Dạy Giáo Lý là Dạy những gì Chúa đã dạy chúng ta

Lời dịch giả: Thư gửi tín hữu Do Thái viết “Thuở xưa, Thiên Chúa đã phán cùng cha ông chúng ta qua các ngôn sứ bằng nhiều phần và bằng nhiều cách; nhưng vào những ngày sau hết này, Ngài đã phán cùng chúng ta qua Con của Ngài, là Ðấng mà Ngài đã cho thừa tự tất cả mọi sự, và cũng nhờ Người mà Ngài đã tạo dựng thế gian.” (DT 1:1-2). Thiên Chúa kiên nhẫn dùng một thời gian lâu dài để sửa soạn cho con người đón nhận Mặc Khải trọn vẹn của Ngài nơi Đức Kitô. Ngài dùng một phương pháp sư phạm tiệm tiến để đưa con người từ mê muội đến hiểu biết những mầu nhiệm thần linh. Việc đào luyện Đức Tin của một người là một tiến trình liên tục không ngừng từ khi lọt lòng mẹ cho đến khi trở về lòng đất. Phương pháp dạy Giáo Lý cũng phải là một phương pháp tiệm tiến. Đặc biệt là khi dạy Giáo Lý các Giáo Lý viên chỉ dạy những gì Chúa đã dạy chúng ta và chú trọng đến phương pháp Chúa đã dùng mà dạy chúng ta.

Truyền Giáo và Dạy Giáo Lý

Vì yêu, Thiên Chúa Ba Ngôi đã tạo dựng nên loài người với ý định mời gọi họ trở nên con cái Chúa Cha qua Đức Kitô, Con của Ngài, trong Chúa Thánh Thần. Loài người là đối tượng đặc biệt của tình yêu Thiên Chúa và ngay từ đầu đã được tạo dựng với một ơn gọi siêu nhiên là chia sẻ sự sống nội tại của Thiên Chúa, để hiệp thông với Chúa Ba Ngôi (x. Eph 1:33tt; Col 1:15tt; Gal 4:4tt; 1 Ga 4:7tt, cũng xem Gaudium et Spes, số 22). Trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, Hội Thánh là mầu nhiệm hiệp nhất và hiệp thông trực tiếp của con người với Thiên Chúa Ba Ngôi được khởi đầu bằng Đức Tin. Nghĩa là Hội Thánh là một sự hiệp thông được cấu trúc cách hữu cơ và được hợp thành bởi việc thông phần vào sự hiệp nhất của Chúa Ba Ngôi, là Đấng ban cho Hội Thánh, như một cộng đoàn, những yếu tố vô hình và hữu hình, và như thế biến Hội Thánh thành “bí tích cứu độ”.

Việc Hội Thánh hiệp thông vào đời sống của Chúa Ba Ngôi được thể hiện qua Bí Tích Thánh Thể, là nơi Đức Kitô hiến Mình cho chúng ta để biến chúng ta thành Thân Thể của Người là Hội Thánh. Chính sự hiệp thông chiều dọc của Hội Thánh với Chúa Ba Ngôi được thể hiện trong Bí Tích Thánh Thể đã tạo nên một sự hiệp thông chiều ngang giữa các phần tử Hội Thánh với nhau. Tự bản chất, Hội Thánh là một sự hiệp thông được tạo thành qua việc tham gia vào đời sống của Chúa Ba Ngôi nhờ Bí Tích Thánh Thể: “Hội Thánh được xây dựng qua sự hiệp thông bí tích với Con Thiên Chúa, là Đấng đã hy sinh vì chúng ta” (ĐTC Gioan Phaolô II, Ecclesia de Eucharistia, số 21).

Bởi vì Hội Thánh được thiết lập trên sự hiệp thông với Con Thiên Chúa, cho nên nguồn gốc và cùng đích của Hội Thánh lệ thuộc vào mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Thực thể này, là việc Hội Thánh là một cộng đồng nhân loại được mời gọi và thật sự được chia sẻ sự hiệp thông của Thiên Chúa Ba Ngôi, được Thiên Chúa trù liệu từ muôn đời. Hội Thánh được báo trước ngay từ khi loài người được tạo dựng, bởi vì ngay từ giây phút đầu tiên của cuộc tạo dựng, loài người đã được mời gọi hiệp thông với Thiên Chúa qua việc được Ngài cho “làm nghĩa tử” (x. Eph 1:3tt; Col 1:15tt; Gal 4:4tt; Ga 4:7tt). Như thế tự bản chất Hội Thánh đã liên can đến việc cứu độ nhân loại, nghĩa là, giúp con người chu toàn ơn gọi siêu nhiên đặc biệt mà họ, như những tạo vật của Thiên Chúa, được mời gọi để hiệp thông với Ba Ngôi. Sự hiệp thông chiều dọc này (với Chúa Ba Ngôi) xảy ra trong và qua sự hiệp thông chiều ngang (với Hội Thánh) mà nó đem lại.

Hành vi Đức Tin, được ân sủng của Thiên Chúa mang đến, đưa con người vào sự hiệp thông với Chúa Ba Ngôi, xảy ra nhờ được nghe Lời Thiên Chúa (x. Rm 10:17). Chính vì lý do này mà Đức Chúa Giêsu Kitô, Đấng được Chúa Cha “sai đến” để hoàn tất chương trình cứu độ của Ngài, đã truyền cho các Tông Đồ là các sứ giả của Người: “Các con hãy đi.. . và làm cho muôn dân thành môn đệ.. . dạy họ tuân giữ tất cả những gì Thầy đã truyền cho các con” (Mt 28:19-20). Qua các Tông Đồ và những đấng kế vị các ngài, nhờ sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu tiếp tục sứ vụ cứu độ của Người trong thời gian cho đến tận cùng trái đất. Mệnh lệnh truyền giáo của Chúa Giêsu liên quan không những đến thừa tác vụ tông đồ mà cả sứ vụ căn bản của Hội Thánh là làm cho muôn dân trở thành môn đệ.

Như thế bản chất của sứ vụ Hội Thánh là Phúc Âm hóa mọi dân tộc. Toàn thể Hội Thánh và những người thi hành mục vụ tông đồ trong cộng đồng Hội Thánh phải làm cho mọi người biết Chân Lý cứu độ, là Lời Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã đến để tỏ bày qua con người và sứ vụ của Người. Việc rao giảng và truyền lại Lời cứu độ của Thiên Chúa được xảy ra qua sứ vụ truyền giáo của Hội Thánh. Ngay từ lịch sử sơ khai của Hội Thánh, từ ngữ được dùng để chỉ toàn thể tiến trình làm (cho muôn dân) thành môn đệ và phổ biến giáo huấn của Lời Chúa được gọi là “dạy Giáo Lý” (Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo [GLCG] số 4-5). “Truyền giáo và dạy Giáo Lý là hai trong những phương tiện chính mà Hội Thánh dùng để truyền lại Đức Tin” (Chỉ Nam Quốc Gia về Dạy Giáo Lý [NDC], [HĐGMHK, 2005], số 15). Trong cả truyền giáo lẫn dạy Giáo Lý, Mặc Khải của Thiên Chúa, là việc Thiên Chúa tự tỏ Mình ra trong lịch sử được đạt đến tột điểm nơi Đức Chúa Giêsu Kitô, giữ địa vị chính yếu. Thực ra, Mặc Khải của Thiên Chúa là Chân Lý mà Thiên Chúa đã dạy chúng ta. “Nguồn mạch của môn Giáo lý được tìm thấy trong lời của Thiên Chúa được Đức Chúa Giêsu Kitô mặc khải” (NDC, số 18). Dựa vào giáo huấn của Thiên Chúa, người ta có thể nhận ra một tiến trình hay “phương pháp sư phạm của Thiên Chúa”. Một cuộc điều nghiên bản chất của việc Thiên Chúa tự mặc khải cho thấy rõ tiến trình này. Như vậy, chung cuộc thì việc truyền lại giáo huấn của Thiên Chúa trong truyền giáo và dạy Giáo Lý phải thích hợp với chính phương pháp sư phạm của Thiên Chúa trong việc tự tỏ Mình ra của Ngài.

Mặc Khải: Việc Thiên Chúa tự tỏ Mình ra trong Thời Gian và Lịch Sử.

A. Bản Chất của Mặc Khải của Thiên Chúa

Giáo huấn của Hội Thánh luôn xác quyết rằng Thiên Chúa tự tỏ Mình ra trong các thực thể được tạo dựng, và tự bản chất con người có thể biết chắc chắn về sự hiện hữu của Thiên Chúa. “Thiên Chúa, Ðấng tạo dựng và bảo tồn mọi sự nhờ Ngôi Lời (x. Ga 1,3), không ngừng làm chứng về Mình trước mặt loài người qua các tạo vật (x. Rm 1,19-20)” (Dei Verbum [DV], số 3). Nhưng, tuy các tạo vật có làm chứng về một Thiên Chúa cá biệt và tốt lành, chúng chỉ làm chứng một cách bâng quơ. Chúng cung cấp cho chúng ta kiến thức về Thiên Chúa, nhưng chúng không có khả năng cung cấp cho chúng ta một sự hiểu biết đầy đủ về Thiên Chúa là ai. Trong chương trình quan phòng của Ngài, Thiên Chúa muốn tỏ Mình ra cách trọn vẹn cho chúng ta để chúng ta có thể đạt được sự hiệp thông cá nhân với Ngài. Việc tỏ Mình ra này của Thiên Chúa và việc mời gọi hiệp thông với Ngài đã xảy ra trong thời gian và lịch sử nhân loại. Việc tỏ Mình ấy được bắt đầu từ việc tạo dựng những con người đầu tiên, được bày tỏ ra trong lịch sử dân Israel, và hoàn tất trong con người và sứ vụ của Đức Chúa Giêsu Kitô (x. Eph 1:3-14). Như Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo [GLCG] nhận xét, chương trình Mặc Khải “hàm chứa một đường lối sư phạm thần linh đặc biệt của Thiên Chúa: Ngài chia sẻ chính Mình cho con người một cách tiệm tiến, chuẩn bị từng giai đoạn để con người đón nhận Mặc Khải siêu nhiên về chính bản thân Ngài. Mặc khải này đạt tới tột đỉnh nơi con người và sứ vụ của Lời nhập thể là Ðức Chúa Giêsu Kitô” (GLCG, số 53). Việc tự tỏ Mình ra của Thiên Chúa xảy ra trong các biến cố của lịch sử nhân loại và trong những lời được linh hứng đi kèm theo và giải thích những biến cố ấy. Mặc Khải được bày tỏ ra trong lịch sử qua “những việc làm và lời nói, tự bản chất liên hệ chặt chẽ với nhau.. . những công trình mà Thiên Chúa đã thực hiện trong lịch sử cứu độ làm sáng tỏ và xác nhận Giáo Lý và những thực tại được những lời nói biểu thị; còn những lời nói thì công bố những công trình và đưa ra ánh sáng mầu nhiệm chứa đựng trong đó” (DV, số 2).

Việc Thiên Chúa mặc khải qua việc làm và lời nói đã xảy ra theo gìai đoạn, trong khi chuẩn bị loài người cho việc tỏ Mình cách trọn vẹn nơi Đức Chúa Giêsu Kitô. Các giai đoạn này bắt đầu với Mặc Khải của Thiên Chúa cho những con người đầu tiên (ST 1-3); được tiếp tục trong lịch sử dân Israel qua các giao ước với ông các Noe, Abraham, Môsê, và vua Đavid; cùng tiến triển qua giáo huấn của các Thủ Lãnh, các tư tế, các ngôn sứ, và các thánh ký cho đến khi hoàn tất Mặc Khải và giao ước của Thiên Chúa nơi Đức Chúa Giêsu Kitô, Chúa Con Nhập Thể. Bởi vì tính cách tạm thời của một số giai đoạn Mặc Khải khác nhau trong đường lối sư phạm của Thiên Chúa, chúng ta chỉ phân biệt được những yếu tố vĩnh viễn của chúng dưới ánh sáng của Mặc Khải trọn vẹn nơi Đức Kitô. Như thế, trong việc tỏ bày Mặc Khải, Thiên Chúa là Vị Thầy thần linh tiếp tục kéo nhân loại đến sự hiểu biết sâu sắc hơn về chương trình của Ngài. Với tiến trình này, trong những giai đoạn sau, Thiên Chúa thường phải điều chỉnh những hiểu lầm xảy ra trong những giai đoạn trước gây nên bởi tính kiêu căng và tội lỗi của con người (x. Mc 10:1-11; cũng xem Aidan Nichols, Lovely Like Jerusalem [San Francisco, Ignatius Press, 2007], 7, 85-86, 116-119). Tiến trình Mặc Khải liên quan đến những chứng từ bằng văn tự (các Sách Cựu Ước và Tân Ước) và truyền thống trong cộng đồng (dân Israel và Hội Thánh). Nơi Chúa Giêsu, là Thiên Chúa thật và người thật, Đấng Trung Gian hoàn hảo của Mặc Khải, việc tự tỏ Mình ra của Thiên Chúa cho nhân loại đạt đến mức hoàn hảo. Điều ấy có nghĩa là Mặc Khải trong tất cả các giai đoạn khác của đường lối sư phạm của Thiên Chúa phải được giải thích và hiểu theo ánh sáng của Mặc Khải trọn vẹn nơi Đức Kitô. “Nếu Chúa Con nhập thể để mặc khải, thì chúng ta phải nghĩ rằng tất cả tài nguyên của bản tính loài người sẽ được Người dùng để diễn tả Ngôi Vị của Người, Con Thiên Chúa” (René Latourelle, The Theology of Revelation [New York: Alba House, 1987], 336). Tất cả cuộc đời nhân loại của Người – sự hiện diện và tỏ mình ra của Người, các việc làm và lời nói của Người, các dấu chỉ và phép lạ của Người, và trên hết, Cuộc Khổ Nạn, Cái Chết, sự Sống Lại và việc sai Chúa Thánh Thần xuống – tất cả đều cùng nhau mặc khải cách dứt khoát Thiên Chúa như một sự hiệp thông của Ba Ngôi, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Trong Đức Chúa Giêsu Kitô và qua việc gửi Chúa Thánh Thần xuống, Mặc Khải của Chúa Cha được “hoàn tất và hoàn hảo”, và Ngài không còn ban một Mặc Khải công khai nào nữa cho đến khi Đức Kitô trở lại vào ngày tận thế (Xem DV, số 2, 4). Cho nên, việc dạy Giáo Lý, có kho tàng Mặc Khải dứt khoát được hoàn tất và hoàn bị hóa nơi Đức Chúa Giêsu Kitô làm nguồn mạch, phải chú trọng đến những phương tiện mà Thiên Chúa dùng để truyền lại kho tàng này trong lịch sử.

B. Việc Lưu Truyền Mặc Khải của Thiên Chúa

Chúa Thánh Thần tiếp tục hướng dẫn việc truyền lại kho tàng dứt khoát của Mặc Khải của Thiên Chúa được ban cho chúng ta nơi Đức Kitô, qua Thánh Truyền đến từ các Tông Đồ và Thánh Kinh của cả hai Giao Ước dưới thẩm quyền giải thích của Huấn Quyền Hội Thánh. Việc dạy Giáo Lý phải quay về với những phương tiện truyền đạt này để đến với nguồn mạch, là kho tàng Mặc Khải. Bốn mươi sáu cuốn sách Cựu Ước và hai mươi bảy cuốn sách Tân Ước được soạn thảo dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần và hợp thành bản văn diễn tả những Lời Mặc Khải của Thiên Chúa. Vì sự linh hứng của Thiên Chúa, nên những sách này “dạy cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm.. . chân lý mà Thiên Chúa đã muốn Thánh Kinh ghi lại vì phần rỗi chúng ta” (DV, số 11).

Các sách Cựu Ước cung cấp cho chúng ta những lời diễn tả bằng văn tự những giai đoạn tạm thời của việc tự tỏ Mình ra của Thiên Chúa, được đạt đến cao điểm nơi con người và sứ vụ của Đức Chúa Giêsu Kitô. “Đối với Kitô Giáo, Cựu Ước trong toàn thể của nó biểu tượng cho một bước tiến hướng về Đức Kitô; chỉ khi nào đến được với Người thì ý nghĩa thật sự của Cựu Ước, là điều được ám chỉ cách tiệm tiến, trở thành rõ ràng” (Giuse Ratzinger, In the Beginning: A Catholic Understanding of the Story of Creation and The Fall [Grand Rapids, MI: Eerdmans, 1995], 9). Các sách Tân Ước là sự diễn tả bằng văn tự những lời giảng dạy của các Tông Đồ và Truyền Thống; các sách này truyền lại những lời nói và việc làm của Chúa Giêsu, là điều làm cho hoàn tất việc tự tỏ Mình ra của Thiên Chúa.

Các Sách Thánh của cả hai Giao Ước và Truyền Thống Sống Động của Hội Thánh, “phát xuất từ cùng một nguồn mạch là Thiên Chúa, kết hợp cách nào đó thành một sự thể duy nhất” (DV, số 9) là kho tàng Mặc Khải duy nhất của Thiên Chúa. Cả Thánh Kinh lẫn Truyền Thống sống động của Hội Thánh, bắt nguồn từ các Tông Đồ và giáo huấn của các ngài, được nối kết với nhau, và từ cả hai mà Hội Thánh biết chắc chắn về những chân lý mà Thiên Chúa đã mặc khải. Truyền Thống của Hội Thánh bao gồm “giáo lý, đời sống và việc phụng tự” mà nhờ đó Hội Thánh “bảo tồn và lưu truyền cho mọi thế hệ tất cả thực chất của mình và tất cả những gì mình tin” (DV, 8). Thánh Kinh và Thánh Truyền hợp lại thành kho tàng Mặc Khải duy nhất được các Tông Đồ trao phó cho Hội Thánh dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Trong cộng đồng Hội Thánh, chính Huấn Quyền của các mục tử của Hội Thánh, là Đức Giáo Hoàng và các Đức Giám Mục, như những người kế vị các Tông Đồ, được trao cho quyền giải thích kho tàng Mặc Khải (DV, số 10). Thánh Kinh, Thánh Truyền và Huấn Quyền hợp thành một đơn vị hỗ tương mà các phần tử cùng làm việc với nhau dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần: “theo ý định vô cùng khôn ngoan của Thiên Chúa, Thánh Kinh, Thánh Truyền và Huấn Quyền Hội Thánh liên kết và phối hiệp với nhau cách chặt chẽ đến nỗi không thực thể nào trong ba có thể đứng vững một mình được” (DV, số 10).

Khi nhìn vào kho tàng Mặc Khải của Thiên Chúa, các Giáo Lý viên phải ý thức về đặc tính lịch sử của Mặc Khải ấy, là điều được phát triển theo các giai đoạn đưa đến sự hoàn bị nơi Đức Chúa Giêsu Kitô. Các Giáo Lý viên cũng phải ý thức rằng, mặc dù giai đoạn cuối cùng của Mặc Khải đã đến cùng với Chúa Giêsu, sự hiểu biết của Hội Thánh về Mặc Khải trọn vẹn này tiến triển theo thời gian dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Có một sự đào sâu liên tục vào sự trọn vẹn của Mặc Khải đang được phát triển và tiến triển (xem Lumen Gentium, số 12; DV, số 8). Như thế các Giáo Lý viên cần phải hiểu về sự phát triển của Giáo Lý, là điều đem lại sự hiểu biết sâu xa hơn về kho tàng Mặc Khải, và thường đưa đến việc tạo ra những từ ngữ và cách diễn tả mới về các giáo điều.

Bất cứ một sự phát triển Giáo Lý chân chính nào phải được xảy ra dưới sự hướng dẫn và chuẩn y của Huấn Quyền Hội Thánh. Nói cách khác nguồn mạch chính của môn Giáo Lý là “Lời Chúa, được hàm chứa và truyền lại trong Thánh Kinh và Thánh Truyền cùng được giải thích bởi Huấn Quyền” (NDC, số 18).

C. Dạy Giáo Lý và Phương Pháp Sư Phạm của Thiên Chúa

“Đặc tính riêng của việc dạy Giáo Lý, khác với việc rao giảng lần đầu để đem đến việc hoán cải trở về, có hai nhiệm vụ là làm cho Đức Tin ban đầu được trưởng thành, và giáo dục các môn đệ chân chính của Đức Kitô bằng cách cung cấp cho họ một sự hiểu biết sâu xa và có hệ thống hơn về con người và sứ vụ của Đức Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta” (ĐTC Goan Phaolô II, Catechesi Tradendae [CT], số 19). Để đạt được mục tiêu này, các Giáo Lý viên không những chỉ cần chú ý đến nguồn mạch chính của Giáo Lý là Lời Chúa được Huấn Quyền giải thích, mà còn phải chú ý đến đường lối sư phạm hay phương pháp mà Thiên Chúa đã dùng để tự tỏ Mình ra cho chúng ta trong lịch sử (Xem CT, số 58; NDC, chương 4). Việc dạy Giáo Lý, trong khi chắc chắn phải dùng một số phương pháp được dùng trong tiến trình giáo dục nói chung, cũng phải nhìn đến phương pháp sư phạm của Thiên Chúa và coi đó như là một khuôn mẫu và nguồn mạch cho phương pháp sư phạm Đức Tin. Việc Thiên Chúa tự tỏ Mình ra như Chúa Cha, Chúa Con va Chúa Thánh Thần, Ba Ngôi trong Một Thiên Chúa Duy Nhất, xảy ra trong thời gian và lịch sử, và kết quả, đã xảy ra trong một tiến trình được tỏ bày theo từng giai đoạn đạt đến cao điểm nơi con người và sứ vụ của Đức Chúa Giêsu Kitô. Đó là một phương pháp sư phạm tiệm tiến theo bản tính. Ngay cả với Mặc Khải cuối cùng được Đức Kitô ban cho, Hội Thánh vẫn tiếp tục tiến triển trong việc hiểu biết và tìm hiểu sự đầy đủ của Mặc Khải. Như thế phương pháp dạy Giáo Lý phải phản ảnh sự bày tỏ tiệm tiến này trong tiến trình giáo dục vá giúp các tín hữu trưởng thành trong Đức Tin của Hội Thánh.

Mặc Khải của Thiên Chúa đã xảy ra qua những việc làm và lời nói thấm nhập vào nhau và giải thích lẫn nhau. Điều này đặc biệt đúng với Mặc Khải cuối cùng đã xảy ra nơi Đức Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể và Đấng Trung Gian hoàn hảo của Mặc Khải. Trong việc Nhập Thể, Thiên Chúa đã dùng “tất cả mọi bình diện nhân loại”, hành động, cử chỉ, và cách cư xử, mọi khía cạnh của đời sống con người, cá nhân cũng như cộng đồng, để truyền thông mầu nhiệm của đời sống nội tâm sâu thẳm của Mình (xem Latourelle, Theology of Revelation, 359tt). Như thế việc dạy Giáo Lý phải chú ý đến những thực trạng cụ thể của đời sống con người và sử dụng những thực trạng này trong khi tìm cách truyền đạt một sự hiểu biết sâu xa về Đức Tin trong Đức Kitô. Một đằng, dạy Giáo Lý phải sử dụng phương pháp phân tích (suy diễn) bằng cách dùng những tài liệu về Đức Tin làm khởi điểm và đưa ra lời rao giảng Đức Tin qua việc áp dụng nó vào những kinh nghìệm riêng biệt của con người (x. NDC, số 28, Chỉ Nam Chung về Dạy Giáo Lý [GDC], số 151). Đàng khác, đi đôi với phương pháp phân tích, việc dạy Giáo Lý cũng phải dùng phương pháp tổng hợp. Phương pháp này nhìn vào những biến cố riêng biệt của lịch sử cứu độ, các cử chỉ trong Phụng Vụ, và các dữ kiện trong đời sống Hội Thánh, đồng thời cũng chú ý đến những biến cố trong đời sống con người, tìm cách hiểu biết ý nghĩa của những thực tại nhân loại này dưới ánh sáng của Mặc Khải của Thiên Chúa và các giáo huấn về Đức Tin. Trong phương pháp tổng hợp, những quan tâm và thắc mắc, những hy vọng và âu lo, của kinh nghiệm thường nhật của con người được xem xét dựa theo sự hiểu biết về các chân lý của Đức Tin mà Thiên Chúa đã mặc khải (x. NDC, số 28; cũng x. René Latourelle, Man and His Problems in the Light of Jesus Christ [New York, Alba House, 1983]). Việc dạy Giáo Lý không những chỉ nhắm đến việc hướng dẫn các tín hữu hiểu biết sâu xa hơn về Đức Tin của mình nơi Đức Chúa Giêsu Kitô và các giáo huấn của Hội Thánh, mà còn phải giải thích và làm sáng tỏ kinh nghiệm của con người qua các dữ kiện thuộc về Đức Tin (x. GDC, số 153).

Trong sự đóng góp của mình vào tiến trình Phúc Âm hóa (Truyền Giáo), là trọng điểm đối với sứ vụ của Hội Thánh, việc dạy Giáo Lý có nguồn mạch là Lời Chúa, được mặc khải trọn vẹn nơi Đức Chúa Giêsu Kitô và được bảo vệ và giải thích bởi Huấn Quyền. Việc dạy Giáo Lý cố gắng làm cho người ta thành môn đệ của Chúa Giêsu và giáo dục cùng dạy dỗ họ trong những giáo huấn của Hội Thánh, nhưng không chỉ làm thế qua việc chú tâm đến những phương pháp giáo dục, mà trên hết qua việc chú tâm đến phương pháp sư phạm của Thiên Chúa, phương pháp sư phạm Nhập Thể: “Ngay từ buổi ban đầu, Thiên Chúa đã thích ứng sứ điệp của Mình vào những điều kiện trần thế để chúng ta có thể chấp nhận sứ điệp ấy. ‘Đối với các Giáo Lý viên, điều này ám chỉ công tác không ngừng là tìm một ngôn ngữ có khả năng truyền thông Lời Chúa và Kinh Tin Kính của Hội Thánh, đó là việc khai triển ngôn ngữ này trong những hoàn cảnh khác nhau của những người nghe’” (NDC, số 28.B; GDC, số 146).Trong việc dạy Giáo Lý cần phải nhớ đến sự liên hệ này bởi vì Đức Tin là khởi điểm của ơn cứu độ và là sự thông phần vào đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi, “đến bởi những điều được nghe, và điều được nghe đến qua Lời của Đức Kitô” (Rm 10:17).

LM. Robert A. Pesarchick, STD

Trong tài liệu Chúa Nhật Giáo Lý 2009 của HĐGMHK

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Nguon : VietCatholic News (09 Sep 2009 08:25)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: