Sống Mầu Nhiệm Thập Giá Trong Cuộc Lữ Hành Đức Tin

  Thập Giá, nỗi kinh hoàng!??

Một giáo sư vô thần tên là Lucifer được ông cho ngồi bên cạnh một tu sĩ tên là Michel trên một chuyến máy bay xuyên qua Anh quốc.

Khi máy bay đi qua London, giáo sư Lucifer bỗng nhìn thấy thập giá trên tháp chuông nhà thờ chánh tòa. Không tự chế được, ông đã thốt lên lời sỉ vả đối với Kitô Giáo.

Vị tu sĩ mới xin phép kể câu chuyện như sau: “Tôi cũng biết có một người thù ghét thập giá như ông. Bất cứ nơi nào có thập giá, ông ta cũng tìm đủ mọi cách để triệt hạ cho bằng được. Bao nhiêu tác phẩm nghệ thuật có hình thập giá ông đều xé nát. Ngay cả chiếc thập giá bằng vàng trên cổ người vợ, ông cũng tìm cách giành giật để kéo ra khỏi người bà. Ông nói rằng thập giá là một biểu trưng của sự độc ác dã man, hoàn toàn đối nghịch với niềm vui, với cuộc sống.

Ngày nọ, không còn chịu đựng nổi hình thù của thập giá nữa, ông đã leo lên tháp chuông nhà thờ của giáo xứ, tháo gỡ thập giá và ném xuống đất. Sự thù hận đối với thập giá không mấy chốc đã biến ông thành điên loạn… Một buổi chiều mùa hè nóng bức nọ, ông đứng tựa vào một balcon gỗ, miệng phì phà khói thuốc.

Bỗng chốc, ông thấy nguyên chiếc balcon gỗ biến thành một đạo binh thánh giá. Rồi trước mặt, đằng sau lưng ông, nơi nào cũng có thập giá. Hoa cả mắt lên, ông cầm chiếc gậy trên tay để đánh đổ tát cả những cây thập giá. Vào trong nhà, bất cứ những gì làm bằng gỗ cũng được ông nhìn thấy với hình thù của thập giá. Không còn dùng gậy để đạp đổ nữa, người đàn ông đành phải dùng đến lửa để tiêu diệt. Ngọn lửa bốc cháy thiêu chụi căn nhà. Ngày hôm sau, người ta tìm thấy xác của người đàn ông đáng thương trong dòng sông bên cạnh nhà. (nhà văn Gibert Keith Chesterton, tiểu thuyết: Bầu trời và thập giá).

Câu kết luận mà văn sĩ đã đặt trên môi miệng vị tu sĩ là: “Nếu bạn bắt đầu bẻ gãy thập giá, bạn sẽ không chóng thì chày phá hủy chính cái thế giới có thể sống được này”. Với cái chết của Đức Kitô, thập giá trở thành biểu trưng của một sự chiến thắng: đó là chiến thắng của Tình yêu trên hận thù.

Trong cuộc chiến khốc liệt nhất, vua Constantin trong giấc mơ, ông đã thấy lá cờ thập giá bay phất phới, với hàng chữ: Crux, spes unica, thánh giá là niềm hy vọng duy nhất. Tâm hồn ông lóe lên niềm hy vọng chiến thắng quân thù, và quả thực ông đã chiến thắng trong cuộc chiến lẫy lừng đó. Ông đã tin Chúa, hoàng hậu Helene thân mẫu của vua, cũng đã tin và bà đã có công tìm thấy Thánh Giá thực của Chúa.

 

I. HUYỀN NHIỆM THẬP GIÁ  VỚI CÁI NHÌN CỦA THÁNH PHAOLÔ

1. Thập Giá là đỉnh cao của nhiệm cục Cứu Độ

Quỹ đạo của tình yêu được khởi đi từ: Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi ban chính Con Một của Người. Ai tin vào Người… được sống muôn đời (Ga 3,16).

Đến việc: Đức Kitô yêu thương chúng ta và vì chúng ta đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt (Ep 5,2) .

Thánh Phaolô đã bị quật ngã trên đường truy nã những người tin vào Chúa Kitô ở Đa-mát. Chính trong tình huống đặc biệt đó, thánh nhân đã gặp Đức Kitô Phục sinh, nhưng sau đó khám phá ra rằng, Đức Kitô Phục sinh chính là Đấng đã chịu đóng treo trên thập giá. Đối với Phaolô, thập giá và phục sinh là hai biến cố không thể tách lìa. Nếu Thập giá là sức mạnh của Thiên Chúa bởi vì nó mang trong mình quyền năng của Đấng Phục sinh.

Chính Chúa đã xác định: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi sự lên với tôi” (Ga 12,32).

Ơn cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện nhờ Đức Kitô và Đức Kitô chịu đóng đinh. Đức Kitô chịu đóng đinh là cách thể hiện tình yêu của Ngôi Hai Thiên Chúa. “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng sống vì bạn hữu mình” (Ga 15,13). Thánh Phaolô đã nhắc nhở các tín hữu: Anh em đã được chuộc lại bằng một giá rất đắt là chính bửu huyết của Đức Giêsu Kitô (x. Ep 1,7).

Thập giá là điều thế gian từ rẫy và khinh thị, là điều mà bản tính nhân loại ghê tởm và lý trí con người không thể chấp nhận. Thậm chí thế gian còn khủng bố, bách hại những ai yêu mến Thập Giá. Trong bối cảnh đó, Phaolô không ngừng lên tiếng để khẳng định rằng: Thập giá là sự can thiệp quyền năng của Thiên Chúa vào trong thế giới để cứu độ con người. Do đó, thập giá là phương thế duy nhất đem lại ân sủng cho con người và giải phóng con người khỏi tội.

Với một sự xác tín sâu xa về vai trò trung tâm của Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Phaolô muốn sự xác tín sâu xa về vai trò trung tâm của Đức Giêsu chịu đóng đinh, Phaolô tuyên bố: “Tôi không muốn biết điều gì giữa anh em, ngoại trừ Đức Kitô và Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh” (1Cr 2,2).

 

2. Cách biểu lộ tình yêu điên rồ

Phaolô muốn nhấn mạnh rằng Đức Giêsu mà Ngài biết đến không phải một Đức Giêsu người ta tô vẽ theo ý mình, nhưng là Đức Giêsu chịu đóng đinh. Nhưng việc rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh, trong thế giới ngoại đạo là một điều gây “sốc”, như chính Ngài xác nhận: “chúng tôi rao giảng một Đức Kitô chịu đóng đinh, một cớ vấp phạm cho người Do Thái, một sự điên rồ đối với dân ngoại” (1 Cr 23).

Sách Diễm tình ca đã mô tả “Tình yêu mạnh hơn sự chết” (Dc 8,6). Tin Mừng thánh Gioan ghi lại: “Ngài đã yêu họ đến cùng” (Ga 13,1).

Từ thời thánh Phaolô cho đến ngày nay, lời này vẫn còn đúng, ai muốn theo Đức Kitô phải chấp nhận là điên dại, tức là phải chịu thập giá. Chính Đức Kitô cũng không khác gì, bị coi là mất trí (x. Mc 3,20-21), quá khích, phiến loạn, nguy hiểm… Chúa chịu vu khống của người Do Thái, lời mỉa mai của Hêrôđê.

Chúng ta là người tin theo Chúa, chúng ta là những người đại diện của Đức Kitô, nhưng chính cái điên dại ấy là sự khôn ngoan. Đúng thế, thế gian tự cho mình là khôn, là khéo, thực ra thế gian điên và không hiểu được cái khôn của Chúa.

Thử hỏi rằng là người theo Chúa, chúng ta có khi nào dám chấp nhận cái điên dại đó chưa? Cái điên dại của thập giá, cái say mê cao thượng đó có đủ năng lực quyến rũ tâm hồn chúng ta không? Nhìn lại lịch sử Giáo Hội, đã có biết bao nhiêu người làm chứng nhân cho cái điên dại ấy. Và ngày nay, vẫn còn nhiều người đang ngày đêm sống dấn thân hoàn toàn để phục vụ mà không ngại vất vả, gian lao. Thánh Têrêsa Avila đã có lần xin với Chúa: Một là cho con chết, hai là cho con được chịu đau khổ.

Tuy thế thánh Phaolô rao giảng thập giá của Đức Kitô đã gặp phải chống đối từ phía dân ngoại, cả nơi những tín hữu tân tòng “có nhiều người sống nghịch với thập giá Đức Kitô” (Pl 3,18).

Phaolô cho họ thấy có một sự đối nghịch căn bản, một sự bất hoà hợp sâu xa giữa sự khôn ngoan thế gian và sứ điệp Thập giá. Nếu mầu nhiệm thâïp giá đáp ứng, phù hợp với sự khôn ngoan thế gian thì sứ điệp của Thiên Chúa không có tính cách siêu phàm và do đó cũng không đem đến sự cứu độ, mầu nhiệm thập giá chính là quyền năng.

Quyền năng Thiên Chúa được tỏ hiện trong sự yếu đuối của con người. Thập giá là sự điên rồ đối với dân ngoại, cớ vấp phạm đối với người Do Thái, nhưng là sự khôn ngoan của Thiên Chúa (1 Cr1, 18-25; 2,1-2).

“Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài Thập Giá Đức Giêsu Kitô, Chúa Chúng ta ! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá với tôi và đối với Thế Gian”(Gl 6,14)

Cái chết của Đức Kitô tức ân sủng cứu độ được mặc khải qua sự vấp phạm của Thập giá, nếu muốn tránh sự vấp phạm của Thập Giá, thì càng không lãnh nhận được ân sủng.

 

 II. TRỞ NÊN ĐỒNG HÌNH ĐỒNG DẠNG VỚI NGƯỜI

1. Theo quy luật tình yêu của Đức Kitô

Tại sao Kitô hữu phải chịu đau khổ? Giáo hội tiên khởi quan niệm đau khổ như điều kiện tắt yếu để vào nước trời: “Chúng ta phải chịu nhiều nỗi đau khổ mới vào được nước thiên Chúa” (Cv 14, 21).

Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ý Người định. Vì những ai Người đã biết từ trước, thì Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc. Những ai Thiên Chúa đã tiền định, thì Người cũng kêu gọi; những ai Người đã kêu gọi, thì Người cũng làm cho nên công chính; những ai Người đã làm cho nên công chính, thì Người cũng cho hưởng phúc vinh quang. (Rm 8,28-30)

Đây là lời đáng tin cậy: Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người. Nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển trị với Người. Nếu ta chối bỏ Người, Người cũng sẽ chối bỏ ta. (2Tm 2,11-12)

Kế đến, còn có một sự cần thiết nội tại là sự hiệp thông sâu xa giữa người môn đệ và Đấng đã chịu đóng đau khổ. Môn đệ muốn chia sẻ sự đau khổ của Đấng Thiên sai trên trần gian. Phaolô dùng diễn ngữ “Trong Đức Kitô Giêsu” để diễn tả Đức Giêsu như Đấng trung gian của ý muốn Thiên Chúa và là Thầy của tất cả những ai tuân phục ý muốn ấy. “Anh em hãy làm như vậy, đó là điều thiên Chúa muốn trong Đức Giêsu.” (1 Tx 5, 18).

Như vậy sự đau khổ không ra vô ích, bởi lẽ Kitô hữu chịu đau khổ “Vì Chúa Kitô”. Chịu đau khổ vì Chúa Kitô là một ân huệ (Pl 1,29). Ân huệ được thông phần vào mầu nhiệm cứu chuộc của Đấng chịu đau khổ và đã chết cho chúng ta (x Rm 5,6,8,10; 1 Cr 15,3).

 2. Cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô

Phaolô chia sẻ kinh nghiệm bản thân là được kết hợp với đau khổ của Chúa Kitô, qua những gian truân vất vả vì công việc truyền giáo. Những đau khổ ấy không còn là một công việc riêng tư của Phaolô mà được Phaolô coi như một cách để được đồng hoá với Chúa Giêsu hay “cùng chịu đóng đinh với Chúa Giêsu”.

Định nghĩa tốt nhất về hiện hữu Kitô giáo: thông hiệp vào mầu nhiệm thập giá của Chúa Kitô. Đọc thư thứ hai gửi Côrintô, ngài đã liệt kê tất cả những thử thách gian truân ngài đã chịu: “Tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ trong thân mình chúng tôi” (2Cr 4,10).

Ngay từ khi trở về với Chúa Kitô, Phaolô được Chúa cho biết: Ngài phải chịu đau khổ nhiều vì danh. “Chính Ta sẽ cho người ấy thấy tất cả những đau khổ người ấy phải chịu vì Danh Ta” (Cv 9,16). 

Đó chính là dấu chỉ thuộc về Đức Kitô và chịu đau khổ vì Người: Tôi cùng chị đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, tôi sống nhưng không phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi… (Gl 2,20)

 “Những ai thuộc về Đức Kitô Giêsu thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê.” (Gl 5, 24)

Thánh Phaolô còn tự hào khi mang trong mình Thập giá. Phaolô cảm thấy hạnh phục khi chịu đóng đinh với Chúa Giêsu vào thập giá, vì đó là bằng chứng tình yêu đối với Chúa Giêsu, cũng như thánh giá là bằng chứng tình yêu của Chúa Kitô đối với mỗi người chúng ta. (2Cr 7,14)

“Giờ đây tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em, những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lại lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh. Chính vì mục đích ấy mà tôi phải vất vả chiến đấu, nhờ sức lực của Người hoạt động mạnh mẽ trong tôi.” (Cl 1,24-29) 

 

III. SỐNG MẦU NHIỆM THẬP GIÁ TRONG LINH ĐẠO TỰ HIẾN

1. Suy chiêm Thập giá

– Bức họa thánh Đa Minh dưới chân Thánh Giá của nhà danh họa Fra Angelico, OP. Bức họa có sức hút lạ thường vì về chiêm niệm mầu nhiệm khổ giá. Đôi mắt đăm chiêu trên khuôn mặt thánh thiện của ngài ngước nhìn lên cuộc khổ nạn của Chúa Kitô “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đâm thâu” (Ga 19,37).

Điều đó chứng tỏ thánh nhân vẫn hằng suy niệm cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, đó cũng là nội lực của ngài để can đảm dấn thân giữa sào huyệt lạc giáo vẫn hằng đe dọa mạng sống của ngài. Ngài can đảm nói với tên sát nhân: Nếu có hạ sát tôi thì xin đừng đâm một nhát nhưng hãy phân ra nhiều mảnh và để tôi dở sống dở chết… để tôi chia sẻ nỗi khổ đau của Chúa Kitô trên Thánh Giá. “Vì cũng như chúng ta được chia sẻ muôn vàn nỗi khổ đau của Đức Kitô thì nhờ Người, chúng ta cũng được chứa chan niềm an ủi” (2Cr 1,5).

– Thánh Catarina Siena, người được diễm phúc mang dấu tích của Chúa Giêsu trên thân mình. “Chúng tôi luôn mang trên mình cuộc thương khó của Chúa Giêsu” (2Cr 4,10).

– Thánh Martin de Porres hằng ngày suy niệm cuộc khổ giá. Sự suy chiêm đã khiến thân xác thầy bay bổng, hôn lên chính nơi thương tích của Chúa trên thập giá.

– Tôi học mọi sự dưới chân thánh giá, đó là thú nhận của tôn sư Toma Aquino.

2. Tiến tới sự trưởng thành tâm linh

Trong bầu khí thánh thiện của mùa Chay, với tình yêu hy hiến của Chúa Kitô, mỗi người chúng ta phải dám nói: “Tình yêu Chúa Kitô thúc bách tôi… Đức Kitô đã chết thay cho mọi người để những ai đang sống, không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình” (2Cr 5,13.15).

Niềm tin phát sinh từ cảm nghiệm sống động về Đấng đã chết cho tình yêu nhân loại, người tu sẽ dần dần khám phá, cảm nghiệm tình yêu Chúa ngay trong bản thân mình. Cảm nghiệm này càng sâu xa và mạnh mẽ thì niềm tin càng kiên cường. Chính vì vậy, cảm nghiệm được Chúa yêu thương trở thành yếu tố quyết định của sức mạnh tâm linh. Ngược lại, niềm tin èo uột là dấu chỉ của một đời sống tâm linh nghèo nàn, hời hợt.

Người có đời sống tâm linh phong phú là người có khả năng tiếp xúc thân mật với Chúa, nghe tiếng Ngài, và quảng đại đáp lại lời mời gọi của Ngài.

Suy chiêm mầu nhiệm thương khó Chúa và cầu nguyện với Đức Kitô chịu đóng đinh dần dần sẽ dẫn mình đến thái độ đáp trả cách quảng đại, hy sinh và chia sẻ cho người khác. Với Đức Kitô, trong Đức Kitô và nhờ Đức Kitô, ta tín nhiệm và phó thác đời ta cho Ngài. Một khi đã đặt trọn niềm tin nơi Đức Kitô và chấp nhận làm tất cả những gì Ngài muốn, người tu sẽ tỏ ra can đảm hơn và thanh thản trước các biến cố của cuộc đời.

Đây là con người đặt tất cả định mệnh đời mình trong bàn tay nhân ái của Chúa: bước đi trên con đường cứu độ của Đức Kitô, đi vào trong kinh nghiệm của Ngài, chia sẻ những thao thức của Ngài, hăm hở vì sứ vụ như Ngài và sẵn sàng vác thập giá với Ngài.

3. Can đảm đón nhận các thách đố của đời tu

Thánh Inhaxiô Antiôkhia chỉ có một nỗi lo sợ, sợ giáo đoàn Rôma đút lót chính quyền làm mình mất phúc tử đạo… “Tôi đang khao khát được thuộc về Thiên Chúa”.

Giống như người tử đạo:

– Người tu sĩ coi tình yêu đối với Thiên Chúa là tối thượng.

– Tương đối hóa mọi sự kể cả những gì thế gian coi là quý báu.

– Noi gương cuộc khổ nạn của Chúa Kitô để tế lễ mình cho Thiên Chúa.

– 5 bông hồng trong đời tu được dâng lên Chúa cùng với các gai góc của nó: 3 lời khuyên Phúc Âm, đời sống cộng đoàn và thi hành sứ vụ.

Trong hoàn cảnh khó khăn nhất của đất nước, Giáo Hội Việt Nam đã có những thuận lợi cho việc làm chứng về những giá trị của Tin Mừng. Trong nỗi vất vả lao nhọc, chúng ta dễ dàng làm chứng tá cho sự nghèo khó của Đức Kitô, gần gũi với quần chúng hơn… Ở trong điều kiện thiếu tiện nghi, chia sẻ cuộc sống bấp bênh của những người nghèo.

Ngày nay, làm chứng trong xã hội với đầy đủ tiện nghi, chúng ta lại gặp những thử thách khác: dễ bị lôi cuốn vào đời sống xa hoa và hưởng thụ. Đời tu cần phải thể hiện nét tích cực: hy sinh, tận tụy, dấn thân và phục vụ những người nghèo, dấn thân nơi vùng sâu vùng xa.

“Và lúc cuộc đời xế chiều đối với phần đông tu sĩ việc tông đồ biến thành sứ mạng cầu nguyện và đau khổ” (Huấn thị Những yếu tố nền tảng của đời tu, II, 26). 

Tạm kết: Hiệp thông với Đức Kitô trong mầu nhiệm Thập Giá

“Còn tôi, tôi sắp phải đổ máu ra làm lễ tế, đã đến giờ tôi phải ra đi. Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã đi hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin” (2Tm 4,6-7)

Hiệp thông với những đau khổ của Chúa Kitô, qua gương thánh Phaolô, chúng ta tin tưởng và phó thác vào Chúa, sống kết hiệp với Thiên Chúa.

Người tu sĩ với niềm tin để có thể chập nhận những thập giá, sống yêu mến và hy sinh, và can đảm khước từ những chi tiêu xa xỉ, lối sống hưởng thụ dễ làm mồi cho những đòi hỏi của dục vọng. Đó chính là luật hy sinh, là “Tiếng nói của Thập Giá”, tiếng nói của xác tín:

Ngài có đó khi con tưởng mình đơn côi,

Ngài nghe con khi chẳng ai đáp lời

Sống niềm tin nơi Chúa, chắc chắn rằng ơn Chúa ban cho chúng ta để chúng ta có đủ can đảm và nghị lực để vác lấy những khổ đau. Nhất là hãy tin tưởng vào ơn Chúa ở cùng chúng ta.

Nhờ đó chúng ta sẽ biến những đau khổ thành niềm vui, thành đuốc sáng chiếu tỏa vào cuộc sống hầu làm chứng cho Chúa giữa lòng nhân thế.

Lm Đa minh Đinh Viết Tiên, OP

 

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: