qua, Giáo Hội hướng đến chính cuộc Giáng lâm này (hay Quang lâm), đến sự hiệp thông viên mãn.

Sự Phục sinh của Đức Giêsu, xét như là việc Giáng lâm (parousiaque), vừa thành lập vừa hoàn tất Giáo Hội vì việc Đức Kitô đến đồng nhất với mầu nhiệm Vượt qua trong tác động cứu độ. Cái chết của Người, thay vì tạo nên một sự đoạn tuyệt với thế giới, nhờ sự phục sinh, lại là một cuộc sai đến với toàn thể vũ trụ, qua đó Người làm viên mãn mọi sự nhờ sự hiện diện của Người (Ep 4,10). Việc Đức Kitô đến và hiện diện thuộc bản chất của Người. Các tín hữu ở trong Đức Chúa (Kyrios) (Pl 3,1 ; 4,4). Chức năng của Người là thiết lập Nước Thiên Chúa bằng việc Người hiện diện trong thế giới vì Người là hiện thân của Nước Thiên Chúa.

Tuy thánh Phaolô dành từ “Parousia” cho cuộc gặp gỡ viên mãn, ở tận cùng lịch sử, Người vẫn biết “Ngày đã đến” (Rm 13,12), đã hiện diện, các kitô-hữu là “con cái của Ngày” (1 Tx 5,5 ; Rm 13,13), sự công chính chúng ta hằng chờ đợi đã được ban (1 Cr 6,11), chức làm con chúng ta trông đợi (Rm 8,23) đã được thực hiện (Rm 8,16) và sự phục sinh của các tín hữu đã là một điều hiện thực (Cl 2,12), vì trong cuộc Vượt qua của Người, Đức Kitô chính là ơn cứu độ của Ngày sau hết trong cuộc gặp gỡ con người.

4. Thánh Thể, Bí tích của cuộc Giáng lâm (việc Chúa đến)

Nhờ sự phục sinh trong thể xác, Đức Kitô làm chủ vũ trụ ; Người đến với thế giới bằng nhiều con đường khác nhau.

Người đến và hiện diện qua bí tích cơ bản là Giáo hội, thân thể của Người (Ep 1,22t) ; qua các tông đồ là trung gian của sự hiện diện vượt qua và của sự hiệp thông (2 Cr 2,14-16 ; 4,10-12) ; qua lời Kinh Thánh và mọi lời rao giảng đức tin chân chính, qua các bí tích.

Thánh Thể là bí tích tuyệt hảo, cao vời nhất của việc hiện đến và hiệp thông này. Trung thành với lời Chúa hứa : “Thầy ra đi và đến cùng anh em” (Ga 14,28) và “Ít lâu nữa, anh em sẽ không còn trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy” (Ga 16,16), các kitô-hữu đầu tiên đã sống mầu nhiệm Thánh Thể như một sự hiện diện của Chúa với Giáo Hội. Thánh Thể là bí tích của Đấng Phục sinh hiện đến, là một hình thức thường trực của việc hiện ra trong cuộc Vượt qua.

Đức Kitô không xuất hiện ngày nay trong bí tích Thánh Thể hai mươi thế kỷ sau khi phục sinh, Thánh Thể là sự tỏ hiện hữu hình trong thế giới này của việc tôn vinh Đức Kitô trong cuộc Vượt Qua là sự can thiệp chung cuộc của Thiên Chúa. Tự bản chất là độc nhất, sự Phục sinh được nhân lên ở nhiều thời điểm và nơi chốn khác nhau, tựa như cùng một mặt trời phản chiếu trên nhiều mảnh của một tấm gương vỡ.

Nhờ sự hiện diện của Đức Chúa Phục sinh, Thiên Chúa thiết lập triều đại Người trong thế giới. Một ngày kia, Người sẽ là mọi sự trong mọi người, nhờ cuộc Quang lâm viên mãn của Đức Chúa.

5. Một sự hiện diện đến từ cùng tận

Thánh Thể là một sự hiện diện đến từ cùng tận, nơi Đức Kitô lập cư vĩnh viễn. Việc tôn dương Người trong Thiên Chúa không cất Người khỏi thế giới nhưng làm cho Người trở nên sự viên mãn của mọi loài thọ tạo (Cl 1,16). Sự hiện diện Thánh Thể đến từ đỉnh điểm viên mãn này, từ tương lai mà cũng là đích điểm nơi chúng ta được kêu gọi đến hiệp thông.

Vậy sự hiện diện Thánh Thể chính là sự viên mãn tương lai lộ diện trong thế giới hiện tại. Bánh Thánh Thể là bánh cánh chung, là một lương thực làm no thỏa nhưng đồng thời khơi lên niềm khát vọng. Duy đức tin mới nhận ra sự hiện diện này.

6. Một sự hiện diện bằng biểu tượng

Nếu Đức Kitô đến từ nơi khác, từ cõi viên mãn, Người chỉ có thể xuất hiện trong không gian và thời gian của chúng ta bằng cách sử dụng những thực tại thuộc thế giới này và biến trở thành những biểu tượng thực sự của chính mình, như là điểm tiếp giáp giữa cánh chung (thực tại viên mãn) và thế giới hiện tại, cái hữu hình của sự viên mãn vô hình, không thể thấy được. Thực tại cánh chung chỉ có thể nhìn thấy,chạm tới được nhờ những biểu tượng thực sự biểu thị sự hiện diện của thực tại đó.

7. Một sự hiện diện bằng thể xác

 Đức Giêsu đến và hiện diện nhờ sự phục sinh của Người. Cuộc sống mới của Người không phải là của một linh hồn tồn tại nhưng của một con người đã chết trên thập giá và được Thiên Chúa cho sống lại từ cõi chết. Được phục sinh trong Thánh Thần, Đức Giêsu mang tính thể xác hơn bao giờ hết. Chính nhờ thân xác mà một con người  chiếm một vị trí trong thế giới. Hơn hết mọi người, Đấng Phục Sinh hội nhập vào thế giới và đưa thế giới hội nhập vào chính bản thân mình (Ep 4,10). [Một thân xác như vậy, thân xác đầy Thần khí, thuộc linh (corps spirituel), tác nhân của sự tiếp xúc với mọi loài, là một điều rất nhiệm mầu, song các thực tại thuộc linh mà Kinh Thánh nói đến lại hiện thực và cụ thể hơn mọi thực tại khác].

Đấng Phục Sinh là tâm điểm thâm sâu của vũ trụ này. Thánh Thể là thân thể bị trao nộp của Chúa, máu Người đổ ra chính là Đức Kitô trong bản thân chịu hiến tế và phục sinh về thể xác nhờ Thánh Thần. Người nhận lấy nơi bản thân mình bánh và rượu để xuất hiện hữu hình trong thế giới này.

8. Một sự hiện diện hiến thân và cứu độ

Sự hiện diện Thánh Thể vừa được định vị (do bánh và rượu) vừa hoàn toàn mang tính cá vị, có đặc điểm là hiến thân cho nhau và tiếp nhận nhau.

Trên trần gian, một sự hiện diện cá vị được thực hiện qua những môi giới vật chất, những biểu tượng tạo nên cuộc gặp gỡ và mối liên kết hiệp thông. Biểu tượng hàng đầu là thân xác con người qua đó mỗi người hội nhập vào toàn thế giới và trong một mạng lưới những quan hệ. Thế nhưng, vì bị định vị trong không gian, sự gần gũi vẫn chia cách. Thân phận tại thế đặt cho sự hiệp thông những giới hạn không thể nào vượt qua được ; thân xác con người là một phương tiện khiếm khuyết trong quan hệ với nhau.

Sự hiện diện của Đấng Phục sinh thì hoàn toàn mang tính tương quan. Vì đã phục sinh trong Thánh Thần, Người được biến đổi sang cách thế hiện hữu của Thánh Thần là tình yêu. Được nhận vào mầu nhiệm Ba Ngôi là mầu nhiệm tương quan, Đức Kitô hoàn toàn là hữu thể tình yêu hiến thân, là Thần khí  ban sự sống (1 Cr 15,45), không có giới hạn nào cho sự hiệp thông nơi Người, vì  “Thần khí  là sự tự do” (2 Cr 3,17 ; x. Ga 14,20).

Sự hiện diện Thánh Thể cũng là một sự hiện diện đến với kẻ khác : gặp gỡ họ, hiến thân cho họ và đón nhận họ. Một sự hiện diện hoàn toàn hỗ tương mà mọi tình yêu chân thật đều khát vọng, Theo nghĩa đó, Thánh Thể cũng mang tính cánh chung, vì ở đích điểm ước muốn yêu thương và có khả năng lấp đầy ước muốn này.

Cũng vậy, trong thân phận tại thế, con người Đức Giêsu không thể nào hướng về Chúa Cha hoàn toàn được. Chỉ trong cái chết mới hủy diệt được tính xác thịt, khép kín trong chính mình, để Đức Giêsu hoàn toàn trở nên tình yêu. Thánh Thể là bí tích của sự hiện diện toàn vẹn.

C. BÍ TÍCH CỦA CÁI CHẾT CỨU CHUỘC

Trong mỗi thánh lễ, chúng ta công bố cái chết của Chúa (1 Cr 11,26) ; các tín hữu hiệp thông với máu của Người (1 Cr 10,16). Ngay từ đầu các Kitô hữu đã nhận ra trong Thánh Thể hy tế của Đức Kitô trong cái chết của Người trên thập giá. Thánh Thể là biểu tượng hiện thực của hy tế cũng như sự hiện diện của Đức Kitô. Không thể xác quyết sự hiện diện thực sự mà đồng thời không khẳng định đó là sự hiện diện của Chúa trong hy tế của Người.

1. Một cái chết được ghi dấu vinh quang

Bánh và rượu trước hết không phải là những biểu tượng của sự chết nhưng gợi lên bữa ăn, sự sống và niềm vui. Vì vậy biểu tượng của sự sống chồng lên biểu tượng của sự chết. Bữa tiệc ly, tuy có loan báo cuộc thương khó, nhưng không nghịch với cách hiểu Thánh Thể như là biểu tượng của Đức Kitô vinh quang và bữa tiệc Nước trời. Đức Giêsu ám chỉ đến lễ Vượt Qua hoàn hảo trong Nước Thiên Chúa (Lc 22,16 ; Mc 14,25). Ngoài ra còn có những lời tiên tri về Triều đại sẽ đến ngang qua đau khổ. Thánh Phaolô thì khẳng định cái chết được mừøng kính trong Thánh Thể là cái chết của Đức Chúa (Kyrios), nghĩa là Chúa Tể vinh quang (1 Cr 11,26).

Vậy Thánh Thể là bí tích của cái chết trong đó Đức Giêsu được tôn vinh.

2. Một cái chết đựơc vĩnh cửu hóa trong vinh quang

Tin Mừng thứ tư biết rằng Đức Kitô được mãi mãi tôn vinh trong mầu nhiệm tử nạn của Người. Cái chết không chỉ là điều kiện để đạt đến vinh quang nhưng là thành phần của vinh quang. Thập giá là ngai vĩnh cửu cho vương quyền của Đức Kitô. Việc giương cao khỏi mặt đất trên thập giá là biểu tượng của sự tôn dương bên Thiên Chúa (Ga 12,32). Từ cạnh sườn bị đâm thủng nước chảy ra (Ga 19,34), nước đó là hình ảnh của Thần khí  chỉ chảy ra từ Đức Kitô được tôn vinh (Ga 7,37-39) ; còn máu là biểu tượng của hy tế. Hai hình ảnh đó đi đôi với nhau và là hình ảnh vĩnh cửu của Đức Kitô. Vinh quang của Người  ở ngay bên trong mầu nhiệm cái chết của Người.

Sự Phục Sinh thực sự trong thể xác không kéo Đức Giêsu ra khỏi cái chết. Đấng Phục Sinh vẫn còn mang những thương tích của cái chết (Kh 5,6), nhờ vậy, Người luôn đâm rễ sâu trong con người  cần được cứu độ và mới có thể làm đầu một Hội Thánh tại thế. Các tín hữu chỉ có thể đến với Người trong sự phục sinh vinh quang nhờ hiệp thông với cái chết của Người mà trong đó bao hàm sự phục sinh. Có như vậy Thánh Thể mới là “của ăn đàng” cho các kitô-hữu hấp hối, là bí tích của việc cùng chết với Đức Kitô.

Phục sinh và tử nạn kết hợp với nhau thành một mầu nhiệm duy nhất trong đó cái chết được vĩnh-cửu-hóa trong vinh quang. Sự phục sinh mang tính vĩnh cửu. Đức Giêsu đã nộp mình làm hiến  lễ dâng lên Thiên Chúa (Ep 5,2) ; mà một lễ dâng được thực hiện vào lúc được chấp nhận. Đáp ứng lại cái chết của Đức Giêsu là sự chấp nhận và tôn vinh của Thiên Chúa là một hành vi vĩnh cửu. Vì thế, có sự trùng hợp giữa cái chết và sự tôn vinh vĩnh cửu. Đức Kitô luôn sống ở đỉnh điểm của vận hành vươn tới Chúa Cha, ở giây phút của sự tự hiến tối cao. Người đã đích thân trở nên mầu nhiệm vượt qua, biến cố cứu độ ; con người phải hiệp thông với biến cố đó.

3. Thánh Thể, sự xuất hiện của cái chết cứu chuộc

Khi Đức Kitô hiện diện với cộng đoàn cử hành Thánh Thể, Người đến trong chính giây phút này (chết-phục sinh), trong tính hiện thời của hy tế. Thánh Thể không phải là một bí tích sau Vượt Qua, cũng không tái diễn hay lặp lại hy tế thập giá vì hy tế này luôn hiện thời. Thánh Thể đưa vào thế giới và thể hiện hy tế luôn hiện thời của Đức Kitô. Nói cách khác, Thánh Thể chính là hy tế của Đức Kitô xuất hiện trong thế giới này, trong không gian và thời gian của chúng ta, để đưa Giáo Hội vào hiệp thông với thân thể và hy tế của Người, ngõ hầu Giáo Hội thấm nhuần mầu nhiệm vượt qua và thông dự vào biến cố cứu độ.

Vậy Thánh Thể vừa là hy tế vừa là sự ngự đến và hiện diện của Đức Kitô trong mầu nhiệm Vượt Qua ; hiện diện hiến mình, nhờ cái chết và sự sinh ra vĩnh hằng, cho muôn người. Mọi việc tôn sùng Thánh Thể ngoài thánh lễ cũng là cuộc gặp gỡ hiệp thông với Đức Kitô và tham dự vào hy tế của Người, vào mầu nhiệm Vượt qua.

4. Thánh Thể, bí tích của mầu nhiệm toàn diện

Cuộc Vượt qua của Đức Kitô không phải là một biến cố riêng rẽ nhưng là chóp đỉnh và điểm hội tụ của tất cả cuộc sống của Người, từ khi nhập thể cho đến khi được tôn vinh, tất cả đều hàm chứa sự chết và phục sinh. Bữa tiệc ly cô đọng cuộc sống hiến thân của Người. Sự cao cả và vinh quang đích thật của Người ở tại sự khiêm nhường tự hạ phục vụ kẻ khác. Trong thời gian tại thế, Đức Giêsu chưa bao giờ có thể thực hiện được hành vi viên mãn, diễn đạt được toàn bản thân Người (vâng lời cho đến chết, tình yêu cao cả nhất). Nhưng trong cái chết, Người nắm trọn bản thân mình trong tay để hiến dâng, tình yêu của Người có thể thực hiện sự tổng hợp, và vượt lên trên, tất cả những gì đã diễn ra trước.

Trong việc cử hành Thánh Thể, khi Giáo hội gặp gỡ Đức Kitô ở đỉnh điểm cuộc đời Người, Giáo hội hiệp thông với toàn thể cuộc sống của Người (từ khi sinh ra cho đến lúc được tôn vinh), nhưng nhất là hiệp thông cách viên mãn với mầu nhiệm Vượt qua của Người. Thánh Thể là bánh và chén tổng hợp.

5. Thánh Thể, hy tế của Ba Ngôi Thiên Chúa

Thánh Thể không chỉ liên quan đến Đức Kitô, mà Chúa Cha và Chúa Thánh Thần cũng có liên hệ đến mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Con. Thánh Thể là một mầu nhiệm mang chiều kích Ba Ngôi : mầu nhiệm của Chúa Cha sinh ra Con trong và cho thế giới hướng đến cái chết ; mầu nhiệm con thảo qua đó Đức Kitô hoàn toàn hướng về Chúa Cha và đón nhận Cha vô giới hạn, chỉ sống cho Cha ; sau hết, mầu nhiệm của Thánh Thần, trong Người Đức Kitô tự hiến (Dt 9,14), cũng trong Người Chúa Cha sinh ra và phục sinh Chúa Con (Rm 8,11 ; 1 Pr 3,18).

Thánh Thể là bí tích của mầu nhiệm này được đặt trên bàn thờ. Cả Ba Ngôi cùng cử hành hy tế tình yêu thiên quốc, từ nay được thể hiện giữa cộng đoàn, để mời gọi Giáo Hội hiệp thông vào mầu nhiệm hy tế đó.

D. BÍ TÍCH HIỆP THÔNG

Thánh Thể là bàn tiệc của Chúa, bữa tối của Chúa, tấm bánh bẻ ra, lễ bẻ bánh. Thánh Thể được cử hành dưới hình thức một bữa ăn (Mt 26,26). Thánh Thể là bí tích lễ Vượt qua của Đức Giêsu, là một mầu nhiệm hiệp thông.

1. Thánh Thể, một sự hiệp thông

Theo não trạng thời đó, mọi bữa ăn chung là một cử chỉ xây dựng tình huynh đệ, tạo sự hiệp thông với Thiên Chúa và với nhau. Thánh Phaolô lấy cảm hứng từ biểu tượng đó (1 Cr 10,16-17) khi bàn về việc dự tiệc cúng. Nước Thiên Chúa là một bữa tiệc tập họp chung quanh Đức Giêsu. Triều đại ngự đến nơi bản thân Đức Giêsu khi Thiên Chúa tôn vinh Người trong cái chết. Khi dùng hình ảnh bữa tiệc để nói về Nước Thiên Chúa, có thể nói con người ngồi vào bàn tiệc khi họ hiệp thông với lễ Vượt qua của Đức Giêsu. Sự hiện diện của Đức Giêsu tạo sự hiệp thông, là bữa tiệc của Giáo Hội, trong đó Đức Giêsu vừa là phòng tiệc vừa là lương thực.

Thánh Thể là biểu tượng hiện thực của Đức Kitô vượt qua, là nơi tập họp và là bữa tiệc của cuộc lễ. Vì thế, Thánh Thể là sự hiệp thông.

2. Hiệp thông hiến tế

Các hy tế xưa kia thường kết thúc bằng một bữa ăn. Nhờ hy tế, trời và đất nối kết với nhau. Nhờ bữa ăn hiệp thông, phạm vi linh thánh được nới rộng đến những người thông hiệp trong cùng một sự thánh hiến.

Nơi Đức Kitô, sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và thế giới trở thành hiện thực. Người là Chiên Thiên Chúa, được thánh hiến từ đời đời (Ga 10,36) và thánh hiến cách viên mãn trong cái chết và vinh quang (17,19) và trong Thần khí của sự phục sinh. Khi ăn chiên Vượt Qua, con người đi vào giao ước Vượt Qua, cùng với Người trở nên cùng một của lễ được Thánh Thần thánh hóa (Rm 15,16), gặp gỡ Đức Kitô trong cái chết và sự phục sinh của Người.

Trong Đức Kitô, hy tế và bữa ăn làm thành một phụng vụ bất khả phân. Người vừa chịu hiến tế vừa là lương thực, là Chiên Vượt Qua của chúng ta (1 Cr 5,7), là hy tế và bữa ăn của chúng ta. Thánh Thể là bí tích của cuộc Vượt qua của Đức Kitô và của sự hiệp thông của chúng ta vào cuộc Vượt qua này. Giáo Hội hiệp thông với hy tế khi cùng cử hành hy tế với Đức Kitô vì Thánh Thể là sự hiện diện của hy tế vượt qua trong tính hiện thời của hy tế này. Người  kitô-hữu cử hành hy tế bằng việc hiệp thông với hy tế và chỉ có thể hưởng nhờ ơn ích của hy tế bằng cách thông dự vào.

3. Hiệp thông cánh chung

Thánh Thể là thế giới tương lai đi vào Giáo Hội để Giáo Hội đi vào thế giớùi tương lai đó, vì Đức Kitô, mà Thánh Thể là bí tích, chính là sự cánh chung. Cuộc Phục-sinh của Người làm cho Người đến và hiện diện. Chính Đức Kitô là Nước Trời. Ai ở trong Người  là ở trong Nước Trời (Ep 2,6). Sự phục sinh của loài người đã được thực hiện nơi Người ; không có một sự phục sinh nào khác ngoài việc Thiên Chúa sinh ra Con của Người khi làm cho Đức Kitô sống lại (“Hôm nay Cha sinh ra Con”, x. Dt 5,5) và một ngày kia cuộc sinh hạ này sẽ đạt đến hiệu quả viên mãn nơi các chi thể của thân mình Đức Kitô.

Nhờ các bí tích, thực tại cánh chung xâm nhập vào thế giới, nhất là bí tích Thánh Thể đặt Giáo hội tiếp cận với thời gian cùng tận. Thánh Thể là “bàn tiệc của Chúa”, là bí tích của việc Chúa đến như Người  đã hứa (Ga 14,18.28) mà cũng là việc Chúa đến lần sau hết và sẽ làm cho chúng ta nên giống Người, nhưng ngay từ bây giờ, đã cho chúng ta được sát nhập với Người trong chính giây phút Người được sinh hạ (= phục sinh), khiến chúng ta dám gọi Thiên Chúa là Cha được sự sống đời đời nhờ thông dự vào Thánh Thể. Thánh Thể là phụng vụ thiên quốc ló dạng trong không gian của chúng ta, làm viên mãn thời gian tuy chưa chấm dứt thời gian.

Trong Thánh Thể, bánh và rượu, các lời đọc, bữa ăn và toàn thể cộng đoàn được “cánh-chung-hóa” (= đưa vào thế giới viên mãn) nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Như thế, có một sự liên tục giữa các thực tại trần thế và cánh chung, thực tại cánh chung mở rộng, làm viên mãn thế giới chóng qua này, không còn khép kín trong tuyệt vọng, sự chết như một định mệnh nghiệt ngã, nhưng thấm nhuần sự phục sinh của Đức Kitô là sự phục sinh sau hết. Thánh Thể là công bố và hát mừng niềm hy vọng cho cả vũ hoàn.

4. Hiệp thông Thánh Thể hướng đến Quang lâm

Sự hiện diện Thánh Thể là thực sự, nên có khả năng thỏa mãn ước muốn của con người , nhưng vì còn bị che khuất, nó lại đào sâu thêm niềm khát mong. Bánh Thánh Thể gia tăng cơn đói khát mà nó làm no thỏa. Trong cử hành Thánh Thể, mối căng thẳng hướng đến cánh chung mãnh liệt hơn bất cứ nơi đâu, trong đó những người dự tiệc thánh kêu cầu Đấng họ đã gặp : “Lạy Chúa, xin ngự đến ! Marana tha” (1 Cr 16,22 ; Kh 22,17.20). Thánh Thể là cuộc lễ cánh chung nhưng đồng thời cũng là vọng lễ. Thực tại cánh chung, được thích nghi trong Thánh Thể với tình trạng của Giáo Hội tại thế, vẫn còn là điều thuộc tương lai, chúng ta mới chỉ được nếm hưởng trước một phần nào, cho tới khi Ngày chói chang đến xé tan bức màn bao phủ. Thánh Thể là hiệu lệnh lên đường và là của ăn đàng. Các tín hữu tiến bước đến mục đích là Đức Kitô, nhờ sức mạnh của mục đích đã đạt, trong sự hiệp thông đã được thực hiện. Đức Kitô vượt qua vừa là đích điểm vừa là đường đi. Đó là thân phận của Giáo Hội tại thế : được cứu độ trong hy vọng (Rm 8,24) nhờ ân huệ đã lãnh nhận, Giáo hội vững bước tiến thẳng đến hồng ân viên mãn.

Kết : 

Sự hiện diện, cuộc Vượt qua (hy tế) của Đức Kitô, sự hiệp thông, ba chiều kích của mầu nhiệm Thánh Thể thường bị phân ly qua những ý niệm của chúng ta nhưng thực sự đan quyện với nhau và giải thích lẫn nhau.

Thánh Thể là cuộc Vượt Qua của Đức Kitô nhờ sự hiện diện. Thánh Thể là sự hiện diện do cuộc Vượt qua, vì chính trong cái chết được tôn vinh mà Đức Kitô đến và hiện diện. Sau hết Thánh Thể là sự hiệp thông vì là sự hiện diện trong mầu nhiệm Vượt qua của Đức Kitô tự hiến mình.

Vậy chính Đức Kitô Vượt qua đem đến ý nghĩa cho mầu nhiệm Thánh Thể, giúp chúng ta hiểu được sự hiện diện, hy tế và sự hiệp thông.

IV. NGUỒN GỐC VƯỢT QUA CỦA THÁNH THỂ

A. NỀN TẢNG VƯỢT QUA

Trái với thần học pháp lý, Đức Kitô không chỉ lập công để đem lại ơn cứu độ cho chúng ta, Người là ơn cứu độ (1 Cr 1,30).

Hành động của Thiên Chúa tạo ra những cách thế hiện diện và tiếp xúc với chúng ta, là Giáo Hội, việc tông đồ và các bí tích.

Biến cố cứu độ cũng là sức năng động thực hiện ơn cứu độ trong thế giới.

Thánh Thể được thiết lập trong cuộc Vượt Qua (chết và phục sinh) của Đức Kitô, nhờ biểu tượng của Thánh Thể xuất hiện trong Giáo Hội ngày hôm nay.

B. ĐƯỢC THIẾT LẬP NHỜ QUYỀN NĂNG CỦA SỰ PHỤC SINH

Sự biến đổi bánh và rượu  được thực hiện :

–          Nhờ quyền năng của Đấng Phục sinh, của Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, nghĩa là nhờ tác động của cả Ba Ngôi.

–          Trong Giáo Hội : vì Đức Kitô hiến mình cho Giáo Hội là Hiền Thê của Người.

–          Nhờ thừa tác vụ của Giáo hội, qua đó Đức Kitô đến gặp gỡ  con người trong hành động cứu độ của Người (bằng Lời của Người, lời rao giảng của Giáo Hội, lời truyền phép làm cho Đức Kitô hiện diện thực sự, do tác động của Đức Kitô phối hợp với quyền năng của Chúa Thánh Thần).

C. ĐẶT NỀN TRONG THỰC TẠI CÁNH CHUNG

Sự biến đổi bánh và rượu thành Mình Máu Chúa là “đích thật, thực sự, theo bản thể” (nên gọi là “chuyển bản thể” hay “Biến thể”, transsubstantiatio). Sự Toàn Năng của Thiên Chúa tạo nên một thực tại viên mãn, mặc dù những dáng vẻ bề ngoài không thay đổi. Công Đồng Trentô không buộc phải chấp nhận sự phân biệt theo triết học Aristote giữa tùy thể (accidents) và bản thể (substance) cũng như nền thần học lấy cảm hứng từ đó.

Giải đáp nằm ở mầu nhiệm Vượt Qua. Đức Kitô vượt qua là thực tại viên mãn và tối hậu (eschaton) của thế giới, trong đó các thực tại của thế giới này có thể được hoàn tất viên mãn mà không bị hủy bỏ.

Bánh và rượu sau lời truyền phép được hoán chuyển thành một thực tại riêng, hoàn toàn vượt trên thực tại tự nhiên của chúng, được biến đổi, củng cố, phong phú hóa đến độ trở nên “bánh đích thật ban sự sống, rượu của Vương Quốc vĩnh cửu” (le vin du Royaume éternel). Lập trường này không chấp nhận quan niệm của thần học kinh viện cho rằng bánh và rượu chỉ còn là những cái vỏ trống rỗng (tùy thể), không có thực chất.

Sự hoán chuyển Thánh Thể phải được hiểu như là một sự thay đổi mối liên hệ của các yếu tố làm thành bí tích với sự viên mãn cánh chung là Đức Kitô vượt qua. Bánh và rượu,với tất cả thực chất của chúng, làm cho Đức Kitô vượt qua hiện diện cách hữu hình, tựa như điểm tiếp giáp trực tiếp của thực tại cánh chung với thế giới. Một sự thay đổi quan hệ như thế là một thay đổi thuộc bản thể. Được thánh hiến nhờ Thánh Thần, bánh và rượu được hoàn toàn nhận vào trong Đấng là sự viên mãn cánh chung của chúng đến độ trở nên chủ thể (sub-stantia) toàn vẹn của chúng và khi nuôi mình bằng Thánh Thể, người  kitô-hữu kết hiệp với thân mình Đức Kitô, không qua một trung gian nào .

Để hiện diện với thế giới, Đức Kitô không cần phải lìa bỏ trời cao. Bản thân Người chính là trời. Người lôi kéo đến với Người Giáo Hội mà Người biến thành thân mình Người, bánh mà Người biến thành “bánh bởi trời” và rượu trở thành “rượu của Nước Trời”; Người ban cho Giáo Hội được ăn và uống theo kiểu Nước Trời, nghĩa là bằng cách hiệp nhất với Người. Người biến bánh, rượu, Giáo Hội và bữa tiệc trở thành những thực tại cánh chung.

D. NHỮNG CÁCH THẾ HIỆN DIỆN

1. Một sự hiện diện của Đức Kitô toàn vẹn

Không có Mình Thánh một bên và Máu Thánh một bên. Đức Kitô hiện toàn vẹn dưới cả hai yếu tố. Sự duy nhất của bản thân vinh hiển của Người không thể bị chia lìa. Thân mình chỉ con người toàn diện, ngôi vị trong tương quan với thế giới. Máu chỉ cái chết do bạo hành hay mạng sống được hiến dâng (máu cứu chuộc). Cả hai yếu tố trong Thánh Thể nhằm nhấn mạnh khía cạnh hy tế của bữa ăn này nhưng qua mỗi yếu tố, Thánh Thể làm cho chúng ta được hiệp thông với Đức Kitô toàn vẹn.

2. Một sự hiện diện bằng biểu tượng

Không có sự phân biệt của kinh viện giữa bản thể của bánh được biến thành Mình Đức Kitô và các tùy thể vẫn được giữ nguyên, che giấu sự biến đổi. Bánh và rượu được “đảm nhận” trọn vẹn với tất cả bản chất của chúng và trở thành bí tích sự hiện diện của Đức Kitô và vì thế đáng cho chúng ta tôn thờ. Bánh và rượu là biểu tượng hiện thực (symbole réel) : cái được biểu đạt (signifié) không tách rời với cái biểu đạt (signifiant). Dấu chỉ là sự hiện diện thực sự. Bánh và rượu, dưới dáng vẻ trần thế của chúng, là bí tích của Đức Kitô vượt qua.

3. Một sự hiện diện trong suốt thời gian của bánh rượu

Sự hiện diện không chỉ giới hạn trong thời gian cử hành Thánh Thể. Ngay từ đầu, Giáo Hội đã lưu giữ Thánh Thể dành cho người bệnh, hấp hối (của ăn đàng), qua đó ta thấy niềm tin vào sự hiện diện trường tồn đã có từ đầu. Sự hiện diện của Đức Kitô vượt qua tiếp tục chăm sóc Giáo Hội bao lâu biểu tượng vẫn tồn tại, nghĩa là bánh vẫn còn có thể dùng được. Bánh đặt trên bàn tự thân còn là một cử chỉ ban tặng, mời mọc hiền thê đến, cầm lấy mà ăn, mỗi khi ao ước kết hợp với lang quân.

4. Một nhận định cuối về các quan niệm thần học

– Lý thuyết kinh viện chủ trương loại bỏ thực chất của các yếu tố bí tích. Thần học cảm hứng từ mầu nhiệm Vượt Qua nghĩ rằng sự biến đổi không loại bỏ mà hoàn tất. Bánh được thánh hiến không còn là bánh trước đó, sự thay đổi là đích thật, thực sự và theo bản thể, nhưng bánh và rượu không chỉ còn có tùy thể, trống rỗng. Thánh Thể là bánh đích thật nhất, là rượu Nước trời, là bánh rượu cánh chung. Đức Kitô hiện diện toàn vẹn.

Thánh Thể không phải là một sự hiện diện ở thể tĩnh nhưng năng động, tạo mối tương quan, đến với chúng ta, vì chết cho chúng ta và phục sinh vì chúng ta, hướng đến chúng ta.

–  Thuyết chuyển ý nghĩa (transsignification) : Mình và Máu Chúa không phải là những bản thể vô ngã, không có ngôi vị nhưng là chính Đức Kitô toàn vẹn hiến mình cho Giáo hội. Lý thuyết này khẳng định tính cách tương quan của sự hiện diện là đúng. Tuy nhiên thần học về mầu nhiệm Vượt qua còn hay hơn nữa vì bảo đảm tính hiện thực hoàn toàn của sự hiện diện, một sự hiện diện tạo tương quan trong đó Đức Kitô là Thần khí làm cho sống (1 Cr 15,45), vừa là hữu thể viên mãn, vừa là tương quan tuyệt đối.

– Thuyết chuyển mục đích (transfinalisation) : Từ này cũng có thể được sử dụng trong thần học về Thánh Thể đi từ mầu nhiệm Vượt Qua, với điều kiện phải hiểu cách khác. Đây không phải là một mục đích hay ý hướng được thêm vào nhằm biến những của ăn, tuy vẫn là những của ăn vật chất, trong ý hướng của Đức Kitô và Giáo Hội, thành phương tiện hiệp thông với Chúa. Bánh và rượu mang một mục đích hay cứu cánh mới theo nghĩa này : được qui hướng về mầu nhiệm tối hậu và nhận vào mầu nhiệm đó, bánh và rượu trở nên lương thực cánh chung và, do đó, đưa những ai nuôi mình bằng lương thực này vào thực tại cánh chung này, bằng cách sát nhập họ và mầu nhiệm vượt qua.

V. CỬ HÀNH THÁNH THỂ

Chính Đức Kitô là chủ tế của việc cử hành Thánh Thể, là Chúa của cuộc lễ. Nhưng lễ Vượt Qua của Người là một mầu nhiệm hiệp thông. Các kitô-hữu được mời gọi tham  gia vào cuộc lễ, kết hiệp với Đấng hiện diện và với hy tế của Người.

A. MỪNG KÍNH SỰ HIỆN DIỆN

Thánh Thể được cử hành trong bầu khí hân hoan đón nhận, sống cuộc gặp gỡ với Đức Kitô vượt qua. Cần tái khám phá khía cạnh lễ hội của Thánh Thể, không chỉ trong bữa ăn huynh đệ của cộng đoàn hay giản lược vào một hành động phụng vụ gồm những lời kinh tiếng hát, âm nhạc sống động, như thế việc cử hành sẽ mất đi chiều sâu của nó là gặp gỡ Đức Kitô đến hiện diện từ tình trạng cánh chung của Người.

Thánh Thể là một bí tích-ngôi vị và chỉ là bữa ăn huynh đệ nhờ hiệp thông với Đức Kitô. Bỏ qua sự hiện diện của Chúa sẽ đưa đến cằn cỗi. Tất cả ân sủng của bí tích này hệ tại việc gặp gỡ cá vị, trong tình thân thiết, trước hết của Đức Kitô và với Đức Kitô.

1. Để cho sự hiện diện Thánh Thể gặp gỡ mình

Mặc dù được định vị trong thế giới này do biểu tượng, sự hiện diện Thánh Thể mang tính cánh chung. Con người  trần gian không thể nào gặp gỡ Đức Chúa vinh quang, vì thế không có hiện diện đối với kẻ không tin. Phải có một cây cầu bắc qua từ cõi vĩnh hằng sang thế giới này để có sự hiện diện hỗ tương giữa Đức Kitô và con người, đó là đức tin. Thánh Thể là một cuộc lễ trong đức tin. Cuộc gặp gỡ với Thánh Thể diễn ra trên bình diện tình thân hữu. Vì thế, tội lỗi không thể tương hợp với Thánh Thể, nhất là khi con người từ khước sự hiệp thông Giáo Hội.

Thánh Thể là bí tích mời gọi hiệp thông với Chúa Con (1 Cr 1,9), nhưng tính hỗ tương của sự hiệp thông còn bất toàn. Nhờ bữa ăn này, Đức Kitô đến trợ giúp sự yếu đuối của chúng ta và chuẩn bị cho sự hiệp thông sau hết.

2. Lắng nghe sự hiện diện

Ngay từ buổi đầu, sự hiện diện Thánh Thể đã được cử hành bằng cách phối hợp Lời với bí tích, vì ngôn từ của Thánh Thể quá mạnh, cần có lời rao giảng, cả cho các tín hữu. Đức Kitô đến dưới nhiều hình thức : qua người tông đồ, lời, bánh rượu, nhờ đó Người mở ra con đường đức tin để thiết lập triều đại của Người. Vì thế, lắng nghe cũng là hiệp thông. Tuy nhiên, phải là lời trong Đức Kitô (2 Cr 2,17), vì nếu thuần túy là lời trần tục thì lại gây tắc nghẽn cho con đường của sự hiện diện.

3. Ân sủng của sự hiện diện

Sự hiện diện Thánh Thể là một sự hiện diện hoạt động, năng động. Trong cuộc Vượt qua của Người, Đức Kitô trở nên Thần khí  làm cho sống (1 Cr 15,45), là nước hằng sống (Ga 7,38), biến đổi những người thụ hưởng sự hiện diện từ vinh quang này đến vinh quang khác (2 Cr 3,18). Tác động của Thánh Thể thì thường trực, một sự hiện diện không ngừng đến với con người, tự bản chất hướng đến hiệp thông. Tuy không coi thường việc tông đồ của lời rao giảng và chứng tá đời sống, đã có những trường hợp sự hiện diện Thánh Thể thiêu đốt các tâm hồn.

4. Cầu nguyện trước nhan thánh Đức Kitô

Hiệp thông và sống trong Thánh Thể là cầu nguyện. Vì không ngừng kiến tạo sự hiệp thông, nên Thánh Thể là bí tích lớn lao nhất của sự cầu nguyện. Đức Kitô vượt qua chính là nhà cầu nguyện của Tân Ước (Ga 2,19). Thánh Thể chính là sự hiện diện của Đức Kitô trong thế giới. Xuyên suốt dòng lịch sử, Thánh Thể đã là men cầu nguyện phi thường trong dân kitô giáo. Vì lẽ đó, hiền thê lưu giữ thân mình của lang quân để kéo dài sự hiện diện có sức hiệp thông.

Khi người tín hữu đến quì trước Thánh Thể, người ta gọi là “viếng Thánh Thể”, nhưng thật ra, chính Đức Kitô, từ nhà Chúa Cha, đến hiện diện với cộng đoàn của Người tại thế. Giáo Hội đón nhận sự hiện diện viếng thăm của Chúa. Thánh Thể chứng thực rằng cầu nguyện là đón nhận và hiệp thông.

Khi cầu nguyện trước nhan Đức Kitô, Giáo Hội không cần phải thông báo cho Người biết những nhu cầu của mình và của thế giới, nhưng vẫn nói lên, hiến dâng mình và thế giới cho sự hiện diện của Chúa, là lời cầu nguyện đích thân của thế giới, ở đỉnh điểm của lời khẩn cầu và ngay chính lúc được nhậm lời. Người tín hữu kết hợp với lời cầu nguyện này của Đức Kitô.

Phụng vụ là một hành động chủ yếu hệ tại việc đón nhận trong tâm tình biết ơn và ca ngợi, vì thế cần có những thời gian thinh lặng, để đón nhận cách ý thức.

5. Cầu nguyện sau hiệp lễ

Nếu thánh lễ chỉ là một hành động của cộng đoàn, với những lời kinh tiếng hát và việc chia sẻ huynh đệ, ta có thể kết thúc cuộc lễ ngay khi bữa ăn chấm dứt, nhưng thánh lễ lại là việc mừng kính tình thân hữu, trước hết là của Đức Kitô.

Xét như là bí tích, sự hiện diện không kéo dài nơi người tín hữu. Tuy nhiên, sự hiện diện cũng như hy tế của Đức Kitô không tan biến khỏi thế giới này mà chuyển sang người  tín hữu mà Đức Kitô chiếm hữu, biến thành thân mình Người, sát nhập với Người (Ga 6,56).

Ân sủng của Thánh Thể là tạo tình thân thiết có sức đồng hóa nên một. Vì thế tại sao lại không kéo dài cuộc gặp gỡ này được kêu gọi sẽ trở nên vĩnh hằng trước khi phân tán trong những hoạt động trần thế, để khỏi bị phân tán ngoài Đức Kitô mà được đầy lòng mến của Người ? Sự  hiệp thông Thánh Thể tự bản chất đòi hỏi một kinh nghiệm kết hiệp nào đó với Đức Kitô, một kinh nghiệm trong lòng tin, không che giấu nhưng hé mở mầu nhiệm.

Đón nhận, kéo dài sự hiện diện Thánh Thể tự thân đã là việc tạ ơn. Người tín hữu dâng mình cho Chúa để Người thực hiện nơi mình điều Người muốn. Trong sự hiệp thông này với Đức Kitô, người tín hữu ảnh hưởng trên số phận đời đời của anh chị em mình, bằng lời chuyển cầu hay chỉ bằng yêu mến.

B. CỬ HÀNH HY TẾ

Chỉ có một hy tế duy nhất là hy tế của Đức Kitô, hy tế của riêng bản thân Người, trong cái chết được tôn vinh của Người. Giáo hội chỉ có thể cử hành hy tế này bằng cách liên kết với Đức Kitô trong cái chết vinh hiển của Người.

1. Dâng hiến bằng cách lãnh nhận

Không có việc tái diễn hay tái hiện hy tế vì hy tế của Đức Kitô là hy tế cánh chung, luôn luôn hiện thời. Đối với Giáo Hội, cách thế cử hành mầu nhiệm này là đón nhận, để cho hy tế duy nhất chiếm đoạt lấy mình.

2. Dâng hiến bằng cách tham dự

Người ta có thể đón nhận một cách thụ động sự toàn hiến của Thiên Chúa. Giáo Hội chỉ đón nhận bằng cách tham dự. Lễ Vượt Qua của Đức Kitô động viên mọi năng lực, lôi kéo đời sống các tín hữu trong chuyển động quảng đại hiến dâng. Giáo Hội cử hành bí tích của Chúa nhờ đồng tế trong sự hiệp thông, đồng hóa với Đức Kitô, dấn thân cùng chết với Người để cùng được sinh ra với Người. Mầu nhiệm bản thân của Đức Kitô trở thành mầu nhiệm của Giáo Hội.

C. NHỮNG NGƯỜI CỬ HÀNH

Người cử hành đầu tiên là chính Đức Kitô. Nhưng Giáo Hội mà Đức Kitô biến thành thân mình Người, được tham dự vào cuộc Vượt Qua của Người. Giáo Hội đồng cử hành mầu nhiệm Vượt Qua với Đức Kitô.

1. Toàn thể Giáo Hội đồng cử hành mầu nhiệm Vượt Qua

Nhóm Mười Hai tông đồ là biểu tượng của tính phổ quát, tượng trưng cho toàn thể Giáo Hội, dân mới của Thiên Chúa. Thánh Thể là tài sản chung của toàn thể Giáo Hội. Mọi tín hữu, mỗi người theo cách thức của mình, nhờ việc dâng hiến cũng như việc hiệp lễ, đóng vai trò riêng của mình trong hành động phụng vụ. Toàn thể dân Chúa kết hợp với Đức Kitô trong việc đồng cử hành lễ Vượt Qua cánh chung.

2. Ở trung tâm của cuộc cử hành : linh mục

Trong cộng đoàn cử hành Thánh Thể, một kitô-hữu, giám mục hay linh mục, đóng vai trò riêng tuy vẫn mang tính cộng đồng, tựa vai trò của các tông đồ đầu tiên là hạt nhân của Giáo Hội tương lai. Các giám mục là nguyên lý và nền tảng, các linh mục làm cho dân Chúa được sinh ra và tăng trưởng, nhờ việc loan báo Tin Mừng có sức triệu tập dân Chúa và nhờ bí tích  làm thành cộng đoàn Thánh Thể là biểu tượng của Giáo Hội phổ quát. Vai trò thành lập là duy nhất, vì thế chức năng của linh mục khác với chức năng của giáo dân, mầu nhiệm không vì thế mà tách biệt linh mục khỏi cộng đoàn hay đứng  trên cộng đoàn, đối lập với cộng đoàn. Dân Kitô-giáo cử hành cùng một thánh lễ với linh mục. Linh mục đứng ở trung tâm và đỉnh điểm của một thừa tác vụ của toàn thể Giáo Hội.

3. Giữa lòng Giáo hội hiệp thông

Linh mục cử hành thánh lễ cũng như cộng đoàn trong sự hiệp thông với Đức Kitô, chia sẻ cuộc Vượt Qua cứu chuộc của Người. Các nhiệm vụ tông đồ được thi hành trong tình thân hữu (Ga 15,15). Thừa tác vụ không phải là một chức năng tách biệt với con người kitô-hữu. Hoạt động bí tích của linh mục là thành phần của sứ vụ loan báo Tin Mừng. Thánh Thể là hành vi tối cao của việc tông đồ, lời rao giảng Tin Mừng đạt hiệu lực đầy đủ nhất khi nhờ đó Đức Kitô hiện diện với thế giới : linh mục trở thành tác nhân của sự hiện diện của Đức Kitô, của việc Người tiếp xúc với thế giới.

Thế nhưng, trong hoạt động tông đồ, mọi sự được chi phối bởi luật của người môn đệ. Linh mục làm cho cộng đoàn có thể cử hành mầu nhiệm cứu độ, khi chính bản thân mình cử hành mầu nhiệm này, một cách nào đó, chính mình phải dấn thân trong mầu nhiệm Đức Kitô. Do đó, Thánh Thể là một lời kêu gọi linh mục vươn tới sự thánh thiện, vì linh mục là người đầu tiên và do chức năng được thu dụng vào mầu nhiệm Vượt qua, bị buộc ngặt phải hiệp lễ.

4. Nghĩa vụ cử hành Thánh Thể

Có một nghĩa vụ không thể chối cãi là phải tham dự thánh lễ Chúa nhật  (PV 106). Đây  cũng là một đòi hỏi sinh tử và của tình yêu. Emeritus, một kitô-hữu, trong thời Giáo Hội bị bách hại tại Bắc phi, đã tuyên bố trước quan toà rằng : “Chúng tôi không thể sống nếu thiếu bữa ăn của Chúa”.

Tuy nhiên, khi lòng đạo đã phai nhạt và đức tin sa sút, người ta không còn cảm thấy nhu cầu bánh Thánh Thể. Ngược lại, sự xao lãng tham dự Thánh Thể cũng đưa đến đức tin suy yếu. Con người là kitô-hữu nhờ bám rễ vào vương quốc tương lai, nhưng cuộc sống hiện đại không ngừng ra sức lôi kéo về lại quá khứ nguyên thủy mà phép Rửa đã đưa mình ra khỏi. Giáo Hội phải đương đầu với cơn cám dỗ của thời sau hết là sự vô tín và chối đạo.

Đứng trước ơn cứu độ cánh chung, khả năng của con người thật giới hạn đến nỗi phải không ngừng ra sức đón nhận, cho đến ngày sẽ được chiếm hữu viên mãn điều đã được ban tặng cho mình từ đầu.

Linh mục vâng theo lệnh truyền của Chúa mà nhắc nhớ mọi người : “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”. Vì thế, linh mục không ngừng tập họp cộng đoàn lại, để đến lượt mình và mỗi ngày một hơn, cộng đoàn trở nên chính mầu nhiệm mình cử hành mà Thánh Thể là bí tích.

 

Tác phẩm của Cha Durwell trình bày một cái nhìn mạch lạc về mầu nhiệm Thánh Thể đặt trong toàn bộ mầu nhiệm cứu độ xoay quanh biến cố Vượt Qua của Đức Kitô là trung tâm điểm của lịch sử cứu độ. Mọi khẳng định thần học đều dựa trên một nền tảng Kinh Thánh vững chắc ; ngoài ra cuốn sách còn chứa đựng nhiều gợi ý sâu sắc về tu đức liên quan đến việc cử hành và sống bí tích Thánh Thể. Vì thế, tác phẩm này chắc chắn sẽ giúp ích nhiều cho người đọc, cách riêng cho các linh mục và tu sĩ là những người tiếp cận hằng ngày với mầu nhiệm Thánh Thể là chóp đỉnh và tổng hợp của Kitô-giáo.

 

Linh mục Gêrađô Trần công Dụ

 

 

“PHÚC CHO AI ĐƯỢC MỜI ĐẾN DỰ TIỆC CHIÊN THIÊN CHÚA”

 

Lời mời gọi đó của linh mục chủ sự trước lúc rước lễ và trao Mình Thánh cho giáo dân, nhắc nhớ cho mọi người tham dự niềm vui, hạnh phúc được Chúa mời đến dự tiệc. Khi nghe những lời đó, chúng ta liên tưởng đến dụ ngôn của Chúa Giêsu về Nước Trời như bữa tiệc mà Vua Cha tổ chức cho Hoàng Tử và mời gọi mọi người, trong đó có chúng ta đến dự tiệc (Mt 22, 1-14 ; Lc 14, 15-24).

Chúng ta là khách mời của Ba Ngôi Thiên Chúa :

Nơi bàn tiệc Thánh Thể, chúng ta là những khách mời của Thiên Chúa Cha, của Chúa Kitô là Con Thiên Chúa, và Chúa Thánh Thần là Tình Yêu của Thiên Chúa. Chúng ta không tự động đến bàn tiệc Thánh Thể, nhưng chính vì Thiên Chúa mời ta. Thiên Chúa luôn đi bước trước, vì Người quý trọng yêu thương ta.

Trên con đường đi Emmaus, chính Chúa Kitô Phục sinh đã đến, đồng hành với hai môn đệ, đã dừng lại bẻ bánh trao cho họ, và bấy giờ họ mới nhận ra Người. Ngày hôm nay cũng thế, chính Người đến hiện diện với chúng ta, gặp gỡ chúng ta, qua Phụng vụ Lời Chúa và việc Bẻ Bánh. Đừng băn khoăn lo lắng đến mức độ quên rằng chúng ta là những khách mời đến bàn tiệc mà Thiên Chúa chuẩn bị và chờ đón chúng ta.

Không phải chỉ đến lúc rước lễ chúng ta mới được mời, nhưng chúng ta đã được mời ngay từ đầu. Ngay từ đầu, linh mục chủ sự đã chào đón và mời gọi mọi người trong cương vị Chúa Kitô (in persona Christi). Mời gọi mọi người thống hối, lắng nghe Lời Chúa, rồi mời gọi đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa. Lời mời gọi của linh mục phải làm nổi bật sáng kiến Tình Yêu của Thiên Chúa. Thiên Chúa đi bước trước.

Thánh Lễ bắt đầu thực sự với dấu thánh giá của linh mục chủ sự nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Ngay từ đầu mọi người đều được mời gọi trở về nguồn suối đầu tiên của mọi thực tại, mọi ân sủng, đó là Tình Yêu Ba Ngôi được mặc khải nơi Thập giá Chúa Kitô. Nguồn gốc của mầu nhiệm Thánh Thể là Tình Yêu Ba Ngôi và là Thập Giá Chúa Kitô.

Thập Giá Chúa Kitô mặc khải Tình Yêu Ba Ngôi. Cử hành Thánh Thể là cử hành mầu nhiệm hy tế thập giá của Chúa Giêsu, hy lễ tình yêu mà Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha để cứu chuộc loài người chúng ta. Cử hành Tình Yêu của Chúa Cha, Đấng yêu mến thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Người cho thế gian, để những ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời (Ga 3, 16 ). Cử hành Công Việc của Chúa Thánh Thần, Đấng đã thúc đẩy Chúa Kitô hiến mình làm Lễ Hy Sinh vô tì tích dâng lên Thiên Chúa ( Dt 9, 14 ).

Cử hành Thánh Thể là cử hành mầu nhiệm Tình Yêu và Sự Sống Ba Ngôi mà chúng ta được thông phần nhờ mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô , Đấng đã chết và đã sống lại để cứu độ chúng ta. Nhờ bí tích Thánh Tẩy chúng ta được đưa vào mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa, tháp nhập vào Thân Thể huyền nhiệm của Chúa. Trong bí tích Thánh thể, ta được mời đến chia sẻ Tình Yêu và Sự Sống của Ba Ngôi Thiên Chúa, được mời gọi đồng bàn để thông phần Tiệc Chiên Con.

Sáng kiến Tình Yêu của Chúa Cha:

Thánh Gioan nhấn mạnh sáng kiến Tình Yêu của Chúa Cha trong chương trình cứu độ: “ Tình Yêu cốt ở điều này: không phải ta yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” ( 1 Ga 4, 10 ). Khi cử hành thánh lễ, chúng ta hãy tin một cách tuyệt đối vào sáng kiến tình yêu của Chúa Cha, tình yêu tạo dựngcứu độ của Người.

Hãy đón nhận tình yêu của Người bằng cách đón nhận Đức Giêsu Kitô, Con Một Yêu dấu mà Người đã tặng ban cho chúng ta. Trong mầu nhiệm Thánh Thể , Chúa Kitô là Tng Phẩm thần linh, là món quà lớn nhất, quý trọng nhất mà Thiên Chúa ban cho chúng ta. Không thể có món quà nào quý trọng hơn là Con Thiên Chúa, đồng bản thể với Thiên Chúa. Thiên Chúa ban tặng Chúa Kitô cho ta, là ban tặng chính bản thân mình cho ta. Chúa Kitô là Bánh Sự Sống, Bánh bởi trời mà Chúa Cha ban cho ta để ta có sự sống đời đời.

Mọi người chúng ta là số không đời đời nếu không có sáng kiến tạo dựng của Thiên Chúa, và mọi người chúng ta đều phải chết nếu không có sáng kiến cứu độ của Người.

Sáng kiến Tình Yêu của Chúa Kitô:

Thiên Chúa Cha yêu thương chúng ta và đi bước trước. Chúa Kitô, Con Một Yêu Dấu của Người cũng đi bước trước. Trong bí tích Thánh thể, chúng ta đón nhận sáng kiến tình yêu của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là Lời Nói vĩnh hằng của Chúa Cha. Người không ngừng sinh ra từ Chúa Cha; không ngừng đón nhận bản thân mình từ Tình Yêu của Chúa Cha và dâng hiến lại cho Chúa Cha.

Người đã làm người và ở giữa chúng ta để nói lên Tình Yêu của Chúa Cha. Người đến với chúng ta nhân danh Thiên Chúa Cha. Chúa Giêsu ý thức Người là Hồng Ân, là Tặng Phẩm thần linh mà Chúa Cha ban cho nhân loại: “Bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian…”( Ga 6, 33 ).

Đáp lại sáng kiến yêu thương của Chúa Cha và tiếp nối sáng kiến ấy, Chúa Giêsu đã hiến mình làm của lễ hy sinh vô tì tích dâng lên Thiên Chúa trên thập giá, và đã tự hiến làm lương thực cho chúng ta trong bí tích Thánh Thể. Bí tích Thánh Thể là sáng kiến của Chúa Giêsu, nơi Người chúc tụng ngợi  khen Thiên Chúa Cha với tư cách là Thượng Tế Giao Ước Mới, nơi Người không ngừng đến với chúng ta và ở lại với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế.

Chúa Giêsu rất muốn chúng ta đón nhận Người, vì đón nhận Người là đón nhận hồng ân Chúa Cha ban, là đón nhận chính Chúa Cha. Đó là lý do khiến Người mời gọi tha thiết: “Chính tôi là Bánh trường sinh, ai đến với tôi, không hề phải đói, ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” Tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi.” (Ga 6, 35; 38).

Trong diễn từ Bánh Sự Sống trong đoạn 6 tin mừng Gioan, có chỗ Chúa diễn tả sự thất vọng của mình trước đám đông người Do Thái chỉ đi tìm của ăn trần thế: “ Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực hay hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông…” (Ga 6, 27)

Có tương quan  mật thiếtGiữa mầu nhiệm Nhập Thể và mầu nhiệm Thánh Thể: Ngôi Lời đã trở nên xác phàm để trở thành bánh. Trong đoạn 1 tin mừng Gioan và trong đoạn 6, tác giả dùng cùng chữ sarx  để chỉ  thịt mình (caro, chair): Verbum caro factum est ( Ga 1, 14 ); Caro enim mea vere est cibus : Thịt tôi thật là của ăn ( Ga 6, 55 ). Cử hành Thánh Thể là đón nhận Lời của Chúa Cha, đón nhận Tình Yêu mà Chúa Cha biểu lộ nơi Chúa Giêsu, đón nhận Giao ước mới mà Chúa Cha ký kết nhờ Máu của Chúa Giêsu. Chính Chúa Giêsu đã tự nguyện trở thành Giao ước mới và vĩnh cữu giữa Thiên Chúa và nhân loại.

Sáng kiến Tình Yêu của Chúa Thánh Thần:

Bí tích Thánh Thể còn là sáng kiến tình yêu của Chúa Thánh Thần, là một mầu nhiệm thánh, là công việc thần thiêng. Trước khi rước Mình và Máu thánh Chúa, linh mục chủ sự đọc thầm: “ Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, bởi thánh ý Chúa Cha, và sự hợp tác của Chúa Thánh Thần, Chúa đã chết để ban cho thế gian được sống.”

Chúa Thánh Thần luôn hợp tác rất mật thiết với Chúa Giêsu . Ngài là Dầu xức của Chúa, khiến Chúa có tước hiệu là Đức Kitô, Đấng được Chúa Cha xức dầu và sai đi rao giảng tin mừng. Ngài  luôn cộng tác với Ngôi Lời Thiên Chúa, ngay từ lúc tạo dựng; cùng với Ngôi Lời, Ngài được thánh giáo phụ Irênê ví như hai bàn tay của Thiên Chúa trong công cuộc tạo dựng. Ngài đã cộng tác đặc biệt trong biến cố Ngôi Lời Nhập Thể, và không ngừng cộng tác trong cuộc sống tại thế của Chúa Giêsu, trong cái chết hy sinh của Chúa ( Dt 9, 14 ). Ngài đã tác động mạnh mẽ trong sự Phục sinh của Con Thiên Chúa.

Mỗi lần Giáo Hội cử hành Phụng vụ, đều có Thần Khí Chúa tác động mạnh mẽ. Thần Khí Chúa cũng đi bước trước như Chúa Giêsu và Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần là Đấng quy tụ chúng ta thành Giáo Hội là Cộng Đồng tư tế ( Kahal ) để chúng ta có thể cử hành Thánh lễ. Chúa Thánh Thần khơi dậy lòng thống hối nơi mỗi người tín hữu. Thánh Thần khai mở tâm hồn chúng ta để chúng ta lắng nghe Lời Chúa. Ngài làm cho Lời Chúa thấm nhập vào tâm trí của chúng ta. Ngài tác động trên linh mục chủ sự, để linh mục giảng giải Lời Chúa.

Nhưng quan trọng hơn cả là Chúa Thánh Thần làm cho bánh và rượu trở nên Mình và Máu Thánh Chúa. Theo một nghĩa nào đó, Chúa Thánh Thần đưa Chúa Kitô đến cho chúng ta, như Ngài đã làm cho Ngôi Lời Nhập Thể trong lòng trinh nữ Maria; đã làm cho Đức Giêsu Kitô trỗi dậy từ cõi chết. Nhờ quyền năng tác động của Chúa Thánh Thần, chính Chúa Kitô Phục Sinh hiện diện và trở thành nơi gặp gỡ trọn vẹn giữa Thiên Chúa và loài người. Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta nên một với nhau trong Chúa Kitô, khi chúng ta được thông phần Mình và Máu Thánh. Chúa Thánh Thần là Ơn thông hiệp.

Đức Cha Phaolô BÙI VĂN ĐỌC

 

 

TÔNG THƯ “MANE NOBISCUM”

CỦA ĐỨC CỐ GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II

( Giới thiệu và phân tích )

 

Tông thư Mane nobiscum của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhằm mục đích cụ thể là giúp mọi thành phần Dân Chúa trong Giáo hội toàn cầu sống năm Thánh Thể, do đó là một hướng dẫn rất chắc chắn, giúp chúng ta hiểu thông điệp Giáo hội sống nhờ Thánh Thể, học hỏi về mầu nhiệm Thánh Thể và đưa mầu nhiệm ấy vào cuộc sống. Tông thư cũng đã trích dẫn Công Đồng Vatican II khá nhiều, và muốn cho chúng ta thấm nhuần giáo lý của Công Đồng về Thánh Thể.

Tông thư rất súc tích và đầy chất liệu thiêng liêng. Ngay từ đầu, trong phần dẫn nhập, hình ảnh hai môn đệ Emmau nổi bật lên, rất gần gũi, làm cho chúng ta thấy như chính Chúa Giêsu Phục Sinh đang đến với chúng ta và đồng hành với chúng ta, bẻ bánh với chúng ta và cho chúng ta, mỗi khi chúng ta cùng nhau cử hành Thánh lễ trong lòng Giáo hội đang lữ thứ. Câu chuyện các môn đệ Emmau như sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ đầu chí cuối tông thư, mặc dù trong các phần sau, Đức thánh cha có trích dẫn những câu kinh thánh khác làm tựa đề cho các phần đoạn khác nhau. Tôi có cảm cảm tưởng Đức Thánh Cha đã không ngừng chiêm ngưỡng bức hoạ tuyệt vời của hoạ sĩ Rembrandt vẽ Chúa Giêsu đang đồng bàn và bẻ bánh với hai môn đệ Emmau .

Sau phần nhập đề, tông thư xoay quanh bốn trục chính được xem như bốn phần. 1/. Phần một hướng chúng ta về Công Đồng Vatican II, vẫn là kim chỉ nam cho Giáo hội toàn cầu đang bước vào thiên niên kỷ thứ ba; Đức thánh cha cũng nhắc lại biến cố Năm Thánh 2000, mở đầu thiên niên kỷ mới, là một biến cố mang tràn đầy ân sủng cho Giáo hội và toàn thể nhân loại (số 6 đến số 10). 2/. Phần hai đề cập đến bí tích Thánh Thể, Mầu nhiệm Ánh Sáng là phần độc đáo của Đức thánh cha, người đã sáng kiến ra năm mầu nhiệm ánh sáng trong tông thư Rosarium Virginis Mariae. Trong số các mầu nhiệm ánh sáng, Thánh Thể là Đỉnh Cao, là Đèn Sáng được đặt trên cao để chiếu soi cho cả ngôi nhà của Thiên Chúa ở trần gian là Giáo hội,  cho  lịch sử loài người, cho cả gia đình nhân loại  (số 11-18). 3/. Phần ba đề cập đến Thánh Thể và mầu nhiệm Hiệp thông: Hiệp thông Ba Ngôi, Hiệp thông Giáo hội. Nhờ Thánh Thể chúng ta nên một với Chúa và nên một với nhau trong Chúa (số 19 – 23). 4/. Phần bốn đề cập đến Thánh Thể là nguồn gốc và là dự phóng cho sứ vụ. Mỗi khi cử hành Thánh lễ, Giáo hội đều nhận lãnh sứ vụ từ Chúa Phục Sinh, và Chúa ban cho Giáo hội dự phóng yêu thương và phục vụ như Chúa, dự phóng đó chính là cách hiện hữu của Chúa Kitô phải dần dần trở thành cách hiện hữu của Giáo hội ( số 24-28 ).

Tông thư Mane nobiscum (xin Thầy ở lại với chúng con) rất sống động và đầy chất kinh thánh, được trình bày dựa vào một số câu kinh thánh quen thuộc. Chúng ta dừng lại một số nét cơ bản của nội dung tông thư, giúp chúng ta hiểu mầu nhiệm Thánh Thể cách sâu xa hơn,  thấy mầu nhiệm gần gũi với ta hơn và cử hành Thánh lễ sốt sắng hơn. 

Các chiều kích khác nhau của bí tích Thánh Thể:

Như đã viết trong thông điệp Giáo Hội sống nhờ Thánh thể (Ecclesia de Eucharistia), trong tông thư xin Thầy ở lại với chúng con, Đức thánh cha lưu ý chúng ta không được bỏ sót một chiều kích nào của bí tích Thánh Thể (x.số 14). Trong số 15, ngài tổng hợp cho chúng ta các chiều kích khác nhau của mầu nhiệm : bí tích Thánh Thể tưởng niệm hy tế thập giá trên đồi Golgôta, một lần duy nhất thay cho mọi lần; là mầu nhiệm Hiệp thông (khía cạnh “bàn tiệc”);  trong khi hiện tại hoá mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa, bí tích Thánh thể hướng chúng ta tới ngày Chúa trở lại (chiều kích cánh chung).

Mục đích của tông thư không là khai triển hết các chiều kích khác nhau của bí tích thánh thể, nhưng nhấn mạnh nhiều hơn sự hiện diện của Chúa ở giữa chúng ta. Trong số 16, Đức thánh cha viết tất cả các chiều kích của bí tích Thánh Thể đan kết lại với nhau trong một khía cạnh thử thách niềm tin của chúng ta hơn bất cứ khía cạnh nào khác, đó là sự hiện diện thực của Chúa. Bí tích Thánh thể là mầu nhiệm của sự hiện diện, là Chúa ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế.

Chiều kích quan trọng nối kết các chiều kích khác nhau của mầu nhiệm Thánh Thể là sự hiện diên thực. Vì Chúa đến, Chúa hiện diện, chúng ta mới có thể cử hành hy tế của Chúa trong hiện tại. Thánh lễ hiện tại hoá hy tế thập giá của Chúa, chứ không tái diễn hy tế ấy, vì hy tế ấy chỉ xảy ra một lần và có giá trị cứu độ vĩnh viễn. Chúa đến và hiện diện, chúng ta mới có thể gặp gỡ Chúa, tiếp xúc với Chúa, ở lại với Người, gắn bó và nên một với Người, hiệp thông và chia sẻ sự sống của Người.

Nếu tất cả các chiều kích khác của bí tích Thánh Thể đều đan kết với nhau trong mầu nhiệm của sự hiện diện, thì phải hiểu, chiêm ngắm sự hiện diện của Chúa gắn liền với các chiều kích khác nhau ấy. Sự hiện diện của Chúa là sự hiện diện hy tế và hiệp thông. Chúa tự hiến cho Chúa Cha làm của lễ và tự hiến cho chúng ta làm của ăn, để  ta được hiệp thông với Chúa và Chúa Cha. Đức thánh cha không quên yếu tố nào trong truyền thống của Giáo hội về bí tích thánh thể, nhưng tất cả những yếu tố ấy đều xoay quanh việc tưởng niệm bàn tiệc hy tế.

Lập lại tư tưởng của Phaolô VI trong thông điệp Mầu nhiệm đức tin, Đức thánh cha Gioan Phaolô II viết: sự hiện diện thực của Chúa Kitô trong bí tích Thánh Thể không loại trừ các hình thức hiện diện thực khác của Chúa, nhưng khác biệt ở chỗ là hiện diện bản thểtoàn diện (Mane nobiscum, số 16). Đức tin đòi hỏi chúng ta, khi đứng trước Thánh thể, ý thức rằng mình đang đứng trước mặt Chúa. Và chính sự hiện diện này của Chúa làm cho các khía cạnh khác như bàn tiệc hay bữa ăn, sự tưởng niệm mầu nhiệm vượt qua, chiều kích cánh chung, không chỉ là biểu tượng thuần túy. 

Chúa đến, Chúa hiện diện trong dấu chỉ bí tích, nên chúng ta không thấy Người, mà thấy dấu chỉ. Chúng ta không thấy, nhưng chúng ta tin Chúa hiện diện thực, Chúa hiện diện bản thể. Chúng ta thấy Bánh, nhưng chúng ta tin là Mình Thánh Chúa, chúng ta thấy Rượu, nhưng chúng ta tin là Máu Thánh Chúa. Chúng ta ăn Bánh mà tin là Rước Chúa. Quả thật, đây là mầu nhiệm đức tin!

Chúng ta tin chúng ta đang đón Chúa, đang đối diện với Chúa, dù mắt phàm không thấy Chúa. Chúa ở trước mặt ta;  ta chiêm ngắm Chúa và sấp mình thờ lạy Chúa. Ánh Sáng của Chúa chiếu toả cho con mắt đức tin của chúng ta, do đó càng tin càng có nhiều ánh sáng. Đức tin mạnh làm cho chúng ta được chan hoà ánh sáng, ngụp lặn trong ánh sáng của Chúa, khám phá ra Chúa, nhận ra Tình Thương của Chúa, của Chúa Cha và của Chúa Thánh Thần. Chúng ta nhận ra ánh sáng của Thiên Chúa Ba Ngôi  đang tiếp đón chúng ta, khi chúng ta hiệp thông, nên một với Chúa Kitô, Con Thiên Chúa. Ánh sáng cho chúng ta nhận ra mình đang trở thành con cái của Thiên Chúa cùng với Chúa Kitô và trong Chúa Kitô. Ánh sáng cho chúng ta thấy Thiên Chúa đang nhận chúng ta làm con, làm nghĩa tử của Người. Ánh sáng Tình Yêu làm cho chúng ta có thể thốt lên Abba, Cha ơi  với Thiên Chúa.

Sự hiện diện của Chúa Giêsu nơi nhà tạm trở nên như một thứ nam châm thu hút càng ngày càng đông đảo hơn những người ngưỡng mộ Chúa, sẵn sàng kiên nhẫn chờ đợi nghe tiếng Người, và thậm chí nghe cả nhịp đập của trái tim Người (x. Mane nobiscum, số 17). Chúng ta phải vun trồng một ý thức sống động về sự hiện diện thực của Chúa Giêsu trong Thánh Lễ và nơi nhà tạm sau Thánh Lễ. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II thúc giục giáo dân, và một cách đặc biệt hơn các tu sĩ : Hãy ở lại lâu giờ phủ phục trước Chúa Giêsu đang hiện diện trong Thánh Thể, đem lòng tin và lòng mến đền bù những khoảnh khắc lơ là, những bổn phận thiếu sót và cả những sỉ nhục Chúa Giêsu phải chịu tại nhiều nơi trên thế giới. Hãy đào sâu đời sống chiêm niệm của cá nhân, cũng như cộng đoàn nhờ việc thờ phượng (x . Mane nobiscum, số 17).

Bí tích Thánh Thể là một bàn tiệc, vì Chúa Giêsu đã lập bí tích Thánh Thể trong bối cảnh một bữa ăn.  Người còn mời gọi các môn đệ hãy ăn và uống. Nhưng bàn tiệc ấy là bàn tiệc hy tế, bàn tiệc Giao Uớc, nơi chúng ta được ăn Mình và uống Máu Thánh Người. Mục tiêu của hành vi ăn và uống là để thông phần Sự Sống của Chúa; và đó là ơn cứu độ. Mình Thánh Chúa là Bánh Hằng Sống; Máu Thánh Chúa là Chén Cứu Độ.

Nơi bí tích Thánh Thể, Chúa Kitô làm cho hiến tế duy nhất chỉ một lần cho mãi mãi trên đồi Gôngôtha trở thành hiện thực cho chúng ta. Tuy hiện diện trong Thánh Thể như là Đấng Phục Sinh, Người vẫn mang những dấu tích của cuộc khổ nạn. (x.Mane nobiscum, số 15). Do vậy mỗi thánh lễ cũng là một  tưởng niệm cuộc khổ nạn và sự Phục Sinh của Chúa; đồng thời quy hướng chúng ta tới Ngày Quang Lâm của Chúa.

            Không những Chúa đã chết vì tội lỗi chúng ta, Chúa Sống lại cũng vì chúng ta và cho chúng ta. Chúa Phục Sinh ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28, 20). Chúa chết là Chúa ra đi, Chúa Phục Sinh là Chúa đến, như Chúa đã nói với các môn đệ : “Thầy ra đi và đến cùng anh em” ( Ga 14, 28 ). Tử nạn và Phục Sinh là hai mặt gắn chặt với nhau của cùng một mầu nhiệm mà chúng ta cử hành trong Thánh Lễ, như lời tung hô sau phần Truyền Phép: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến.”      

Hai bàn tiệc: Lời Chúa và Thánh Thể

So với thông điệp Giáo hội sống nhờ Thánh Thể không dành chỗ đặc biệt cho Lời Chúa, tông thư “Xin Thầy ở lại với chúng con” bù lắp vào chỗ trống này cách rất dồi dào. Việc lựa chọn câu truyện hai môn đệ Emmau như sợi chỉ xuyên suốt, hướng tông thư về chiều hướng đó. Trong lần gặp gỡ giữa hai môn đệ Emmau với Chúa Phục Sinh, có hai lúc đặc biệt ý nghĩa. Thời điểm thứ nhất là lúc Chúa Giêsu đồng hành với hai môn đệ, nói với họ về Kinh thánh, giải thích cho họ một số nội dung chứa đựng trong đó, cho họ thấy rằng Kinh thánh quy chiếu về Ngài. Thời điểm thứ hai là lúc Chúa ngồi vào bàn với họ, cầm lấy Bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho họ, bấy giờ mắt họ mở ra và họ mới nhận biết Chúa.

Bí tích Thánh Thể là mầu nhiệm Ánh Sáng, vì Phụng Vụ Lời Chúa luôn đi trước Phụng Vụ Thánh Thể, Lời Chúa gắn liền với Thánh Thể giống như hai bàn tiệc Lời Chúa và Mình Máu Thánh Chúa. Lời Chúa là Lời Sự Sống, nên cũng là lương thực, là bánh để ăn. Lời Chúa là đèn rọi bước chân ta, là ánh sáng chỉ đường cho ta. Lời Chúa hướng chúng ta đến chính Chúa là Ngôi Lời Nhập Thể hiện diện cách đặc biệt, hiện diện bản thể trong Mình và Máu Thánh Chúa. Lời Chúa giúp ta nhận ra Chúa như hai môn đệ Emmau. Lời Chúa làm cho ta hiểu biết Chúa, đón nhận Tình Yêu tự hiến của Chúa trong bí tích Thánh Thể.

Trước hết Chúa Giêsu đã tự hiến qua Lời của Người, Lời của Người đã là lương thực, nhưng sự tự hiến chỉ hoàn tất trong mầu nhiệm Thánh Thể. Trong mầu nhiệm Thánh Thể Chúa tự hiến trọn vẹn cho chúng ta,  hiến dâng mạng sống  cho Thiên Chúa,  tặng ban sự sống bản thân cho chúng ta. Cái chết của Chúa là cái chết cứu độ, Chúa chết cho chúng ta được sống: Này là Mình Thầy hiến tế vì anh em.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhắc lại ý hướng của Công Đồng Vatican II, khi canh tân Phụng Vụ, muốn bàn tiệc Lời Chúa cung cấp kho tàng Lời Chúa trọn vẹn hơn cho các tin hữu (PV 9). Và chính vì thế đã cho phép đọc các bài kinh thánh bằng tiếng bản xứ. Chúa  nói với chúng ta qua lời kinh thánh được đọc trong thánh lễ. Chúa đến với chúng ta qua Lời Chúa trước khi đến cách  trọn vẹn và đầy đủ trong bí tích Thánh Thể.

Bàn tiệc Lời Chúa là tất cả phần Phụng Vụ Lời Chúa, bao hàm cả bài giảng lễ của linh mục. Lời lẽ của linh mục cũng là lương thực nuôi dưỡng đức tin của giáo dân. Linh mục vừa cung cấp nội dung đức tin, vừa chia sẻ sự sống đức tin. Nội dung đức tin được cung cấp dựa vào Lời Chúa. Lời Chúa là Lời Sự Sống và là Lời Mặc Khải chờ đợi sự đáp trả. Đức tin không chỉ là một nội dung tư tưởng, mà còn là sự sống, là ân sủng do Thiên Chúa ban qua trung gian của linh mục. Linh mục truyền đạt một đức tin sống động, chứ không phải một mớ ý tưởng.

Thánh Gioan, trong diễn từ Bánh Trường Sinh, cho thấy rõ sự liên tục và gắn bó chặt chẽ giữa Lời Chúa và Mình Máu thánh Chúa, giữa tin vào Người và ăn thịt uống máu Người. Đức Giê-su bảo những người do thái: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ! (Ga 6, 35) …vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống.(Ga 6, 55). Nhiều người xầm xì khó chịu, nhưng Thánh Phêrô đã khẳng định lòng tin của ông và các tông đồ, cũng là niềm tin của Giáo Hội: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” (Ga 6, 68).

Trong bài tường thuật của Luca cũng thế, những lời giải thích Sách Thánh của Chúa Giêsu đều hướng tới cái chết và sự sống lại của Người. “Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh và Người nói: “Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại” (Lc 24, 45 – 46). Những lời của Chúa Giêsu Phục Sinh đi vào trái tim của hai môn đệ Emmau và làm cho lòng họ bừng cháy lên (x. Lc 24, 32), khơi dậy lòng khao khát được gần gũi Chúa, ở lại với Chúa, và họ đã nài nỉ Chúa: Xin Thầy ở lại với chúng con. Trên con đường đi Emmau, hai môn đệ đã được Lời của Chúa chuẩn bị sẵn sàng, nên vừa đến lúc đồng bàn họ tức khắc nhận ra Chúa qua cử chỉ rất đơn giản là Người bẻ bánh. Khi tâm trí đã được soi sáng và trái tim đã được sưởi ấm, thì các dấu chỉ bắt đầu lên tiếng. Qua các dấu chỉ mầu nhiệm Thánh Thể như mở ra trước mắt các tín hữu. (x. Mane nobiscum, số 13 và 14). 

Cử hành, tôn thờ, chiêm ngắm

Có một điều bị quên lãng khá nhiều trong những thập niên vừa qua mà Đức thánh cha Gioan Phaolô II nhắc đi nhắc lại trong thông điệp Giáo Hội sống nhờ Thánh Thể, và trong tông thư Mane nobiscum, đó là việc tôn thờ Chúa Kitô ngoài giờ thánh lễ.

Thánh Thể là mầu nhiệm cực trọng! Mầu nhiệm này trước hết phải được cử hành một cách tốt đẹp. Thánh lễ phải là trọng tâm của đời sống kitô hữu (xem Mane nobiscum số 17). Vì lẽ đó mà Đức thánh cha mời gọi các chủ chăn hãy lưu tâm tới huấn giáo dẫn vào mầu nhiệm (mystagogie), điều mà các thánh giáo phụ rất ưa thích. Giúp cho giáo dân hiểu được ý nghĩa của các dấu chỉ và lời đọc, và từ các dấu chỉ có thể đi vào mầu nhiệm, làm cho cuộc sống bám rễ sâu trong mầu nhiệm. Đức thánh cha yêu cầu học hỏi quy chế tổng quát của sách lễ Roma, để việc cử hành được nghiêm túc và sốt sắng. (x.số 17)

Nhưng có người nhấn mạnh vai trò của Thánh Lễ một cách lệch lạc, loại trừ mọi hình thức tôn thờ và sùng kính khác. Tại một số nhà thờ bên Tây Phương ngày nay, chỗ để Mình Thánh dành cho việc thờ phượng bị giảm thiểu tối đa, rất khó nhìn thấy, làm cho không còn bầu khí linh thiêng nữa. Thánh Lễ kéo dài nửa tiếng đồng hồ hay hơn một chút, không còn tạo được bầu khí của một cảnh vực thần linh cần thiết cho những người muốn tôn thờ Chúa cách xứng đáng. Thời gian và không gian bị giảm thiểu, Thánh Lễ trong thực tế đã trở thành một hòn đảo nhỏ trong thời gian cả một ngày, một tuần, thời gian bận rộn với công việc và nhiều thứ khác. Muốn nhìn vấn đề cách thật đúng đắn, đừng xem việc thờ phượng Thánh Thể ngoài giờ lễ cạnh tranh với Thánh Lễ, làm cho Thánh Lễ không còn vai trò trung tâm nữa. Trái lại hãy xem đó như điều kiện, như môi sinh cần thiết. Việc cử hành Thánh Lễ chỉ có thể sốt sắng và mang lại nhiều hoa trái trong một không gian thánh thiện.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã đưa ra một vài suy nghĩ vừa sâu sắc, vừa thực tế, giúp  chúng ta khám phá lại tương quan giữa thờ phượng ngoài thánh lễ và chính Thánh Lễ. Nhờ việc thờ phượng ngoài giờ lễ, chúng ta thấy rõ thêm tương quan giữa chức tư tế thừa tác và chức tư tế cộng đồng được thể hiện trong Thánh Lễ. Hai chức tư tế ấy thấm nhập vào nhau. Tất cả chúng ta, linh mục cũng như tín hữu đều là những người lãnh nhận. Đối diện với Thánh Thể, chỉ có một thái độ đúng, đó là thờ phượng.

Đón Chúa, gặp gỡ Chúa, thờ phượng Chúa là những tâm tình gắn chặt với nhau. Chúng ta tin Chúa, yêu Chúa, ngưỡng mộ Chúa, tôn thờ Chúa. Yêu mến và tôn thờ đi đôi với nhau. Ý thức và tâm tình tôn giáo sâu xa  không thể thiếu một trong hai yếu tố. Lời Chúa trong sách Khải Huyền nhắc lại ý nghĩa sâu xa của lòng yêu mến Thánh Thể: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3:20-20).

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II dạy chúng ta không được bỏ việc tôn thờ Chúa Kitô Thánh Thể. Không nên quá tiết kiệm thời gian gặp gỡ thờ phượng Chúa. Sự mật thiết với Chúa Kitô Thánh Thể là cốt lõi của việc sùng kính bí tích Thánh Thể. Thờ phượng Chúa trong bí tích Thánh Thể là trường đào tạo lương tâm kitô hữu. Chiêm ngắm gương mặt của Chúa Kitô chịu khổ nạn, không còn hình tượng người nữa, ta sẽ nhận ra sự tàn bạo của loài người trong đó có chúng ta. Ta được mời gọi thanh tẩy lương tâm trước khi cải cách xã hội. Chiêm ngắm Chúa Phục Sinh, lòng ta tràn ngập hân hoan, ta sẽ được đầy sinh lực mới.

Thờ phượng Chúa Kitô Thánh Thể còn là một trường học yêu mến tha nhân. Trong bí tích Thánh Thể, chúng ta không dừng lại việc thờ phượng Thiên Chúa: đời sống phượng tự bí tích không chỉ là tôn thờ Thiên Chúa siêu việt, mà là tôn thờ một Thiên Chúa gần gũi, một Thiên Chúa hạ mình, một Thiên Chúa giàu lòng thương xót, một Thiên Chúa cứu độ biến đổi thế giới trong trái tim của con người. Trong sự thờ phượng đó chúng ta cảm nghiệm được hy tế của Chúa Giêsu Kitô, gặp được tình Yêu của Chúa. Chúng ta sẽ thông phần tình yêu của Chúa, chúng ta cùng yêu với Chúa. Không những chúng ta biết yêu thương, mà chúng ta thực sự bắt đầu yêu thương.

Điều tối quan trọng khác mà chúng ta khám phá nhờ việc thờ phượng là sự thiêng thánh của bí tích Thánh Thể. Khuynh hướng  tục hoá mọi sự trong thế giới hôm nay làm cho chúng ta dễ dàng đánh mất cảm thức về sự thiêng thánh. Chúng ta chiêm ngắm và thờ phượng Chúa Kitô trước hết trong thánh lễ. Việc chiêm ngắm và thờ phượng Chúa ngoài Thánh lễ có mục đích kéo dài sự gặp gỡ, sự kết hợp giữa chúng ta với Chúa, giúp chúng ta đào sâu đời sống chiêm niệm cá nhân và cộng đồng. Chúng ta có thể dùng những bản kinh đậm chất kinh thánh, những kinh nghiệm thiêng liêng của các nhà thần bí và dùng cả tràng hạt mân côi, để cùng với Đức Mẹ chiêm ngắm Chúa. (x.số 18)

Thánh lễ vẫn là trọng tâm và điểm quy chiếu cho sự thờ phượng của chúng ta, vì trọng tâm của bí tích Thánh thể là mầu nhiệm Vượt Qua mà chúng ta cử hành trong Thánh lễ, và được mời gọi thông phần, cùng chết với Chúa để cùng sống lại với Người.  

Hiệp thông và Liên đới:

Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em (Ga 15, 4).

Đức thánh cha trích Gioan 15,4 là lời mời gọi của Chúa, đối chiếu với Luca 24,29 là lời nài xin của hai môn đệ Emmau, để làm nổi bật tình thương của Chúa. Nơi bí tích Thánh Thể, hồng ân của Chúa còn lớn hơn ước muốn của chúng ta gấp bội. Chúa không những ở lại với chúng ta, mà còn ở trong chúng ta. Rước Chúa là hiệp thông mật thiết với Chúa, là ở lại trong Chúa như Chúa ở lại trong chúng ta. Hạnh phúc của Nước Trời đã bắt đầu từ đây. (xem Mane nobiscum số 19) 

Từ ngữ Hiệp Thông:

Sự Hiệp thông với Chúa, chỉ có thể hiểu và sống trọn vẹn trong lòng Giáo hội. Chúng ta nên một với Chúa và nên một với nhau trong Chúa. Hiệp thông Thánh thể làm nên Hiệp thông Giáo hội; Hiệp thông Giáo hội cần thiết cho Hiệp thông Thánh thể. Đức thánh cha lập lại nhiều lần tư tưởng này trong thông điệp Giáo hội sống nhờ Thánh Thể cũng như trong tông thư Mane nobiscum. Trong mầu nhiệm Thánh thể, Chúa Giêsu kiến tạo sự Hiệp thông Giáo hội theo mẫu mực Hiệp thông Ba Ngôi: “để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con” (Ga 17, 21).  (x. Mane nobiscum số 20)

Thượng Hội Đồng giám mục thế giới năm 1980, kỷ niệm 25 năm bế mạc Công Đồng Vatican II, đã coi ý tưởng Hiệp Thông là tư tưởng nồng cốt của Giáo Hội học Công Đồng. Từ ngữ Hiệp Thông hướng chúng ta đến Thánh thể là trọng tâm của Giáo Hội, và nhìn nơi sự tự hiến của Chúa Giêsu nền tảng cho sự gặp gỡ giữa Thiên Chúa và loài người. “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Ki-tô ư? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể.” (1 Coritnô 10, 16 – 17).

Từ ngữ hiệp thông cắm rễ sâu  trong bí tích Thánh Thể, đầu tiên có nghĩa là thông phần Mình và Máu Thánh Chúa. Theo quan niệm do thái, máu chỉ sự sống, nên khi chúng ta hiệp thông với Máu Thánh Chúa, có sự thấm nhập hổ tương giữa sự sống của Chúa và sự sống của chúng ta. Trong mầu nhiệm Thánh Thể, máu còn chỉ sự tự hiến của Chúa Giêsu, cuộc sống tự trao ban vì chúng ta và cho chúng ta. Thông phần với máu của Chúa là được hội nhập vào năng động đời sống của Chúa, của máu Chúa đổ ra, làm cho cuộc sống của chúng ta trở thành cuộc sống tự hiến, sống cho và sống vì tha nhân, giống như hình ảnh trái tim Chúa.

Bánh chỉ sự thông phần thân thể của Chúa Kitô, mà Phaolô so sánh với sự kết hợp giữa người nam và người nữ (1 Cr 6,17). Bánh, thức ăn manna mới mà Thiên Chúa ban cho chúng ta, là Chúa Kitô duy nhất  được ban cho mọi người, Chúa Kitô mà chúng ta nhận lãnh trong bí tích Thánh Thể. Bánh ấy lớn hơn chúng ta, không bị thân xác chúng ta đồng hoá, nhưng làm cho chúng ta nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, trở thành chi thể của Người và nên một với nhau trong Người. Chúng ta ăn cùng một Chúa Kitô, được lôi kéo khỏi cá nhân đóng kín của mình và được đưa vào Đấng Lớn hơn ta. Chúng ta trở thành chi thể của nhau; hiệp thông với Chúa Kitô cũng là hiệp thông với nhau.

Một nền tu đức Hiệp Thông đương nhiên sẽ mang tính xã hội. Khi rước Chúa Kitô, chúng ta hướng cái nhìn về Người, để cho Người biến đổi ta. Nhờ sự kết hợp với Chúa Kitô, ta học cởi mở với mọi người, cởi mở với thế giới. Sự cởi mở ấy không chấm dứt ở nhà thờ, nhưng tiếp tục trong cuộc sống. Sự hiệp thông của cá nhân với Chúa và sự sống hiệp thông của Giáo hội  gắn chặt với nhau. Giáo hội không là kết quả của một liên minh các cộng đồng. Nhưng Giáo Hội sinh ra từ Đấng Chúa Duy Nhất, và từ Người, làm thành một Giáo hội Duy Nhất, một Thân Thể Duy Nhất từ một bánh duy nhất.

Đoạn kinh thánh thứ hai cần lưu ý khi đề cập đến hiệp thông là thư thứ nhất  của thánh Gioan (1 Ga 1,3-7):  “Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Đức Giê-su Ki-tô, Con của Người. Những điều này, chúng tôi viết ra để niềm vui của chúng ta được nên trọn vẹn. Đây là lời loan báo của Đức Giê-su Ki-tô mà chúng tôi đã nghe, và nay chúng tôi loan báo cho anh em: Thiên Chúa là ánh sáng; nơi Người, không có một chút bóng tối nào. Nếu chúng ta nói là chúng ta hiệp thông với Người mà lại đi trong bóng tối, thì chúng ta nói dối và không hành động theo sự thật. Nhưng nếu chúng ta đi trong ánh sáng cũng như Thiên Chúa hằng ngự trong ánh sáng, thì chúng ta được hiệp thông với nhau, và máu Đức Giê-su, Con của Người, thanh tẩy chúng ta sạch hết mọi tội lỗi.”

Thánh Gioan nói đến ơn được gặp gỡ Ngôi Lời Nhập Thể, mà ngài đã thấy tận mắt, và tay ngài đã đụng chạm đến. Sự gặp gỡ đó đã cho ngài được hiệp thông với Chúa Cha và Con Thiên Chúa là Đức Giêsu Kitô. Sự hiệp thông với Thiên Chúa hằng sống ban cho con người ánh sáng, để nhận ra chân lý và tình yêu. Hiệp thông với Lời Sự Sống làm nên một đời sống tốt, làm cho cuộc sống trở thành tình yêu và sự hiệp thông với nhau. Ở đây Gioan và Phaolô gặp nhau: hiệp thông với Chúa Giêsu trở thành hiệp thông với Thiên Chúa, Đấng là ánh sáng và tình yêu, và hiệp thông với nhau trong tình yêu và chân lý.

Hình ảnh lý tưởng của Hiệp thông Giáo hội trong sách Công vụ các tông đồ là Cộng Đồng Giáo hội sơ khai họp lại chung quanh các Tông đồ, được quy tụ bởi Lời Chúa, sẵn sàng chia sẻ những của ăn tinh thần và của cải vật chất (Cv 2, 42- 47):  “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng”.

Từ ngữ liên đới :

Từ ngữ liên đới không có trong các sách tin mừng, nhưng xuất hiện trong các phong trào xã hội, nối dài từ ngữ bác ái của kitô giáo, mà nội dung được coi như một giải đáp mới, hợp lý và hữu hiệu cho các vấn đề xã hội. Ngày nay mọi người đang chạy theo kinh tế thị trường, và cố gắng sữa chữa những thiếu sót của chủ nghĩa tự do kinh tế bằng một số tư tưởng xã hội kitô giáo. Từ ngữ liên đới do đó trở thành phổ biến, không những trong những môi trường thế tục, mà cả trong những môi trường đạo đức tôn giáo.

Sự khôn ngoan đòi hỏi chúng ta thận trọng, vì động cơ mạnh nhất nơi nhiều người, cá nhân cũng như tổ chức xã hội, vẫn là khuynh hướng nghiêng về lợi nhuận, về thế lực của đồng tiền. Người công giáo nên noi gương Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II công nhận những sai lầm của các kitô hữu trong lịch sử. Nhưng công bằng mà nói, cũng phải đề cập tới sự hy sinh và tinh thần phục vụ của nhiều  kitô hữu đã làm xoa dịu bớt những đau khổ của loài người.

Trong những thập niên vừa qua, nhờ những giáo huấn luân lý của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, từ ngữ liên đới đã được kitô giáo hoá dần dần và được biến đổi sâu sắc, có thể được thêm vào hai từ quan trọng của kitô giáo là tạ ơn và hiệp thông. Trong chiều hướng này, liên đới có nghĩa: những người này chịu trách nhiệm về những người kia, những ai khoẻ mạnh chịu trách nhiệm về những người đau yếu, những ai giàu có chịu trách nhiệm về những người nghèo khổ, những vùng phát triển chịu trách nhiệm về những vùng chậm phát triển.

Ngày hôm nay tiến trình toàn cầu hoá là một xu thế không thể đảo ngược. Nhưng nó có thể thực hiện theo hai chiều hướng: một là hoàn toàn vì lợi nhuận, hai là thật sự vì con người và cho con người. Sự toàn cầu hoá theo chiều hướng tốt đẹp là cơ hội cho mọi người trả lẽ về những người khác, là nơi mà mỗi người mang gánh nặng của người khác. Chỉ có thể làm được điều đó, nếu chúng ta chú trọng đến những giá trị tôn giáo và đạo đức. Những giá trị này phải có chỗ đứng trong những quyết định về kinh tế. Nếu toàn cầu hoá kỷ thuật và kinh tế mà không kèm theo sự khai mở mới về tinh thần  và ý thức về Thiên Chúa là nguồn gốc của mọi trách nhiệm, thì sẽ đưa đến đổ vỡ.

Mục đích của kitô giáo nhằm hợp nhất nhân loại, nhờ một Chúa duy nhất, một Bánh duy nhất làm cho chúng ta trở nên một thân thể. Trong khi sự hợp nhất bên ngoài của nhân loại đã là một thực tế không chối cải được, người kitô hữu không thể từ chối trách nhiệm góp phần cho thế giới xoay chiều theo hướng tốt.

Bí tích Thánh Thể là nguồn gốc và là dự phóng cho sứ vụ của người kitô hữu. Việc gặp gỡ Chúa Kitô trong bí tích Thánh thể thúc bách các kitô hữu dấn thân loan báo Tin mừng Cứu độ: “Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết” (1 Cr 11,26). (xem Mane nobiscum số 24-25)

Đời sống thánh thể là một cách thức hiện hữu được chuyển từ Chúa Kitô sang cho người kitô hữu, và nhờ chứng tá của họ, được lan toả trong văn hoá xã hội. Để có thể thực hiện điều đó, người tín hữu phải dần dần hấp thụ những giá trị mà bí tích Thánh thể diễn tả, những thái độ mà Thánh thể khơi gợi, những quyết tâm mà Thánh thể làm nảy sinh. Ba từ ngữ quan trọng trong dự phóng Thánh thể cần chuyển từ Chúa Giêsu sang cho người kitô hữu là xin vâng, cảm ơnamen. Đưa dự phóng Thánh thể vào cuộc sống thường ngày là làm chứng rằng thực tại con người sẽ vô nghĩa nếu không quy chiếu về Đấng Tạo Hoá. (x.ib. số 25-26)

Đức Cha Phaolô BÙI VĂN ĐỌC

CHÚA Ở GẦN TA

TRONG BÍ TÍCH THÁNH THỂ

            

Sự hiện diện thực của Chúa Kitô trong bí tích Thánh Thể 

Chúa Giêsu nói: “Tôi là bánh trường sinh. Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết. Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.”Người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói : “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” Đức Giê-su nói với họ: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.” Đó là những điều Đức Giê-su đã nói khi giảng dạy trong hội đường, ở Ca-phác-na-um. ( Ga 6:48-59 ) 

Thiên Chúa gần gũi ta trong mầu nhiệm Thánh Thể :         

Trong bài giảng lễ Mình Máu Thánh Chúa, thánh Tôma Aquinô đã dựa vào một câu của sách Đệ nhị luật diễn tả niềm vui của Israel vì được Thiên Chúa tuyển chọn, được giao ước với Thiên Chúa: “Phải, có dân tộc vĩ đại nào được thần minh ở gần, như ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng ta, ở gần chúng ta, mỗi khi chúng ta kêu cầu Người? (  Đnl 4, 7 )

Thánh Tôma sung sướng nhận ra rằng câu nói ấy của sách Đệ nhị luật đã được thể hiện cách trọn vẹn và lạ lùng cho Giáo Hội  là Israel mới. So sánh với việc  Thiên Chúa trong Cựu Ước  đã hạ mình ngỏ lời với Dân Israel qua ông Môsê và đã tỏ ra gần gũi với Dân, giờ đây chính Thiên Chúa đã trở thành xác phàm, đã làm người để ở giữa loài người. Người gần chúng ta đến mức ở trên bàn tay của ta, ở trong trái tim của ta nơi mầu nhiệm Mình Máu Thánh. Thánh Tôma vui mừng vì giờ đây mới thực sự có một Dân Thiên Chúa, Dân sống bằng sự sống của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã đến gần đến mứùc độ không thể gần hơn được nữa. 

Gần gũi đến mức trở thành cớ vấp phạm: 

Điều đáng lẽ ra là nguồn gốc của niềm vui, lại là viên đá vấp ngã, là nguyên do của khủng hoảng. Theo đoạn Tin mừng Gioan vừa trích dẫn, điều đó đã xảy ra từ khi Chúa Giêsu đề cập đến mầu nhiệm Thánh Thể. Có nhiều người đã xầm xì phản đối. Thái độ khó chịu ấy vẫn tiếp diễn trong lịch sử Giáo Hội, cho đến ngày hôm nay vẫn còn làm cho Giáo Hội bị tổn thương trầm trọng. Người ta khó chịu vì không muốn có một Thiên Chúa ở gần như thế, không muốn một Thiên Chúa nhỏ bé như thế, một Thiên Chúa hạ mình thấp hèn như thế! Nhiều người muốn có một Thiên Chúa vĩ đại, một Thiên Chúa ở xa.

Và nhiều người đã cố gắng minh chứng một sự gần gũi như thế giữa Thiên Chúa với con người là không thể được. Người thì dựa vào Kinh Thánh, người khác dựa vào triết học, người khác nữa dựa vào khoa học.

Dựa vào Kinh thánh, lời Chúa Giêsu nói  Này là Mình thầy, Này là Máu Thầy có ý nghĩa gì? Phải chăng là một sự hiện diện thể lý? Hay lời đó của Chúa chỉ có ý nghĩa tượng trưng: Bánh và rượu này là dấu chỉ  Mình và Máu Thầy? Câu trả lời của Sách Thánh thật là rõ, và không còn có thể rõ hơn được nữa: “nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình…vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống”.  ( Ga 6, 53. 55 )

          Khi có nhiều người do thái xầm xì phản đối, Chúa đã không giải thích  hay điều chỉnh lại  cho họ dễ chấp nhận hay trấn an họ: thịt tôi giống như của ăn, máu tôi giống như của uống. Nhưng Chúa còn khẳng định mạnh mẽ hơn: thịt tôi thật là của ăn, máu tôi thật là của uống. Tin vào mầu nhiệm Nhập Thể là tin Thiên Chúa có thể xác. Và đây là đức tin chân thật, đức tin tròn đầy. Chúa đến với ta trong thân xác, Chúa hiện diện với ta bằng thân xác. Thánh Phaolô đã so sánh sự hiệp thông thánh thể với sự kết hợp giữa người nam và người nữ: “Thật thế, có lời chép rằng cả hai sẽ thành một xương một thịt. Ai đã kết hợp với Chúa, thì nên một tinh thần với Người”. ( 1 Cr 6, 16 – 17 )

          Sự hiện diện thực của Chúa là một quyền năng chiếm hữu chúng ta, lôi cuốn chúng ta vào trong Người. Thánh Agostino, dù chịu ảnh hưởng khá nặng nề của thuyết tân Platon coi thường thân xác, thú nhận mình đã nghe một tiếng nói trong một dịp thị kiến : “Tôi là lương thực của những người trưởng thành; anh  lớn lên và ăn tôi, mà không biến đổi tôi trở nên thịt của anh, trái lại anh sẽ được biến đổi thành tôi.” ( Agostino, Confessiones VII, 10, 16 ). Chúa mới là trọng tâm, không phải chúng ta, khi chúng ta ăn Chúa, rước Chúa, chính Chúa thu hút chúng ta, làm cho chúng ta ra khỏi chính mình và đồng hoá với Chúa, nên một với Người, và nhờ Người mà nên một với nhau. 

Ý nghĩa  sự hiện diện thực của Chúa trong thân xác Phục Sinh: 

Điều khó hiểu  là làm thế nào một thân xác có thể hiện diện trong nhiều bánh thánh khác nhau, mà vẫn là thân xác ấy, bất kể thời gian hay nơi chốn? Khó hiểu vì tất cả chúng ta  đang sống trong thế giới  của sự chết, còn Chúa thì đã Phục Sinh, nên thế giới của Người là thế giới Phục Sinh. Chúng ta có thể cố gắng ra khỏi chính mình, hướng tâm trí chúng ta đến thế giới của sự Phục Sinh, nhưng thế giới ấy vẫn khác với thế giới chúng ta, là thực tại mà chúng ta không nắm bắt được. Thế giới ấy ở bên kia sự chết. Chúng ta chỉ có thể đến gần trong đức tin, vì Chúa từ thế giới Phục Sinh ấy đến đón chúng ta.

Chúng ta cố gắng suy nghĩ dựa vào ngôn ngữ của kinh thánh. Theo ngôn ngữ của kinh thánh, thân xác không chỉ là phần vật chất đối ngược với phần tinh thần, mà là cả con người, là một toàn thể tinh thần và thể xác không tách rời. Khi Chúa Giêsu nói “Ceci est mon corps”, có nghĩa là đây là tất cả con người của tôi hiện diện trong thân xác của tôi (Này là Mình thầy hiến tế vì anh em).  Đối với mỗi người chúng ta, thân xác vừa là một giới hạn, vừa là một nhịp cầu.

Thân xác giới hạn và phân cách. Thân xác tôi không thể cùng một lúc ở nhiều nơi. Nơi nào thân xác tôi chiếm hữu, không có chỗ cho một thân xác khác. Thân xác phân cách người này với người kia, làm cho người này ở ngoài người kia. Thân xác che đậy cái bên trong của tha nhân và của chính mình. Tôi không thể nào nhìn được nội tâm của người khác, và ngay cả chính nội tâm của tôi. Nhưng thân xác còn là một nhịp cầu. Nhờ thân xác mà chúng ta có thể gặp gỡ nhau và tiếp xúc với ngoại giới. Nhờ thân xác mà chúng ta có thể thấy nhau, nhìn nhau, xích lại gần nhau, đối thoại với nhau, biết nhau. Thân xác cho ta biết tha nhân là ai và là gì. Thân xác của tôi làm cho tha nhân có thể thiết lập tương quan với tôi.

Vì thân xác có hai mặt đối ngược, vừa phân cách vừa hiệp thông, tôi có thể sống trong thân xác theo hai phương hướng khác nhau. Cách sống ích kỷ phân cách tôi khỏi những người khác, làm cho tôi xa lạ với người khác, không thể gặp gỡ hay thông cảm với người khác. Tôi cô lập tôi ở trong thân xác. Nhưng tôi có thể có một cách sống hoàn toàn khác, đó là cách sống yêu thương, cởi mở hướng về tha nhân, bấy giờ thân xác không cô lập tôi, nhưng lại là nhịp cầu cho tôi. Tôi sống trong một thế giới mở, và con người tôi không ngừng được giải thoát để gặp gỡ tha nhân và tự hiến cho tha nhân .

Trong thế giới Phục Sinh, vì đã vượt qua thế gian, khía cạnh giới hạn hay phân cách của thân xác không còn nữa, chỉ còn lại khía cạnh gặp gỡhiệp thông. Đức Kitô Phục Sinh trong thân xác không còn bị giới hạn nào phân cách nữa, nhưng có thể tự hiến trọn vẹn, cởi mở  trọn vẹn. Chính vì lý do đó mà trong diễn từ Bánh Sự Sống của Tin mừng Gioan, Chúa  nối kết bí tích Thánh Thể với sự Phục Sinh. Rước Chúa là hiệp thông với Người và nhờ Người vượt qua mọi giới hạn, bước vào thế giới mở rộng cùng với Người, nhờ đó có khả thể Phục Sinh ( Ga 6, 54 ).

Rước lễ không chỉ là rước một miếng bánh, một miếng thân thể của Chúa, mà là chính Chúa, Đấng Phục Sinh, Đấng tự hiến cho chúng ta trên thập giá. Rước lễ không chỉ là một nghi thức. Rước lễ vừa là hiệp thông bí tích, vừa là hiệp thông thiêng liêng. Chúng ta tiếp xúc với một ngôi vị, gặp gỡ một ngôi vị. Chúng ta gặp gỡ Chúa, đón tiếp Chúa, gần gũi Chúa, gắn bó và nên một với Chúa. Chúa là Thiên Chúa và là con người, nên rước lễ không những là đón tiếp, là gặp gỡ, là yêu thương, mà còn là thờ lạy.  

Phaolô BÙI VĂN ĐỌC

Giám Mục Giáo phận MỸ THO 

 

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: