Tông Huấn về Dậy Giáo Lý của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II(tiếp theo)

VI. MỘT VÀI CÁCH THẾ VÀ PHƯƠNG TIỆN ĐỂ DẠY GIÁO LÝ

 Các Phương Tiện Truyền Thông

 

46.  Từ những giáo huấn khẩu truyền của các Tông Đồ và các thư luân lưu giữa các hội thánh cho đến những phương tiện hiện đại nhất, việc dạy Giáo Lý đã không ngừng tìm những cách thế và phương tiện thích hợp nhất cho sứ vụ của mình, cùng sự hợp tác tích cực của các cộng đoàn và sự khuyến khích của các mục tử. Nỗ lực này cần được tiếp tục. 

Tôi nghĩ ngay đến những khả năng vĩ đại mà các phương tiện truyền thông có thể cung cấp, cùng những phương tiện truyền thông nhóm như: truyền hình, truyền thanh, báo chí, thu băng, thu hình và hàng loạt các phương tiện thính thị khác. Các thành quả trong những lãnh vực này sẽ đem lại một hy vọng khả quan nhất. Thí dụ kinh nghiệm cho thấy hiệu quả của các bài giảng dạy trên tuyền thanh hay truyền hình khi tổng hợp một mức độ mỹ thuật cao với tinh thần tuyệt đối trung thành với Huấn Quyền. Hiện nay Hội Thánh có nhiều dịp để suy nghĩ về những vấn đề này – thí dụ, vào những Ngày Truyền Thông Xã Hội – và chúng ta không cần phải nói dài dòng về chúng ở đây, mặc dù chúng rất quan trọng. 

Sử Dụng Nhiều Địa Điểm, Cơ Hội và Các Buổi Hội Họp 

47.  Tôi cũng nghĩ đến những cơ hội quý hoá đặc biệt khác nhau rất thích hợp cho việc dạy Giáo Lý: thí dụ, những cuộc hành hương của giáo phận, của vùng hay của quốc gia, có ích vì được đặt trọng tâm vào những chủ đề được chọn lựa cách khôn ngoan dựa vào cuộc đời Đức Kitô, Đức Mẹ hay các Thánh. Rồi có những sứ vụ truyền thống, thường bị ngưng quá vội vàng nhưng không thể thay thế được cho việc canh tân đời sống Kitô cách mạnh mẽ và định kỳ – chúng phải được phục hồi và cập nhật hoá.  Rồi còn có những nhóm học hỏi Thánh Kinh, là những nhóm cần phải vượt khỏi việc giải thích, và dẫn đưa các thành viên đến việc sống Lời Chúa. Lại còn những thời điểm khác là các buổi họp của các cộng đồng hội thánh căn bản, miễn là các cộng đồng này phù hợp với những tiêu chuẩn đề ra trong Tông Huấn Evangelii nuntiandi.[1][91]  Tôi cũng xin nhắc đến các đoàn thể trẻ dưới nhiều danh hiệu và hình thức khác nhau nhưng luôn có một mục đích là làm cho người ta biết về Đức Chúa Giêsu Kitô bằng cách sống theo Tin Mừng, đang được tăng triển ở nhiều nơi như một loại mùa xuân làm cho Hội Thánh được an ủi.  Các đoàn thể này gồm những nhóm hành động Công Giáo, bác ái Công Giáo, các nhóm cầu nguyện và chiêm niệm Kitô giáo. Các nhóm này là một nguồn mạch của niềm hy vọng lớn lao cho Hội Thánh tương lai. Nhưng, nhân danh Đức Kitô, cha thúc đẩy các người trẻ thuộc các nhóm này, các huynh trưởng của họ, và các linh mục dành phần lớn của việc mục vụ của mình cho họ: không cần biết phải trả giá nào, đừng để những nhóm này, là những cơ hội đặc biệt để gặp gỡ những người khác, và được chúc phúc bằng tình bằng hữu và đoàn kết phong phú giữa những người trẻ, bằng niềm vui và sự hăng say, bằng suy niệm về những biến cố và dữ kiện – đừng để các nhóm này thiếu sự học hỏi nghiêm chỉnh về những giáo thuyết Kitô giáo.  Nếu không, các nhóm này sẽ bị lâm nguy – tiếc thay đây là một nguy hiểm có thật – là làm cho các thành viên và Hội Thánh bị thất vọng. 

Cố gắng dạy Giáo Lý có thể thực hiện được trong những môi trường này, và nhiều môi trường khác nữa, sẽ có thể được chấp nhận dễ dàng và sinh hoa quả nếu nó tôn trọng bản tính cá nhân của chúng. Bằng cách trở nên một phần của chúng đúng cách, nó sẽ đạt được tính đa dạng và bổ túc của những phương pháp giúp nó phát triển tất cả sự phong phú của khái niệm của nó, với ba chiều kích của lời nói, ký ức và làm nhân chứng – tức là học thuyết, cử hành và quyết tâm trong đời sống – là những gì mà Sứ Điệp của Thượng Hội Đồng Giám Mục muốn nhấn mạnh cho Dân Chúa.[2][92] 

  

Bài Giảng 

48.  Nhận xét này lại càng đúng hơn cho việc dạy Giáo Lý trong khung cảnh Phụng Vụ, nhất là trong Thánh Lễ. Khi tôn trọng tính chất đặc biệt và ngữ điệu thích hợp của khung cảnh này, bài giảng lại nhắc đến cuộc hành trình Đức Tin mà việc dạy Giáo Lý đã đưa ra, và đưa nó đến đích một cách tự nhiên. Đồng thời bài giảng khích lệ các môn đệ của Chúa bắt đầu lại cuộc hành trình của họ trong chân lý, thờ lạy và cảm tạ mỗi ngày. Vì thế người ta có thể nói rằng việc dạy Giáo Lý cũng tìm thấy nguồn mạch và cùng đích của nó trong Bí Tích Thánh Thể, trong toàn thể chu kỳ Năm Phụng Vụ.  Cho nên giảng dạy đặt trọng tâm vào bản văn Thánh Kinh, tự nó phải làm cho các tín hữu có thể quen thuộc với toàn thể các mầu nhiệm Đức Tin và với những phong tục của đời Kitô hữu. Phải chú ý nhiều đến bài giảng: nó không được quá dài mà cũng đừng quá ngắn; nó phải luôn được soạn cẩn thận, chất lượng phong phú và phù hợp với người nghe, và chỉ dành cho các thừa tác viên có chức thánh. Bài giảng phải có chỗ đứng không chỉ trong các Thánh Lễ mỗi ngày Chúa Nhật và các ngày lễ, nhưng cũng trong việc cử hành Bí Tích Rửa Tội, Phụng Vụ Sám Hối, Hôn Phối và Tang Lễ.  Điều này có lợi cho việc canh tân Phụng Vụ. 

Các Tác Phẩm về Dạy Giáo Lý 

49.  Trong số những cách thế và phương tiện khác nhau – tất cả mọi hoạt động của Hội Thánh đều có khía cạnh Giáo Lý – các tác phẩm về dạy Giáo Lý, thay vì mất sự quan trọng thiết yếu của chúng, thì lại đạt được ý nghĩa mới. Một trong những điểm chính của việc canh tân Giáo Lý hôm nay là việc soạn lại và xuất bản nhiều sách về dạy Giáo Lý nhiều nơi trong hội Thánh. Rất nhiều tác phẩm đã được xuất hành và là kho tàng thật sự để phục vụ việc dạy Giáo Lý. Nhưng phải khiêm tốn và thành thật mà nhận rằng việc trăm hoa đua nở này cũng đã đem theo nó các bài viết và sách vở mập mờ và nguy hại cho giới trẻ, và ngay cả người lớn, hoặc vì cố tình hay vô ý bỏ sót những yếu tố quan trọng trong Đức Tin của Hội Thánh, hay vì quá nhấn mạnh đến sự quan trọng của một vài chủ đề và coi thường các chủ đề khác, hoặc, chỉ trình bày những quan niệm chung theo chủ thuyết theo hàng ngang mà không theo giáo huấn của Huấn Quyền Hội Thánh. 

Cho nên, xuất bản nhiều tác phẩm Giáo Lý chưa đủ. Để những tác phẩm này thích hợp với mục tiêu của chúng, cần phải có những điều kiện thiết yếu sau: 

a)      Các sách phải liên quan đến đời sống thật sự của thế hệ mà chúng nhắm đến, chứng tỏ sự hiểu biết về những lo âu và thắc mắc, những vật lộn và hy vọng; 

b)      Chúng phải cố gắng nói ngôn ngữ mà thế hệ này hiểu được; 

c)      Chúng phải nêu rõ vấn đề là cung cấp toàn thể sứ điệp của Đức Kitô và Hội Thánh Người, mà không bỏ sót hay xuyên tạc điều nào, và trong khi giải thích nó chúng phải theo một đường lối và một cấu trúc nhấn mạnh về những điều thiết yếu; 

d)      Chúng phải thực sự nhằm cung cấp cho những người dùng chúng một sự hiểu biết rõ ràng hơn về mầu nhiệm của Đức Kitô, với mục đích là đưa họ đến một sự hoán cải thật và một đời sống phù hợp với Thánh Ý Thiên Chúa hơn. 

Các Sách Giáo Lý 

50.  Tất cả những ai lãnh trọng trách soạn những học cụ dạy Giáo Lý, nhất là các sách Giáo Lý, chỉ có thể được phép làm như thế với sự ưng thuận của mục tử có quyền cho phép ấy, và lấy cảm hứng càng nhiều từ sách Chỉ Dẫn Chung về Dạy Giáo Lý càng tốt, vì sách này vẫn là sách tham khảo căn bản.[3][93] 

Về điểm này, tôi phải nhiệt tâm khuyến khích các hội đồng Giám Mục trên toàn thế giới lãnh nhận, cách kiên nhẫn nhưng cương quyết, để hoàn thành công tác đáng kể này theo sự thỏa thuận với Toà Thánh để soạn thảo các sách Giáo Lý chân chính, là những sách sẽ trung thành với nội dung thiết yếu của mặc khải và cập nhật hoá về phương pháp, và có thể dùng để giáo dục các thế hệ Kitô hữu tương lai cho có một Đức Tin vững chắc. 

Những cách thức và phương tiện của việc dạy Giáo Lý hiện đại được nhắc đến cách vắn tắt này không phải là tất cả các đề nghị được các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng Giám Mục đưa ra.  Thật là đáng khích lệ khi nghĩ rằng lúc này mọi quốc gia đều thấy giá trị của việc hợp tác để có một cuộc canh tân các phương diện này của việc dạy Giáo Lý một cách có tổ chức và chắc chắn hơn. Nhờ ơn Chúa, chắc chắn rằng Hội Thánh sẽ tìm thấy các chuyên gia và những phương tiện đúng để đáp ứng những nhu cầu phức tạp trong việc truyền thông với dân chúng ngày nay. 


  

VII. LÀM THẾ NÀO ĐỂ TRUYỀN DẠY GIÁO LÝ 

Các Phương Pháp Khác Nhau 

51.   Tuổi tác và sự phát triển về trí thức của các Kitô hữu, mức độ trưởng thành về Hội Thánh và nhiều hoàn cảnh cá nhân khác đòi hỏi rằng việc dạy Giáo Lý phải áp dụng rộng rãi nhiều phương pháp khác nhau để đạt được mục đích riêng của nó là giáo dục Đức Tin.  Trên một bình diện chung, các hoàn cảnh xã hội và văn hoá mà trong đó Hội Thánh thực thi việc dạy Giáo Lý cũng đòi hỏi các phương pháp khác nhau này. 

Sự đa dạng của các phương pháp được sử dụng là một dấu chỉ của sự sống động và sung túc. Các Nghị Phụ của Đại Hội thứ thư của Thượng Hội Đồng Giám Mục đã nghĩ như thế, tuy nhiên các ngài cũng chú tâm đến các điều kiện cần thiết cho sự đa dạng này được hữu dụng mà không phương hại đến tính thống nhất của việc dạy về Đức Tin. 

Để Phục Vụ Mặc Khải và Việc Hoán Cải 

52.  Câu hỏi chung đầu tiên được đặt ra ở đây về những nguy hiểm và cám dỗ trong việc pha lẫn việc dạy Giáo Lý cách không hợp lý với các quan niệm ý thức hệ hoặc công khai hoặc tiềm ẩn, nhất là những tư tưởng chính trị hay xã hội, hoặc với những chọn lựa chính trị có tính cách cá nhân. Khi đặt những ý thức hệ như thế trên sứ điệp chính được truyền thụ, đến nỗi làm lu mờ nó, và xếp nó xuống vị thế thứ yếu, hay chỉ chỉ dùng nó làm bình phong để đạt được mục đích riêng, thì việc dạy Giáo Lý bị hoàn toàn bóp méo. Thượng Hội Đồng Giám Mục khẳng định đúng về việc phải đặt Giáo Lý lên trên các khuynh hướng một chiều – để tránh “phân đôi” – ngay cả trong phạm vi giải thích thần học về những vấn đề ấy. Chính trên căn bản mặc khải mà việc dạy Giáo Lý sẽ cố gắng đưa ra quy luật cho mình, mặc khải như được truyền lại từ Huấn Quyền phổ quát của Hội Thánh, dưới hình thức trọng thể hay thông thường.  Mặc khải này nói cho chúng ta về việc tạo dựng và cứu độ của Thiên Chúa, mà Con của Ngài đã đến giữa chúng ta bằng nhục thể và đi vào, không những chỉ lịch sử riêng của mỗi cá nhân, mà còn vào chính lịch sử nhân loại, bằng cách trở nên trọng tâm của nó. Như thế, mặc khải này nói về sự thay đổi toàn diện của con người và vũ trụ, của tất cả những gì làm thành mạng lưới nhân loại dưới ảnh hưởng Tin Mừng của Đức Chúa Giêsu Kitô. Nếu nhận thức được như thế, thì việc dạy Giáo Lý sẽ vượt trên mọi thứ duy luân lý có tính cách hình thức, mặc dù nó bao gồm cả việc dạy về luân lý Kitô thật. Điều chính là nó vượt trên mọi loại “cứu chúa thuyết” trần thế, xã hội hay chính trị, mà tìm cách đi vào đáy lòng con người.    

Sứ Điệp Lồng trong Văn Hoá 

53.  Bây giờ đến vấn đề thứ nhì. Như gần đây tôi đã nói với thành viên của Ủy Ban Thánh Kinh: “Từ ‘hoà hợp văn hoá’ hay ‘hội nhập văn hoá’ có thể là những từ mới, nhưng nó diễn tả rất đúng một yếu tố của mầu nhiệm Nhập Thể cao cả.”[4][94]  Chúng ta có thể nói về việc dạy Giáo Lý, cũng như việc Phúc Âm hoá cách chung, là được gọi để mang quyền năng của Tin Mừng vào tận tâm hồn của văn hoá và các nền văn hoá.  Vì mục đích này mà môn Giáo Lý sẽ tìm cách biết các văn hoá này và các thành phần chính của chúng; nó sẽ học cách diễn tả có ý nghĩa nhất; nó sẽ tôn trọng những giá trị và sự phong phú riêng của chúng. Bằng cách này nó sẽ có thể cống hiến cho các nền văn hoá ấy sự hiểu biết về mầu nhiệm còn bị che giấu[5][95] và giúp chúng làm nảy sinh ra từ chính truyền thống sống động của chúng những sự diễn tả nguyên thủy của đời sống, cử hành và tư tưởng Kitô. Tuy nhiên phải nhớ hai điều. 

  • Một đàng, không thể cô lập sứ điệp Tin Mừng cách hoàn toàn hay cách đơn thuần khỏi nền văn hoá mà trong đó nó được đưa vào lần đầu (thế giới Thánh Kinh hay cụ thể hơn, cái khung cảnh văn hoá mà trong đó Chúa Giêsu thành Nadareth đã sống), hoặc cũng không thể cô lập nó khỏi các nền văn hoá mà trong đó nó đã được diễn tả từ nhiều kỷ nguyên, mà không tạo ra một mất mát lớn lao; nó không thình lình mọc lên từ bất cứ thửa đất văn hoá nào; nó luôn được truyền bá bằng cách đối thoại tông đồ, mà không tránh được việc trở thành một phần của cuộc đối thoại nào đó với các nền văn hoá;
  • Đằng khác, động năng của Tin Mừng là động lực biến đổi và tái sinh khắp nơi.  Khi động lực này đi vào một nền văn hoá, thì không ngạc nhiên là nó sẽ sửa đổi nhiều yếu tố của nền văn hoá này. Sẽ không có việc dạy Giáo Lý nếu Tin Mừng phải thay đổi khi nó tiếp xúc với các nền văn hoá.

Quên điều này người ta sẽ đi đến điều mà Thánh Phaolô gọi một cách hùng hồn là: “làm cho Thập Giá Đức Kitô ra vô hiệu.”[6][96] 

Khi dùng sự khôn ngoan mà phân biệt để lấy ra một vài yếu tố nào đó, dù là tôn giáo hay không tôn giáo, là một phần của gia sản văn hoá của một nhóm người, và dùng chúng để giúp các phần tử của nền văn hoá này hiểu rõ ràng hơn toàn thể mầu nhiệm Kitô giáo là một vấn đề khác. Môn Giáo Lý chân chính biết rằng dạy Giáo Lý là “nhập thể” trong những nền văn hoá và khung cảnh khác nhau: một người phải nghĩ đến các dân với những sự khác biệt lớn lao, về giới trẻ hiện đại, về nhiều hoàn cảnh khác nhau mà người ta gặp phải ngày nay. Nhưng người ta từ chối chấp nhận một sự bần cùng hoá của môn Giáo Lý qua việc từ bỏ hay làm cho sứ điệp của Giáo Lý bị tối nghĩa, qua những sự thích nghi, dù trong ngôn ngữ, mà có thể làm “cái kho tàng Đức Tin quý giá” bị nguy hiểm,[7][97] hoặc qua việc nhượng bộ về những vấn đề Đức Tin và luân lý. Họ xác tín rằng môn Giáo Lý thật sẽ phong phú hoá những nền văn hoá này bằng cách giúp chúng vượt qua tất cả những nét thiếu sót hay ngay cả vô nhân đạo trong chúng, và qua việc truyền thông cho chúng những giá trị chân chính của sự sung mãn của Đức Kitô.[8][98] 

Sự Đóng Góp của Các Việc Sùng Kính Phổ Thông 

54.  Một câu hỏi khác về phương pháp có liên quan đến việc sử dụng những yếu tố hợp lệ của việc sùng kinh phổ thông trong việc dạy Giáo Lý. Tôi đã nghĩ đến các cách sùng kính của các tín hữu trong những vùng nào đó với nhiệt tình và ý ngay lành, dù niềm tin làm nền tảng cho chúng cần phải được thanh lọc hay điều chỉnh về nhiều phương diện. Tôi cũng đã nghĩ đến một số hành vi trong các thói quyen sùng kính chứng tỏ ước muốn chân thành để ăn năn hối cải hay để làm đẹp lòng Chúa. Khi nhấn mạnh đến hầu hết các kinh nguyện hay thói quyen này, ngoài những yếu tố nên bỏ đi, thì có những yếu tố khác, nếu dùng đúng cách, có thể phục vụ rất tốt để giúp người ta tiến đến sự hiểu biết về mầu nhiệm Đức Kitô và sứ điệp của Người: tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa, sự Nhập Thể của Đức Kitô, Thập Giá cứu độ và sự Phục Sinh của Người, hoạt động của Chúa Thánh Thần trong mỗi Kitô hữu và trong Hội Thánh, mầu nhiệm đời sau, các nhân đức theo Tin Mừng để thực hành, sự hiện diện của Kitô hữu trong thế gian, v.v…. Và tại sao chúng ta lại nại đến những yếu tố ngoài  Kitô giáo – và ngay cả chống Kitô giáo – trong khi từ chối không chịu xây dựng trên những yếu tố, dù cần phải xét lại hay cải tiến, nhưng có một điều gì có tính Kitô giáo ngay tận nguồn gốc của chúng? 

Học Thuộc Lòng 

55.  Ít ra nên nhấn mạnh đến vần đề cuối cùng về phương pháp đã được Thượng Hội Đồng Giám Mục bàn luận khá nhiều, đó là học thuộc lòng. Việc dạy Giáo Lý Kitô trong những thời gian đầu tiên, trùng hợp với nền văn hoá đặc biệt truyền khẩu, nên dùng đến trí nhớ rất nhiều. Từ đó việc học Giáo Lý được biết là có một truyền thống học các chân lý căn bản bằng phương pháp thuộc lòng. Tất cả chúng ta đều ý thức rằng phương pháp này có thể có một số bất lợi, ít là nó đưa đến việc thiếu hiểu biết hay không hiểu biết gì cả; nó biến tất cả mọi kiến thức thành công thức được lập đi lập lại mà không hiểu chính xác. Các bất lợi này và những đặc tính khác của nền văn hoá mà chúng ta có ở vài nơi đưa đến việc hoàn toàn loại bỏ – theo một số người là dứt khoát phải loại bỏ – việc học thuộc lòng trong môn Giáo Lý. Nhưng trong Đại Hội của Thượng Hội Đồng Giám Mục, chúng ta nghe được một số tiếng nói có thẩm quyền kêu gọi phục hồi một sự cân bằng cách thận trọng giữa sự suy nghĩ và bộc phát, giữa đối thoại và im lặng, giữa việc viết và việc học thuộc lòng. Hơn nữa một số nền văn hoá còn rất tôn trọng việc học thuộc lòng. 

Ở thời điểm mà trong việc dạy các môn học đời ở một số quốc gia, người ta đang than phiền về hậu quả đáng tiếc của việc coi thường khả năng trí nhớ của con người, vậy tại sao chúng ta lại không thử sử dụng khả năng này một cách khôn ngoan và ngay cả bằng phương thức nguyên thủy trong việc dạy Giáo Lý, và hơn nữa bởi vì việc cử hành hay “tưởng niệm” các biến cố vĩ đại trong lịch sử cứu độ đòi hỏi một sự hiểu biết chính xác về chúng? Việc học thuộc lòng một số lời của Chúa Giêsu, các câu Thánh Kinh quan trọng, Mười Điều Răn, các công thức của việc tuyên xưng Đức Tin, các kinh trong Phụng Vụ, các kinh nguyện cần thiết, các tư tưởng giáo thuyết chính, v.v…, thay vì làm giảm nhân phẩm của các Kitô hữu trẻ, hay là một trở ngại cho việc nói chuyện riêng với Chúa, thì lại là điều thật sự cần thiết, như các Nghị Phụ đã mạnh mẽ nhắc nhở. Chúng ta phải có óc thực tế. Các bông hoa này của Đức Tin và lòng đạo đức, nếu chúng ta có thể gọi như thế, không thể mọc trong các nơi hoang địa của việc dạy Giáo Lý mà không có trí nhớ (Ces fleurs, si l’on peut dire, de la foi et de la piété ne poussent pas dans les espaces désertiques d’une catéchèse sans mémoire).  Điều cần thiết là những gì phải nhớ cũng phải được từ từ hiểu biết một cách sâu xa, để chúng trở thành nguồn mạch của đời sống Kitô hữu ở mức độ riêng và mức độ cộng đoàn. 

Việc có nhiều phương pháp trong việc dạy Giáo Lý hiện đại có thể là dấu chỉ của khả năng tồn tại và tài khéo léo. Trong mọi trường hợp, phương pháp được chọn lựa phải quy chiếu tuyệt đối vào một luật căn bản cho toàn thể đời sống Hội Thánh là luật trung thành với Thiên Chúa và với con người bằng một thái độ yêu thương duy nhất. 


  

VIII. NIỀM VUI CỦA ĐỨC TIN TRONG MỘT THẾ GIỚI ĐẦY KHÓ KHĂN 

Xác Quyết Đặc Tính Kitô 

56.  Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy khó khăn mà trong đó mối lo âu vì thấy những sáng tạo tốt nhất của con người vượt ra khỏi tầm tay họ và chống lại họ, tạo ra một bầu không khí bất ổn.[9][99] Trong thế giới này việc dạy Giáo Lý phải giúp cho các Kitô hữu trở thành “ánh sáng” và “muối” cho chính mình được vui và để phục vụ mọi người.[10][100] Chắc chắn rằng điều này đòi hỏi việc dạy Giáo Lý phải làm cho họ vững mạnh trong đặc tính của họ và phải luôn khác cái bầu khí ngần ngại, bất ổn và tẻ nhạt chung quanh nó. Mỗi khó khăn trong nhiều khó khăn là một thách đố cho Đức Tin, tôi sẽ vạch ra một số để giúp việc dạy Giáo Lý thắng vượt được chúng.  

Trong Một Thế Giới Khác 

57.  Một ít năm vừa qua, người ta nói nhiều về thế giới trần tục, thời đại hậu-Kitô.  Thời trang thay đổi, nhưng thực tại chính vẫn không thay đổi. Các Kitô hữu ngày nay phải được đào luyện để sống trong một thế giới mà phần lớn người ta không đếm xỉa gì đến Thiên Chúa, hay thay vì một cuộc đối thoại thân hữu và chính xác về các vấn đề tôn giáo để khuyến khích mọi người, thì người ta nếu không có một thái độ khinh miệt “nghi kỵ” nhân danh những tiến bộ đã đạt được về bình diện “giải thích” theo khoa học, thì họ cũng xiêu vẹo trong trong chủ thờ ơ thấp hèn. Để giúp các Kitô hữu “đứng vững” trong thế gian này, và để cống hiến cho mọi người “một cuộc đối thoại về ơn cứu độ”[11][101] mà trong đó mỗi người cảm thấy được tôn trọng theo phẩm giá căn bản nhất, phẩm giá của một người đang tìm kiếm Thiên Chúa, chúng ta cần dạy Giáo Lý cho những người trẻ và người trưởng thành của cộng đoàn chúng ta để họ tiếp tục hiểu rành mạch và kiên định trong Đức Tin của họ, để xác tín cách rõ ràng tính chất Kitô và Công Giáo của họ, để “thấy Đấng vô hình”[12][102] và gắn bó chặt chẽ với tính tuyệt đối của Thiên Chúa, để họ có thể làm nhân chứng cho Ngài trong một nền văn minh vật chất đang chối từ Ngài. 

Sư Phạm Đức Tin Nguyên Thủy 

58.  Tính chất độc đáo không thể giảm thiểu được của đặc tính Kitô giáo có được như là kết quả và điều kiện của một phương pháp sư phạm không kém gì độc đáo so sánh với Đức Tin. Trong những khoa học thời danh nhất của con người mà ngày nay đạt được tiến bộ rộng lớn nhất, thì nghành sư phạm là một nghành khoa học quan trọng nhất. Các thành quả của những khoa học khác như sinh vật học, tâm lý học, và xã hội học, cung cấp cho nó những yếu tố giá trị. Khoa học giáo dục và nghệ thuật sư phạm đang tiếp tục và được xét lại thường xuyên, để làm cho chúng thích nghi và có hiệu quả hơn, với những mức độ thành công khác nhau. 

Tuy nhiên, cũng có một phương pháp sư phạm của Đức Tin, và không bao giờ diễn tả đủ những gì phương pháp này đem lại cho việc dạy Giáo Lý.  Đương nhiên là cần phải thích ứng những kỹ thuật đã được hoàn bị hoá và thử nghiệm cho việc giáo dục thông thường vào việc giáo dục Đức Tin.  Tuy nhiên, cũng luôn phải kể đến nguồn gốc tuyệt đối của Đức Tin. Phương pháp sư phạm Đức Tin không phải là vấn đề truyền thụ kiến thức của con người, dù cao sâu đến đâu đi nữa; nó là vấn đề truyền thụ trọn vẹn mặc khải của Thiên Chúa. Qua suốt dòng lịch sử thánh, nhất là trong Tin Mừng, Chính Thiên Chúa đã dùng một phương pháp sư phạm, và phương pháp này phải tiếp tục là khuôn mẫu cho phương pháp sư phạm về Đức Tin. Một phương pháp chỉ có giá trị trong việc dạy Giáo Lý nếu nó phục vụ Đức Tin được truyền thụ và được học hỏi, nếu không nó sẽ không có giá trị gì cả. 

Ngôn Ngữ Thích Hợp Cho việc Phục Vụ Đức Tin 

59. Một vấn đề rất liên quan đến vấn đề trên là ngôn ngữ. Đây thật là một vấn đề nóng bỏng thời nay. Thật là ngược đời khi thấy rằng, trong khi các nghiên cứu hiện đại, thí dụ như trong ngành truyền thông, ngữ học và nghệ thuật diễn đạt bằng biểu tượng, nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của ngôn ngữ, tuy nhiên ngày nay người ta đã lạm dụng ngôn ngữ để gây ra tình trạng hoang mang về ý thức hệ, để làm cho mọi người phải đồng tư tưởng với số đông, và hạ con người xuống thành đồ vật. 

Tất cả những điều này có ảnh hưởng sâu đậm đến phạm vi dạy Giáo Lý. Vì việc dạy Giáo Lý có một nhiệm vụ thúc bách phải nói một ngôn ngữ thích hợp với trẻ em và người trẻ thời nay cách chung và với nhiều loại người khác – ngôn ngữ của sinh viên, các nhà trí thức và khoa học gia, ngôn ngữ của những người thất học, hoặc của những người của nền văn hoá đơn giản, ngôn ngữ của những người khuyết tật, và vân vân.  Thánh Augustinô đã chạm trán với cùng một vấn đề và đã đóng góp một giải pháp cho thời đại của chính ngài bằng tác phẩm nổi danh De Cetechizandis Radibus.  Trong môn Giáo Lý cũng như trong thần học, chắc chắn rằng vấn đề ngôn ngữ được đặt lên hàng đầu. Nhưng có một lý do chính đáng cần nhắc lại ở đây là môn Giáo Lý không được thu nhập bất cứ ngôn ngữ nào mà hậu quả là thay đổi bản chất của nội dung Kinh Tin Kính, vì bất cứ lý do nào, ngay cả lý do khoa học. Những ngôn ngữ dối trá hay sảo ngữ cũng chẳng tốt hơn. Ngược lại, luật quan trọng nhất là những tiến bộ lớn lao trong khoa học ngôn ngữ phải được sử dụng để phục vụ việc dạy Giáo Lý, để giúp nó “nói” hay “truyền thông” với trẻ em, thanh thiếu niên, người trẻ và người trưởng thành hôm nay toàn thể nội dung Đức Tin mà không bị bóp méo. 

Nghiên Cứu và Sự Chắc Chắn của Đức Tin 

60.  Một thách đố tinh vi hơn thỉnh thoảng xảy đến từ ngay cách mà người ta nhận thức về Đức Tin. Có một vài trường phái triết học hiện đại, có vẻ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến một số chiều hướng thần học và qua chúng đến việc mục vụ, như là việc nhấn mạnh rằng thái độ căn bản của con người là tìm sự vô cùng, một sự tìm kiếm không bao giờ có thể đạt được mục tiêu. Trong thần học, quan điểm này về sự vật khẳng định rằng Đức Tin không phải là sự chắc chắn nhưng là một sự chất vấn, không phải là điều rõ ràng, nhưng là một bước nhảy vào trong bóng tối. 

Những dòng tư tưởng này chắc chắn có lợi điểm là nhắc nhở chúng ta rằng Đức Tin liên quan đến những gì chúng ta chưa chiếm hữu, nhưng đang hy vọng có được; như là chúng ta chỉ thấy “một cách lờ mờ trong gương;”[13][103] và Thiên Chúa luôn ngự trong ánh sáng không đến gần được.[14][104]  Chúng giúp chúng ta biến Đức Tin Kitô giáo thành Đức Tin của một kẻ lữ hành trên đường tiến lên như với ông Abraham, chứ không phải của một người đã đến nơi. Hơn nữa, một người nên tránh trình bày những gì không chắc chắn như là chắc chắn.  

Tuy nhiên, chúng ta không được rơi vào tình trạng cực đoan ngược lại, như thường xảy ra. Thư gửi Dân Do Thái nói rằng “Đức Tin là đảm bảo cho những điều chúng ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều chúng ta không trông thấy.”[15][105] Dù chúng ta không hoàn toàn chiếm hữu, nhưng chúng ta có một bảo đảm và một bằng chứng.  Khi giáo dục trẻ em, thanh thiếu niên, và ngưởi trẻ, đừng cho các em những tư tưởng về Đức Tin quá tiêu cực – như là chúng ta tuyệt đối không biết gì, một thứ đui mù, một thế giới tối tăm – nhưng hãy cho các em thấy một sự khiêm nhường, nhưng can đảm tìm kiếm của người có đức tin, thay vì khởi đầu từ hư vô, trong một sự tự lừa dối mình, một ý kiến có thể sai lầm và không chắc chắn, thì sự tìm kiếm này dựa vào Lời Thiên Chúa là Đấng không thể lừa dối và cũng không bị lừa dối, và không ngừng được xây dựng trên đá của Lời này. Đây là sự tìm kiếm của Ba Vua dưới sự hướng dẫn của ngôi sao,[16][106] sự tìm kiếm của Pascal, dùng câu nói của Thánh Augustinô, được viết thật xúc tích “Ngươi đã không tìm kiếm Ta nếu người đã không tìm thấy Ta.[17][107] 

Một mục tiêu nữa của việc dạy Giáo Lý là cho các dự tòng trẻ một sự chắc chắn tuy đơn giản nhưng vững chắc rằng nó sẽ giúp các em tìm biết Chúa nhiều hơn và tốt hơn. 

Dạy Giáo Lý và Thần Học 

61.  Trong phạm vi này, tôi muốn chắc chắn rằng sự liên quan giữa việc dạy Giáo Lý và thần học cần phải được hiểu rành mạch. Hiển nhiên là sự liên quan này thật sâu đậm và quan trọng đối với những người hiểu sứ mạng không thể thay thế được của môn thần học trong việc phục vụ Đức Tin. Vì thế chúng ta không ngạc nhiên rằng mỗi xáo động trong khoa thần học đều vang dội trong khoa Giáo Lý. Trong giai đoạn ngay sau Công Đồng, Hội Thánh trải qua một thời điểm quan trọng nhưng nguy hiểm về nghiên cứu thần học. Cũng có thể nói như thế về khoa chú giải trong việc giải thích Thánh Kinh. 

Các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng từ tất cả các lục địa đã giải quyết vấn đề này cách rất thẳng thắn: các ngài nói về nguy hiểm của một sự “thiếu cân bằng” trong việc chuyển từ thần học sang Giáo Lý và nhấn mạnh đến sự cần thiết phải làm gì với khó khăn này. Chính Đức Thánh Cha Phaolô VI đã giải quyết vấn đề này một cách không kém thẳng thắn trong khi giới thiệu Bài Tuyên Xưng Đức Tin Trọng Thể của ngài[18][108] và trong Tông Huấn đánh dấu đệ ngũ chu niên ngày bế mạc Công Đồng Vaticanô II.[19][109] 

Cần phải nhấn mạnh lại điều này. Ý thức được ảnh hưởng của các nghiên cứu và các lời tuyên bố của mình trên việc dạy Giáo Lý, các thần học gia và các nhà chú giải Thánh Kinh phải rất thận trọng để dân chúng không cho là điều chắc chắn những gì thật ra thuộc về phạm vi các vấn đề đang được bàn cãi hay thảo luận giữa các nhà chuyên môn. Phần các Giáo Lý viên, phải khôn ngoan chọn lấy từ lãnh vực nghiên cứu thần học những điểm có thể soi sáng những suy tư riêng của mình và sự giảng dạy của mình, được múc từ nguồn mạch chính, dưới ánh sáng của Huấn Quyền, cũng giống như trường hợp các nhà thần học. Họ phải từ chối làm tâm trí của các trẻ em và người trẻ bị bối rối ở giai đoạn này của việc học Giáo Lý, bằng những lý thuyết kỳ dị, những vấn đề vô ích, và những thảo luận vô bổ, là những điều mà Thánh Phaolô lên án trong các thư mục vụ của ngài.[20][110] 

Một món quà quý giá nhất mà Hội Thánh có thể tặng cho thế giới hoang mang và lo âu của thời đại chúng ta là hình thành trong thế giới này những Kitô hữu tin chắc vào những điều gì là thiết yếu và vui mừng cách khiêm nhường trong Đức Tin của mình.  Môn Giáo Lý sẽ dạy điều này cho họ, và cũng được hưởng ích lợi đầu tiên từ việc này: “Người nào muốn hiểu rõ mình – không theo những khuôn mẫu hay mực thước nhất thời, thiếu sót, thường thì chỉ phiến diện, hay ảo giác về bản chất của mình – phải đem sự thao thức và không chắc chắn của mình, cùng cả tình trạng yếu đuối và tội lỗi, với sự sống và sự chết của mình đến cùng Đức Kitô. Người ấy phải đi vào trong Đức Kitô với toàn thể con người của mình, phải ‘chiếm hữu’ Đức Kitô và đồng hoá toàn thể thực tại của sự Nhập Thể và cứu độ để tìm thấy chính mình.”[21][111] 


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: