Giáo lý thêm sức GP Bắc Ninh

KINH THÁNH LÀ LỜI THIÊN CHÚA NÓI VỚI CHÚNG TA

I. KHỞI ĐIỂM:

1. Kể truyện:

Anh Tô-ma là một tài xế chạy Taxi, suốt ngày anh bận bịu với tay lái trên các nẻo đường của thành phố. Anh rất muốn tham gia các sinh hoạt của Giáo Xứ để góp một phần nhỏ vào việc truyền giáo theo lời mời gọi của Cha Sở, thế nhưng, công việc đã chiếm thời gian của anh. Anh tự nhủ: khi nào cuộc sống khấm khá hơn, anh sẽ dành bớt thời giờ cho Chúa, còn bây giờ phải lo nuôi sống gia đình trước đã. Thế rồi một hôm, thật bất ngờ, có một hành khách đi Taxi một chặng đường dài đã tò mò hỏi mượn anh quyển Kinh Thánh anh đang để ở trong hộc xe bên cạnh tay lái, và ông ta đã mở ra đọc một cách say sưa. Thế là sau đó anh và ông ta đã có một cuộc trò chuyện trao đổi lý thú…

Từ đó, trên xe của anh Tô-ma luôn để sẵn một cuốn Kinh Thánh. Quả nhiên, anh càng ngày càng có nhiều cơ hội chia sẻ với các hành khách về những gì Thiên Chúa đã nói với anh và đã làm cho anh, và phần nhiều trong số họ đã cảm nhận được sự có mặt của Thiên Chúa trong cuộc đời họ.

Sau này, anh Tô-ma còn tạt qua các phòng đợi ở bệnh viện và phi trường để lặng lẽ đặt ở đó một vài cuốn sách Kinh Thánh nho nhỏ. Anh thấy lòng trào dâng một niềm vui khiêm tốn mỗi khi làm được một việc như thế, anh biết rõ anh đang âm thầm tham gia vào công cuộc truyền giáo…

2. Đặt câu hỏi hội thoại:

– Kinh Thánh chứa đựng điều gì quý giá cho cuộc sống con người mà anh Tô-ma và những người khách đi Taxi lại trân trọng như vậy ? ( Qua Kinh Thánh, người ta có thể nhận ra Thiên Chúa đang nói với mình, Thiên Chúa luôn yêu thương mình… )

– Đối với các em thì sao ? Các em thường nghe đọc Kinh Thánh khi nào và ở đâu ? ( Em có thể nghe đọc Kinh Thánh trong Thánh Lễ, khi học Giáo Lý… ) Có bao giờ các em tự mở tìm đọc một đoạn Kinh Thánh chưa ?

– Vậy Kinh Thánh là một tác phẩm của ai và dành cho ai ? ( Kinh Thánh là một tác phẩm của Thiên Chúa dành cho con người )

3. Tập hát:

Bài “Ghi Nhớ Lời Ngài” ( Nối Lửa Cho Đời tập 7 trang 38, bài 63 ).

4. Đọc Lời Chúa:

Giáo Lý Viên đọc to và chậm rãi cho các em lắng nghe đoạn thư gửi tín hữu Do-thái ( Dt 1, 1 – 2 ): “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ. Nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử ( của Người là Đức Giê-su )”.

II. ĐÍCH ĐIỂM:

Vậy, Kinh Thánh là bộ sách chứa đựng mặc khải của Thiên Chúa, gồm những điều Chúa nói và những việc Chúa làm, nhằm đưa con người chúng ta vào đời sống của Thiên Chúa. Sau khi giảng, nên tóm ý lại và đọc cho các em chép vào vở học:

– Mặc khải có nghĩa là: Thiên Chúa ngỏ lời, tự giới thiệu, tỏ bày tình thương của Người cho con người xuyên qua giòng lịch sử nhân loại.

– Trong Cựu Ước, suốt 13 thế kỷ, Thiên Chúa gián tiếp nói với con người thông qua những người được Thiên Chúa chọn làm trung gian. Tất cả gộp lại thành phần thứ nhất: Kinh Thánh Cựu Ước gồm 46 cuốn.

– Đến Tân Ước, Thiên Chúa trực tiếp nói với con người qua chính Con Một của Người là Đức Giê-su và qua các môn đệ của Đức Giê-su. Tất cả gộp lại thành phần thứ hai: Kinh Thánh Tân Ước gồm 27 cuốn, quan trọng nhất là 4 sách Tin Mừng.

– Thiên Chúa và những người biên soạn đều là tác giả của Kinh Thánh, vì chính Thiên Chúa đã linh hứng, nghĩa là soi sáng và thúc đẩy các tác giả nhân loại viết ra.

III. XÁC TÍN:

Có thể đọc cho các em chép vào vở câu toát yếu rất ngắn gọn sau đây: Kinh Thánh chính là Lời Thiên Chúa nói với chúng ta.

IV. TÂM TÌNH:

Mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện: “Chúng con cảm tạ Chúa Cha đã phán dạy chúng con qua chính Đức Giê-su, Con của Ngài. Chúng con xin Chúa Thánh Thần soi sáng để chúng con biết lắng nghe, hiểu và sống Lời Chúa đã dạy thông qua những người đang dạy dỗ chúng con như Linh Mục, thầy cô Giáo Lý, cha mẹ anh chị…” Hát lại bài “Ghi Nhớ Lời Ngài” đã tập ở phần trước.

V. THỰC HÀNH:

Các em chép vào vở, trang trí thật đẹp và trang trọng đoạn Lời Chúa: “Hạnh phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa” ( Lc 11, 26 ). Trong tuần này, em chăm chú lắng nghe Lời Chúa trong mỗi Thánh Lễ. Mỗi tối em nhớ đọc lại đoạn Lời Chúa nêu trên và cầu nguyện trò chuyện với Chúa.

Tu sĩ  NGUYỄN MINH TÂN, Bắc Ninh

 

 

THIÊN CHÚA DỰNG NÊN VŨ TRỤ VÀ LOÀI NGƯỜI
I. KHỞI ĐIỂM:

1. Kể truyện:

Dựa vào chương 1 và 2 của sách Sáng Thế, chính Giáo Lý Viên kể lại một cách sinh động câu truyện Thiên Chúa tạo dựng nên mọi sự, có thể kèm theo hình ảnh từng thọ tạo ( cắt từ báo ảnh, lịch… )

– Ngày thứ nhất: Thiên Chúa làm ra ánh sáng
– Ngày thứ hai: Thiên Chúa tách biệt nước và đất liền
– Ngày thứ ba: Thiên Chúa làm ra cây cỏ
– Ngày thứ tư: Thiên Chúa làm ra mặt trời, mặt trăng
– Ngày thứ năm: Thiên Chúa làm ra các loài vật
– Ngày thứ sáu: Thiên Chúa tạo dựng con người
– Ngày thứ bảy: Thiên Chúa nghỉ ngơi.

2. Đặt câu hỏi hội thoại:

– Các em thấy Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế nào ? ( Thiên Chúa yêu thương chúng ta, Ngài làm ra mọi sự cho chúng ta, để cho chúng ta làm chủ và hưởng dùng mọi sự, để chúng ta có quyền khai thác, biến đổi vũ trụ và tiếp nối công trình tạo dựng của Thiên Chúa. ).

– Các em có biết con người tiếp tục cộng tác vào công trình tạo dựng của Thiên Chúa như thế nào không ? ( Con người trồng trọt lúa gạo, hoa quả, bảo vệ môi trường, chăn nuôi, lập gia đình và sinh con đẻ cái… )

– Các em có biết mục đích của Thiên Chúa khi tạo dựng con người là gì không ? ( Thiên Chúa tạo dựng con người để con người được hưởng hạnh phúc với Thiên Chúa )

– Thế các em có biết Thiên Chúa dựng nên con người bằng cách nào không ? ( Thiên Chúa tạo dựng con người từ bùn đất và thổi sinh khí vào làm nên linh hồn. Do đó, con người gồm xác và hồn. Phần thân xác do cha mẹ chúng ta sinh ra, còn phần linh hồn do Thiên Chúa ban. )

– Các em có biết Thiên Chúa tạo dựng con người giống hình ảnh của ai không ? ( Chúng ta được tạo dựng giống hình ảnh của Thiên Chúa, có trí thông minh hơn hẳn loài vật, có linh hồn, có sự thông biết mọi sự, nhất là có một quả tim biết yêu thương, có giọng nói, có khả năng thông cảm, chia sẻ với người khác… )

3. Đọc Lời Chúa:

Giáo Lý Viên đọc to, chậm rãi đoạn St 1, 26 – 30:
Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất”.

Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, có nam có nữ. Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất”.

Thiên Chúa phán: “Đây Ta ban cho các ngươi mọi thứ cỏ mang hạt giống trên khắp mặt đất, và mọi thứ cây có trái mang hạt giống, để làm lương thực cho các ngươi. Còn đối với mọi dã thú, chim trời và mọi vật bò dưới đất mà có sinh khí, thì Ta ban cho chúng mọi thứ cỏ xanh tươi để làm lương thực”. Liền có như vậy.

4. Tập hát:

Bài “Ca Khen Chúa Trời” ( Nối Lửa Cho Đời tập 7, trang 42, bài 69 ) hoặc bài “Tạ Ơn Hóa Công” ( Nối Lửa Cho Đời tập 7, trang 21, bài 33 ).

5. Khai triển bằng hội thoại:

– Khi nhìn xem trời đất muôn vật trong vũ trụ, chúng ta nhận biết được điều gì ? ( Chúng ta nhận biết có Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng sáng tạo. Ngài là Chúa Tể Vũ Trụ ).

– Ngoài ra, Thiên Chúa còn tạo dựng ai nữa ? ( Thiên Chúa đã tạo dựng con người và trao cho con người nhiệm vụ coi sóc, bảo vệ và tiếp tục cộng tác vào công trình sáng tạo của Ngài. Vì thế con người được chia sẻ đời sống hạnh phúc tuyệt vời với Thiên Chúa trong tình yêu thân thiết ).

II. ĐÍCH ĐIỂM:

Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây: Chúng ta tin Thiên Chúa là Chúa Cha Toàn Năng, Đấng đã tạo thành muôn loài muôn vật trong trời đất, và nhất là đã tạo dựng con người chúng ta giống hình ảnh của Ngài.

III. XÁC TÍN:

Kinh Tin Kính: “Tôi tin kính một Thiên Chúa duy nhất là Chúa Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình.”

IV. TÂM TÌNH:

Mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện. Nếu được, Giáo Lý Viên nên để các em tự phát nói với Chúa thật đơn sơ ( Mở đầu và xen kẽ các ý nguyện, lần lượt hát các tiểu khúc bài “Ca Khen Chúa Trời” )

– Cám ơn Chúa vì Ngài đã dựng nên loài người chúng con.

– Cám ơn Chúa vì Ngài đã dựng nên muôn vật muôn loài cho chúng con được làm chủ và sử dụng.

V. THỰC HÀNH:

– Sống tốt với mọi người, vì mọi người đều là con cái Thiên Chúa.

– Thường xuyên cầu nguyện tạ ơn Thiên Chúa.

Tu sĩ  NGUYỄN VĂN HUY, Bắc Ninh

LOÀI NGƯỜI SA NGÃ VÀ LỜI HỨA CỨU ĐỘ

I. KHỞI ĐIỂM:

1. Ôn lại bài cũ bằng hội thoại:

– Các em hãy nhớ lại bài học cũ lần trước: Ai đã dựng nên con người chúng ta ? ( Thiên Chúa là Đấng dựng nên con người ).
– Thiên Chúa đã dựng nên con người theo hình ảnh của Ngài, nghĩa là con người được mang lấy những điều gì ? ( Con người được có lý trí, có linh hồn và trên hết là được mang lấy trái tim biết yêu thương của Thiên Chúa ).
– Nhưng em nào còn nhớ Thiên Chúa dựng nên con người từ gì nào ? Có phải là từ vàng bạc, từ kim cương đá quý không các em ? ( Con người được dựng nên từ bụi đất ).
– Con người được dựng nên từ bụi đất, điều đó muốn diễn tả con người có một thân phận thật mong manh và yếu đuối. Vì yếu đuối và mỏng manh như vậy, các em thử nghĩ xem con người có nên tự hào, kiêu ngạo hay không ? (Con người cần phải khiêm tốn và trung tín với Thiên Chúa ).

3. Tập hát:
Tập bài “Ô ! Ô ! Ô !” ( Sách Giáo Lý Thêm Sức tập 1, trang 11 ).

5. Đọc Lời Chúa:
Giáo Lý Viên dẫn một vài ý về Lời Hứa Cứu Độ của Thiên Chúa đối với loài người sau khi họ sa ngã phạm tội, rồi đọc to, chậm rãi, đoạn St 3, 15:Thiên Chúa phán: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy, dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó.”

III. XÁC TÍN:
Kinh Tin Kính: “Tôi tin kính một Chúa duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô, Con Một Thiên Chúa, sinh bởi Chúa Cha từ trước muôn đời”

IV. THỰC HÀNH:
Mỗi tối trước khi ngủ, em nhớ lại những việc tốt đã vô tình không làm, những việc xấu đã cố tình làm, và xin Chúa thứ tha.

Tu sĩ  LÊ VIẾT PHƯƠNG, DCCT

THIÊN CHÚA KÊU GỌI ÔNG ÁP-RA-HAM
I. KHỞI ĐIỂM:

1. Kể truyện:

Có một gia đình nọ sống giữa đồng không mông quạnh. Vào một đêm kia, có người trong nhà sơ ý làm rớt cây đèn dầu, căn nhà bốc cháy dữ dội. Cha mẹ, con cái vội vã chạy ra ngoài sân và đành đứng bất lực nhìn ngọn lừa thiêu rụi mái ấm của họ. Bỗng mọi người chợt nhận ra còn thiếu mất đứa con bé nhất. Thì ra cậu bé cũng chạy với mọi người, nhưng chưa ra tới cửa, thấy lửa cháy dữ quá, cậu sợ hãi nên lại chạy trở lên lầu. Lửa phừng phừng cao ngút tứ phía, đang lúc cả gia đình hốt hoảng không biết phải làm sao để cứu cậu bé chỉ mới 5 tuổi, thì bỗng cửa sổ trên lầâu mở toang, và cậu bé ló ra, nhìn xuống kêu khóc inh ỏi. Từ dưới sân, cha cậu bé gọi lớn tên con, rồi nói: “Con nhảy xuống đây ?” Cậu bé chỉ thấy bên dưới toàn khói mù và lửa, nhưng nghe rõ tiếng cha kêu mình, liền trả lời: “Ba ơi, con không trông thấy ba đâu hết !” Người cha trả lời giọng cương quyết: “Con cứ nhảy đi, có ba trông thấy con là đủ rồi ?”

Và cậu bé leo lên thành cửa sổ, liều mình nhảy xuống. Mọi người thấy vậy thì la lên kinh hãi vì lo sợ cho mạng sống của cậu, nhưng cậu đã rơi đúng vào vòng tay yêu thương của cha mình một cách an toàn…

Sau này nhiều năm, người quen trong khu phố ai gặp cậu bé cũng tò mò hỏi: “Sao hôm ấy cháu liều thế, lỡ rơi không trúng vòng tay của ba cháu thì sao ?” Cậu hồn nhiên trả lời: “Cháu cũng không biết nữa, khi ấy cháu nghe tiếng kêu của ba cháu, tự nhiên cháu không sợ nữa, cháu tin ba cháu không bao giờ để cho cháu té chết đâu !”

2. Đặt câu hỏi hội thoại:

– Đang khi cháy lớn như thế, cậu bé ở trên cửa sổ lầu hai và cha cậu đứng dưới sân có trông thấy nhau không ? ( Cha cậu bé thì thấy con mình, chứ cậu thì không nhìn thấy cha vì khói lửa che khuất )

– Tại sao cậu bé mới có 5 tuổi lại can đảm từ trên cao nhảy xuống mà không sợ chết ? ( Vì cậu nghe thấy tiếng kêu của cha )

– Nhưng hơn thế, còn vì một lý do sâu xa nào nữa ? ( Vì cậu bé đã tin vào lời cha, chắc chắn cha cậu sẽ không để cậu té chết ).

– Dựa vào sách Sáng Thế chương 12, kể vắn tắt câu truyện Thiên Chúa gọi ông Áp-ra-ham, ông cũng không hề thấy Chúa, chỉ nghe tiếng Chúa gọi thôi mà đã can đảm tin tưởng ra đi như Chúa phán dạy.

– Nhưng tại sao Thiên Chúa lại kêu gọi ông Áp-ra-ham ? ( Vì từ giòng dõi của Áp-ra-ham, Đức Giê-su sẽ nhập thể làm người và thực hiện chương trình cứu độ của Thiên Chúa )

3. Đọc Lời Chúa:

Đã chép sẵn trên bảng đoạn St 12, 1 – 6, giờ đây mời các em cùng đọc, hoặc chọn một em đọc to và chậm rãi, dõng dạc:

Đức Chúa phán với ông Áp-ra-ham: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành… Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc.” Ông Áp-ra-ham ra đi, như Đức Chúa đã phán với ông.

4. Diễn giải bằng hội thoại:

– Nhờ tin tưởng tuyệt đối như vậy, ông Áp-ra-ham đã được Thiên Chúa hứa ban điều gì ? ( Thiên Chúa đã hứa ban 3 điều: Ông được làm tổ phụ một dân tộc lớn; Dân tộc ấy sẽ làm chủ một đất nước; Và nhờ ông mà mọi dân trên thế giới sẽ được chúc phúc )

– Tổ phụ có nghĩa là cha, là người đứng đầu một dân tộc. Ông Áp-ra-ham đã được chọn làm tổ phụ dân Ít-ra-en. Ông là người sống ở vùng Trung Đông, khoảng 1850 năm trước khi Đức Giê-su sinh ra.

– Vậy ông có phải là tổ phụ của cả chúng ta là người Việt Nam nữa không ? ( Có, ông là tổ phụ của tất cả những ai tin vào Thiên Chúa, tin vào Đức Giê-su )

II. ĐÍCH ĐIỂM và XÁC TÍN:

Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây: Vì yêu thương, Thiên Chúa muốn cứu loài người khỏi tội lỗi, Ngài đã gọi ông Áp-ra-ham, ông đã tin và vâng lời Chúa. Nhờ thế, ông được gọi là tổ phụ của dân Ít-ra-en. Từ dân này, Chúa Giê-su sẽ sinh ra làm người để thực hiện chương trình cứu độ. Chúng ta hãy biết tin tưởng và phó thác mọi sự vào Thiên Chúa, để Ngài dẫn dắt trọn vẹn cuộc sống chúng ta.

III. TÂM TÌNH:

Tập hát bài “Cậy Tin Yêu Chúa” ( Nối Lửa Cho Đời tập 7, trang 2, bài 04 ). Mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện: Cám ơn Chúa vì Ngài đã yêu thương muốn cứu độ chúng con. Xin Chúa ban cho Lòng Tin mạnh mẽ như tổ phụ Áp-ra-ham.

IV. THỰC HÀNH:

Nghe tiếng chuông Nhà Thờ, em nhớ chuẩn bị đi dự Thánh Lễ. Nghe tiếng cha mẹ, anh chị hoặc thầy cô gọi bảo làm điều gì, em mau mắn vâng lời làm ngay.

Tu Sĩ  HÀ VĂN THANH ( Dòng Xi-tô Châu Thủy )

THIÊN CHÚA KÊU GỌI ÔNG MÔ-SÊ

I. KHỞI ĐIỂM:

1. Kể truyện dẫn vào bài mới:

Dựa vào chương 1 sách Xuất Hành để kể vắn tắt về chuyện làm sao dân Ít-ra-en lại có mặt ở bên đất Ai Cập và về gốc tích ông Mô-sê…

Thiên Chúa đã gọi ông Áp-ra-ham làm tổ phụ dân Ít-ra-en, định cư tại đất Ca-na-an. Ông Áp-ra-ham xin ông I-xa-ác, ông I-xa-ác sinh ông Gia-cóp, ông Gia-cóp lại có 12 con trai, trong đó có ông Giu-se bị các anh mình bán sang Ai Cập rồi về báo với cha là Giu-se đã chết mất xác… Sau một thời gian cực khổ, ông Giu-se lại được vua Pha-ra-ô của Ai Cập tin dùng, lên đến chức tể tướng. Đất Ca-na-an gặp nạn đói, ông Gia-cóp sai các con sang Ai Cập vay lúa thóc, không ngờ gặp lại Giu-se. Cả nhà liền rời quê hương Ca-na-an sang tá túc ở Ai Cập rồi ở lại luôn.

Ban đầu, dân Ít-ra-en được đối xử tử tế nhưng rồi các thế hệ sau này, thì họ bắt đầu bị người Ai Cập ngược đãi, bắt làm nô lệ. Vua Pha-ra-ô còn ra lệnh giết hết các con trai đầu lòng của người Ít-ra-en. May mắn thay, chú bé Mô-sê sơ sinh được mẹ bỏ trong giỏ thả trên giòng nước, công chúa Ai Cập đi tắm vớt được mới đem về làm con nuôi. Mô-sê lớn lên trong cung vua như một hoàng tử Ai Cập.

Dần dần, chứng kiến cảnh làm việc khổ sai của người Ít-ra-en, ông Mô-sê khám phá ra gốc gác mình cũng là người Ít-ra-en, ông đã bênh vực họ mà giết chết một người Ai Cập. Ông phải trốn vào hoang địa, ở đây ông đã được Thiên Chúa chọn làm thủ lãnh đầu tranh với vua Pha-ra-ô để đưa dân Ít-ra-en ra khỏi Ai Cập để đi về một miền đất mới Chúa đã hứa ban là đất Pa-lét-tin sau này…

2. Đọc Lời Chúa:

Giáo Lý Viên đọc to đoạn sách Xuất Hành về việc Thiên Chúa gọi ông Mô-sê ( Xh 3, 1 – 2.7 ):

Bấy giờ ông Mô-sê đang chăn chiên cho bố vợ là Gít-rô, tư tế Ma-đi-an. Ông dẫn đàn chiên qua bên kia sa mạc, đến núi của Thiên Chúa, là núi Khô-rếp. Thiên sứ của Đức Chúa hiện ra với ông trong đám lửa từ giữa bụi cây. Ông Mô-sê nhìn thì thấy bụi cây cháy bừng, nhưng bụi cây không bị thiêu rụi… Đức Chúa phán: “Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai Cập, Ta đã nghe tiếng chúng kêu than vì bọn cai hành hạ. Phải, Ta biết các nỗi đau khổ của chúng. Ta sai ngươi đến với Pha-ra-ô để đưa dân Ta là con cái Ít-ra-en ra khỏi Ai Cập.”

3. Đặt câu hỏi hội thoại:

– Tại sao Thiên Chúa lại chọn ông Mô-sê làm thủ lãnh ? ( vì Thiên Chúa thương dân của Ngài bị khốn khổ… )

– Thiên Chúa đã muốn ông Mô-sê làm gì ? ( Ngài muốn ông đưa dân Ít-ra-en ra khỏi ách nô lệ ở Ai Cập ).

– Rồi ông Mô-sê có vâng lời Chúa không ? ( Ông Mô-sê đã theo lệnh Chúa, làm mọi cách để đấu tranh với vua Pha-ra-ô để dân Ít-ra-en được rời khỏi Ai Cập… Các em sẽ biết thêm chuyện này ở bài kế tiếp )

4. Tập hát:

Bài “Về Đất Hứa” ( Sách Giáo Lý Thêm Sức tập 1, trang 17 )

II. ĐÍCH ĐIỂM và XÁC TÍN:

Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây:

Thiên Chúa lo liệu cho dân Ngài đã chọn. Ngài đã chọn ông Áp-ra-ham để lên đường ra đi gầy dựng một dân tộc Ít-ra-en đông đúc. Rồi khi họ lâm vào cảnh khổ nô lệ, Ngài lại chọn ông Mô-sê đưa dân ra khỏi Ai Cập. Thiên Chúa luôn yêu thương dân của Ngài. Ngài làm mọi sự để chuẩn bị cho chương trình cứu độ. Ông Mô-sê chính là hình ảnh báo trước về Đức Giê-su, Đấng Cứu Độ sẽ đến sau này.

III. SINH HOẠT:

Trò chơi “Chúa gọi”. Luật chơi như sau: Điểm số 1, 2, 3, cứ ba em thành một tổ và chọn tên một vị Thánh có hai từ, ví dụ: Mô-sê, Mát-thêu, Gio-an… Đầu tiên, Giáo Lý Viên hô to: “Chúa gọi, Chúa gọi !” Tất cả hỏi lại thật đều và to: “Gọi ai, gọi ai ?” Giáo Lý Viên bảo: “Chúa gọi Mô-sê !” Em số 1 của tổ Mô-sê đáp ngay: “Dạ” rồi em số 2 nói tiếp: “Con” và em số 3 nói theo: “Đây”. Em số 1 lại nói ngay: “Chúa” rồi em số 2 nói tiếp: “Gọi” và em số 3 hô to tên một tổ khác, ví dụ: “Gio-an”. Cứ thế mà các tổ gọi nhau, em nào bị trễ nhịp, hoặc gọi sai, tổ của em ấy bị bắt một lỗi. Tổ nào bị bắt 3 lần là thua.

IV. TÂM TÌNH:

Sau khi sinh hoạt vui chơi thoải mái trong khoảng 10 phút, mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện: Xin Chúa cho chúng con luôn sẵn sàng nghe tiếng Chúa gọi và làm theo ý Ngài dạy như xưa ông Mô-sê đã vâng lời Chúa.

V. THỰC HÀNH:

Mỗi ngày em nhớ làm được ít nhất một việc tốt ( giúp đỡ cha mẹ, nhặt một viên gạch trên đường, nhường ghế trên xe đò cho một người già, để dành tiền chia sẻ cho người nghèo… )

Tu Sĩ HOÀNG VĂN HỢP, Dòng Xi-tô Châu Thủy

THIÊN CHÚA KẾT ƯỚC VÀ BAN LỀ LUẬT

I. KHỞI ĐIỂM:

1. Kể truyện:

Vào một buổi sáng khi bác nông dân bắt đầu ra đồng làm việc, cô bé gái yêu quý của bác chạy theo nài nỉ: “Bố ơi, bố nhớ mang về cho con một ít hoa dại để bày bàn thờ nhà mình, ngày mai con sẽ được lãnh nhận Bí Tích Thêm Sức đó !” Người cha vui vẻ và hứa khi đi làm về chắc chắn sẽ mang cho cô con gái mình món quà dễ thương vào dịp lễ trọng đại của cô.

Sau một ngày làm việc vất vả, khi mặt trời sắp lặn, bác nông dân vào vìa rừng lượm củi để về đốt, bác sực nhớ tời lời hứa với cô con gái, bác vội vã đi sâu vào trong rừng nơi có nhiều loại hoa dại rất đẹp. Tìm được rồi, bác cúi xuống định hái một bó hoa, bất chợt như có chiếc kim đâm, bác rụt tay lại và thấy ngay trước mặt một con rắn đầu hình vuông, một loài rắn khá độc. Biết mình đã bị nhiễm độc, bác vội rút ngay con dao phía sau lưng và nghiến răng chặt đứt luôn bàn tay bị rắn cắn. Sau khi buộc vết thương cẩn thận, bác gắng gượng chịu đau để vẫn nhớ hái cho được một bó hoa đem về con gái yêu quý…

2. Đặt câu hỏi hội thoại:

– Bác nông dân trong câu chuyện đã cho cô con gái món quà gì nhân ngày cô bé sắp chịu Bí Tích Thêm Sức ? ( Đó là một bó hoa dại để cắm trên bàn thờ gia đình ).

– Để giữ lời hứa có được món quà với cô con gái, bác nông dân đã gặp phải tai nạn gì ? ( Bác đã bị rắn cắn và phải chặt mất một bàn tay để chất độc không gây tử vong ).

– Còn món quà bác đã hứa thì sao ? ( Dù cánh tay hết sức đau đớn, bác vẫn nhớ hái cho được một bó hoa dại thật đẹp cho con gái ).

– Thiên Chúa cũng vậy, vì thương yêu con người, Ngài quyết trung thành giữ lời hứa, đó là Ngài sẽ cứu chuộc toàn thể nhân loại. Ngài đã tuyển chọn dân Ít-ra-en và kết ước với họ tại núi Si-nai, để từ dân tộc này, Chúa Giê-su, Người Con Một yêu dấu của Ngài sẽ được sinh ra, chịu chết thương đau để lập Giao Ước Mới với toàn thể nhân loại.

3. Tập hát:

Bài “Chúa Yêu Mọi Lúc” ( Nối Lửa Cho Đời tập 7, trang 25, số 40 )

4. Đọc Lời Chúa:

Giáo Lý Viên đọc trước rồi nhờ một em đọc lại, to và chậm rãi cho cả lớp, đoạn sách Xh 19, 4 – 8:

Từ trên núi, Đức Chúa phán với ông Mô-sê rằng: “Các ngươi thấy Ta đã xử với Ai Cập thế nào, và đã mang các ngươi như trên cánh chim bằng, mà đem đến với Ta. Vậy giờ đây, nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta. Vì toàn cõi đất đều là của Ta. Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một Dân Thánh. Đó là những lời ngươi sẽ nói với con cái Ít-ra-en”. Ông Mô-sê về triệu tập các kỳ mục trong dân, trình bày cho họ biết tất cả những lời Đức Chúa đã truyền cho ông. Toàn dân nhất trí đáp lại: “Mọi điều Đức Chúa phán bảo, chúng tôi xin làm theo”.

5. Khai triển bằng hội thoại:

– Nội dung của giao ước Si-nai là gì ? ( Thiên chúa nhận dân Ít-ra-en làm dân riêng của Ngài, và dân Ít-ra-en nhận Thiên Chúa là Thiên Chúa duy nhất, và chỉ tôn thờ một mình Ngài mà thôi )

– Để giúp dân Ít-ra-en sống trọn với Giao Ước Si-nai, Thiên Chúa còn làm gì ? ( Ngoài Giao Ước Si-nai, Thiên Chúa đã ban lề luật cho dân Ít-ra-en )

– Nội dung của lề luật là gì ? ( Nội dung ngay nay được Hội Thánh tóm lại trong kinh Mười Giới Răn, các em có thuộc không ? Tất cả chúng ta hãy cùng đọc.

II. ĐÍCH ĐIỂM và XÁC TÍN:

Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây: Sau khi thoát ách nô lệ ở Ai Cập, ông Mô-sê đưa dân Ít-ra-en lên đường về Đất Hứa. Tại núi Si-nai, Thiên Chúa đã kết ước với họ: Ngài nhận họ là Dân riêng của Ngài, còn họ thì tuyên hứa tôn thờ và vâng phục Ngài là Thiên Chúa độc nhất, và hết lòng tuân giữ lề luật Ngài ban là Mười Giới Răn.

III. TÂM TÌNH:

Mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện: “Cám ơn Chúa vì Chúa luôn yêu thương chúng con. Nhờ Bí Tích Thánh Tẩy mà chúng con được thuộc về Dân của Chúa. Xin ơn Chúa cho chúng con luôn hết lòng tuân giữ 10 Giới Răn của Chúa trong suốt cuộc đời”… Hát bài “Chúa Yêu Mọi Lúc”, có thể cho vỗ tay.

IV. THỰC HÀNH:

Học thuộc Mười Giới Răn của Thiên Chúa, và cố gắng thực hành trong tuần này Giới Răn thứ 8: trung thực, không nói dối, không lỗi lời hứa với ai ( Cũng có thể cho mỗi em được tự ý chọn một Giới Răn để sống ).

Tu Sĩ NGUYỄN VĂN THẮNG, Giáo Phận Bắc Ninh

DÂN CHÚA CẦU NGUYỆN
I. KHỞI ĐIỂM:
1. Kể truyện:
Trong cuộc chiến tranh ác liệt giữa nước Pháp và nước Đức năm 1870, tại một bệnh viện Pháp, có một thương binh vốn là một sĩ quan người Đức đang bị bắt làm tù binh, một hôm bác sĩ báo tin buồn cho ông ta biết: có lẽ ông sẽ không còn sống được bao lâu nữa vì vết thương ngày càng trầm trọng. Viên sĩ quan tỏ ra bất cần một cách ngạo nghễ và can đảm chờ đợi cái chết.

Thế rồi, có một chị Nữ Tu y tá Dòng Nữ Tử Bác Ái Vinh-sơn vốn chăm sóc anh ta đã lâu, ân cần ngỏ ý khuyên anh ta nên xin gặp một Linh Mục để dọn mình trước khi chết. Anh thú nhận mình là người Công Giáo nhưng đã bỏ Đạo từ lâu nên một mực từ chối lời đề nghị chân thành này. nhưng chị Nữ Tu vẫn dịu dàng nói: “Nếu vậy, tôi sẽ cầu nguyện xin Chúa cho ông mau hồi tâm trở về với Chúa.” Viên sĩ quan tỏ vẻ thương hại mỉa mai: “Tôi nghĩ là chị sẽ chỉ cực nhọc vô ích mà thôi…”

Chị Nữ Tu vẫn kiên nhẫn thuyết phục: “Tại sao ông lại hoài nghi về lời cầu nguyện ? Tôi xin thú thật với ông rằng: đã mười sáu năm nay, các chị em trong Dòng chúng tôi vẫn đang cầu nguyện cho một người được ơn trở lại cùng Chúa…”

Viên sĩ quan ngạc nhiên hỏi lại chị: “Mười sáu năm rồi cơ à ? Thế người được các chị cầu nguyện cho ấy có lẽ là một ân nhân của Nhà Dòng hoặc là một người thân của chị ?”

Chị Nữ Tu trả lời: “Không ông ạ ! Cho đến nay chúng tôi vẫn chưa hề gặp mặt người ấy bao giờ. Trước đây rất lâu, mẹ tôi là người hầu cho một bà nam tước người Đức. Trong một lần tôi tới thăm mẹ tôi, bà nam tước biết tôi là nữ tu nên đã khẩn khoản nhờ tôi cầu nguyện cho con trai của bà ấy. Anh ta đã mất lòng tin vào Chúa, sống một cuộc đời vô tín ngưỡng, phóng túng, đam mê danh vọng và quyền lực… Đã mười sáu năm trôi qua, tôi và cả Nhà Dòng vẫn kiên trì tin vào sự quan phòng yêu thương của Chúa mà cầu nguyện cho anh ta không ngừng. Mới đây, tôi nhận được tin của nữ nam tước cho biết anh ta hiện đang tham gia vào cuộc chiến phi nghĩa và man rợ này…”

Người sĩ quan nghe chuyện, cúi gục đầu thinh lặng. Rồi bất giác, anh ngửng lên gặng hỏi chị Nữ Tu: “Chị ơi, thế mẹ của chị có phải là bà An-na không ?” Chị Nữ Tu vô cùng ngạc nhiên: “Nhưng tại sao ông lại biết tên mẹ tôi ?”

Đến đây thì viên sĩ quan nghẹn ngào thú nhận tất cả: “Thưa chị, tôi chính là con trai của bà nam tước mà mẹ chị đã tận tụy hầu hạ lâu nay. Và như thế, tôi cũng chính là người mà chị và cả Nhà Dòng đã cầu nguyện cho trong suốt 16 năm nay mà không biết. Khi tôi lên đường ra trận, biết tôi muốn trở thành một viên tướng lừng danh, mẹ tôi đã tỏ ra thương xót tôi và thiết tha mong tôi sẽ thay đổi cuộc sống ảo tưởng mà quay trở về với Chúa như mẹ tôi đã từng khuyên nhủ bao lần. Lúc đó, tôi đã cười lớn mà chế nhạo sự ngu ngơ của mẹ tôi, cho đó chỉ là một sự mê tín dị đoan ấu trĩ. Nhưng… bây giờ thì tôi thật sự muốn khóc, khóc vì ân hận dầy vò…”

Và quả thật, viên sĩ quan đã khóc như một đứa trẻ, để rồi sau đó là những ngày cuối cùng thật hạnh phúc. Nhờ sự kiên trì cầu nguyện của mọi người, người con hoang đàng ấy đã trở về với Thiên Chúa là Cha nhân từ giàu lòng xót thương…

2. Đặt câu hỏi hội thoại:
– Những ai đã cầu nguyện để viên sĩ quan trở lại với Chúa ? ( Không phải chỉ có một bà mẹ anh ta, mà còn có chị Nữ Tu và cả mọi người trong cộng đoàn Nhà Dòng của chị Nữ Tu ấy đã cầu nguyện cho anh ta ).
– Và Chúa đã nhận những lời cầu nguyện ấy như thế nào ? ( Chúa đã an bài cho viên sĩ quan ra trận bị thương, về bệnh viện lại được chị Nữ Tu chăm sóc, rồi trong khi chị tìm cách khuyên bảo anh, anh biết được tất cả mọi người đã luôn cầu nguyện cho anh, anh xúc động và nhận ra ơn Chúa mà quay trở lại với Ngài… )
– Việc cầu nguyện là một điều rất cần thiết cho mọi người và nhất là khi việc cầu nguyện lại không phải chỉ do một cá nhân đơn độc, mà là được rất nhiều người, được cả cộng đoàn những người thành tâm tin vào Chúa cùng đồng lòng dâng lên lời khấn nguyện. Thiên Chúa là Đấng luôn yêu thương con người, chắc chắn Ngài nhận lời cầu nguyện ấy.
– Vậy cầu nguyện phải được hiểu là gì ? ( Cầu nguyện chính là trò chuyện tâm sự với Thiên Chúa là Đấng luôn sẵn sàng lắng nghe, là chân thành trình bày tất cả những nỗi buồn vui trong cuộc sống, những ưu tư nguyện ước của riêng mình hay của mọi người, của cả Hội Thánh lên Thiên Chúa, với một lòng tin chắc rằng Chúa đoái thương và nhận lời ban ơn… )

3. Tập hát:
Bài “Chắp Tay Nguyện Cầu” ( Nối Lửa Cho Đời tập 7, trang 03, số 06 ).
Có thể tập thêm cho các em làm cử điệu cầu nguyện khi hát.

4. Đọc Lời Chúa:
Có thể chép trước lên bảng, Giáo Lý Viên đọc trước một lần, rồi mời các em đọc lại một lần nữa đoạn Thư của Thánh Phao-lô Tông Đồ gửi cho cộng đoàn các tín hữu ở Ê-phê-xô sau đây ( Ep 5, 19 – 20 ): “Hãy cùng nhau đối đáp những bài Thánh Vịnh, Thánh Thi và Thánh Ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa. Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha.”

            5. Trình bày bài mới:
– Hôm nay, qua bài Giáo Lý này các em sẽ được học biết rằng ngay từ thời Cựu Ước, dân Ít-ra-en cũng đã đồng lòng cầu nguyện với Thiên Chúa. Một số tác giả đã viết ra hoặc đã ghi lại những lời cầu nguyện ấy thành một bộ gồm 150 bài giống như những bài vịnh, bài thơ, bài ca, gọi là các Thánh Vịnh.
– Qua nhiều thế hệ và năm tháng lịch sử, dân Ít-ra-en đã dùng các bài Thánh Vịnh ấy để diễn tả nhiều tâm tình khác nhau như: ca ngợi, kêu than hoặc tạ ơn Thiên Chúa.
– Ngày nay, trong Phụng Vụ, Hội Thánh vẫn dùng các Thánh Vịnh trong phần ca nhập lễ, đáp ca, ca hiệp lễ của Thánh Lễ, và trong các Giờ Kinh Phụng Vụ ( thường chỉ có các Linh Mục Tu Sĩ phải đọc mỗi ngày, gần đây, nhiều Giáo Xứ đã tổ chức cho cả các Giáo Dân cùng đọc )

II. ĐÍCH ĐIỂM và XÁC TÍN:
Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây:
Thiên Chúa luôn yêu thương Dân của Ngài. Ngài thấu hiểu tất cả nhưng Ngài vẫn muốn lắng nghe những lời cầu nguyện chân thành của chúng ta dâng lên Ngài. Và chắc chắn Ngài sẽ ban những ơn cần thiết cho chúng ta. Kinh Thánh là Lời Chúa nói với con người, còn cầu nguyện chính là lời con người nói với Thiên Chúa.

III. TÂM TÌNH:
            Có thể bài trí chuẩn bị trước một bàn phủ khăn trắng, nến thắp sáng, bình hoa tươi, và một cuốn Kinh Thánh mở ra đặt ở giữa. Các em quây quần thành hình bán cung. Đèn trong phòng tắt hết ( nếu lớp học vào buổi chiều tối ). Mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện. Giáo Lý Viên nói thay cho các em một lời mở đầu:

“Lạy Chúa, lâu nay, có thể chúng con chỉ đọc kinh nhiều mà rất ít khi trò chuyện tâm sự với Chúa. Hôm nay, các em học sinh Giáo Lý lớp chúng con muốn dâng lên Chúa những lời nguyện đơn sơ chân thành, chúng con tin Chúa đang muốn nghe lắm, và Chúa sẽ mỉm cười hài lòng…”

Sau đó để cho các em tự phát dâng lời nguyện, tránh không nên soạn trước rồi đưa cho các em đọc. Nếu các em chưa quen tự phát, có thể trước đó mời gọi các em tự soạn những lời tâm sự ngắn gọn, đơn sơ hồn nhiên với Chúa vào trong những tờ phiếu cầu nguyện, chọn lấy khoảng 5 lời và để các em đọc lên.

Cuối cùng, Giáo Lý Viên dâng lời kết. Tất cả được cử hành trang nghiêm nhưng sống động như một lời nguyện các tín hữu trong Thánh Lễ. Hát và làm cử điệu bài “Chắp Tay Nguyện Cầu”.

IV. THỰC HÀNH:
Mỗi sáng, vừa khi thức dậy, em nhớ nói: “Con xin chào Chúa, xin chúc lành cho ngày hôm nay của con”. Mỗi tối, trước khi đi ngủ, em nhớ thưa: “Con cám ơn Chúa về một ngày tốt lành đã qua”.

Tu Sĩ NGUYỄN VĂN HIỂN, Dòng Đa-minh

 

 

THIÊN CHÚA NÓI VỚI DÂN NGƯỜI QUA CÁC NGÔN SỨ
I. KHỞI ĐIỂM:
1. Kể truyện:
Một buổi chiều, có một lữ khách nghèo tìm đến trước một dinh thự nằm ở ven một khu rừng để xin trọ qua đêm vì lỡ độ đường. Không ngờ đây lại là nơi nghỉ chân sau những chuyến đi săn của một nhà quý tộc giàu có nhưng nổi tiếng là hết sức keo kiệt ích kỷ. Thế là đích thân chủ nhà ra xua đuổi không thương tiếc: “Đây là dinh thự của ta chứ không phải là nhà trọ mà ai muốn vào ở cũng được !” Cánh cửa đóng xập lại ngay. Nhưng người khách lạ vẫn kiên nhẫn đập cửa mãi cho đến khi nhà quý tộc lại phải ra mở cửa quát tháo to tiếng. Người khách vẫn từ tốn đề nghị: “Thưa ngài, xin ngài bình tĩnh bớt giận, xin phép cho tôi hỏi ngài 3 câu, nếu như ngài là một người thông minh trả lời được thì tôi sẽ xin đi khỏi đây ngay !”

Nhà quý tộc nổi máu tự ái nên nhận lời, vẫn chắc mẩm mình sẽ thắng. Người khách bắt đầu hỏi câu thứ nhất: “Ai đã ở trong dinh thự này trước ngài ?” Nhà quý tộc trả lời được ngay: “Cha ta đã ở đây chứ ai ?” Người khách lại hỏi câu thứ hai: “Thế ai đã ở đây trước ông thân sinh của ngài ?” Nhà quý tộc ngẩn ngơ không biết trả lời thế nào, vì cha con ông ta chỉ mới làm chủ tòa dinh thự này sau khi người chủ quý tộc trước đây đã bị phá sản rồi tự tử chết đã rất lâu. Đến đây thì người khách mới nói: “Nếu vậy thì cha ngài và cả ngài nữa, cũng chỉ là những người khách trọ ở đây trong một thời gian nào đó, rồi đến một ngày chính ngài cũng phải nhường lại cho một chủ nhân khác. Hóa ra cái dinh thự nguy nga này cũng chẳng khác gì một thứ quán trọ…”

Người khách lạ nhận ra đã có sự đánh động sâu xa nơi nhà quý tộc, ông ta ngỏ lời: “Vì vậy, tôi thành thật khuyên ngài đừng quá phung phí tiền bạc để làm đẹp và chỉ bo bo giữ lấy cho riêng mình một cái quán trọ tạm bợ chóng qua như thế này. Ngược lại, tôi nghĩ ngài nên cởi mở tấm lòng để giúp đỡ những người nghèo khổ và cơ nhỡ thiếu thốn. Và như thế, chính là ngài đã biết chuẩn bị sửa soạn cho một chỗ ở vĩnh cửu đời sau trên Nước Trời…”

2. Đặt câu hỏi hội thoại:
– Nhà quý tộc giàu có là con người như thế nào ? ( Ông ta sống quá ích kỷ và keo kiệt, không biết giúp đỡ khách lỡ độ đường )
– Câu truyện không kể hết, nhưng hãy thử đoán xem sau đó ông ta sẽ thay đổi ra sao ? ( Ông ta sẽ nhận ra lỗi lầm của mình, mời khách lạ vào nhà, và từ đó về sau, ông ta sẽ sống vị tha bác ái hơn ).
– Người khách lạ đã dựa vào đâu để phân tích giảng giải cho nhà quý tộc ? ( Ông ta đã dựa vào Lời Chúa )
– Vậy chúng ta có thể gọi người khách lạ ấy là một vị sứ giả được Chúa sai đến để cảnh tỉnh nhà quý tộc không ? Kinh Thánh Cựu Ước gọi những người được Thiên Chúa chọn để làm sứ giả nói Lời Chúa cho Dân của Ngài là các vị Ngôn Sứ ).
– Hôm nay, các em sẽ học về các Ngôn Sứ được Thiên Chúa sai đến với Dân Ít-ra-en trong Cựu Ước.

3. Đọc Lời Chúa:
Có thể chuẩn bị trước, mời một em trong lớp có giọng đọc tốt để đóng vai Ngôn Sứ Giê-rê-mi-a, còn Giáo Lý Viên đóng vai Chúa trong đoạn Sách Giê-rê-mi-a sau đây ( Gr 1, 5 – 9 ): Có lời Đức Chúa phán với tôi rằng: “Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi. Trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân.” Nhưng tôi thưa: “Ôi ! Lạy Đức Chúa là Chúa Thượng, con đây còn quá trẻ, con không biết ăn nói !” Đức Chúa phán với tôi: “Đừng nói ngươi còn trẻ ! Ta sai ngươi đi đâu, ngươi cứ đi; Ta truyền cho ngươi nói gì, ngươi cứ nói. Đừng sợ chúng, vì Ta ở với ngươi để giải thoát ngươi”… Rồi Đức Chúa giơ tay chạm vào miệng tôi và phán: “Đây Ta đặt lời Ta vào miệng ngươi…”

4. Khai triển bằng hội thoại:
– Mỗi thời đại, mỗi hoàn cảnh, nhất là những lúc khó khăn, Thiên Chúa vẫn chọn và sai các sứ giả của Ngài đến để cảnh tỉnh những lỗi lầm, và csoi sáng củng cố Lòng Tin của dân Ít-ra-en trong Cựu Ước. Họ được gọi là các vị Ngôn Sứ ( trước đây quen gọi là các vị Tiên Tri ).
– Các em có thể kể tên một số các vị Ngôn Sứ mà các em đã nghe biết không ? ( Mời các em bên nam, rồi lại mời bên nữ, mỗi bên thi đua kể tên các Ngôn Sứ các em biết, ví dụ: Ê-li-a, Ê-li-sê-ô, A-mốt, Ô-sê, Na-than, I-sai-a đệ nhất, Mi-kha, Giê-rê-mi-a, Ê-giê-ki-en, I-sai-a đệ nhị, Ma-la-khi… Sau mỗi vị được nêu, Giáo Lý Viên có thể viết tên vị ấy lên bảng, tóm tắt một chút về cuộc đời, hoặc kể lại một lời nói của vị ấy… )
– Các Ngôn Sứ đề cập với mọi người về 2 chuyện chính: Thứ nhất, hãy tôn thờ một mình Thiên Chúa và yêu thương mọi người, nhất là những người nghèo khó và bất hạnh. Thứ hai, loan báo Ơn Đức Độ của Thiên Chúa sẽ được thực hiện nhờ một Đấng Cứu Thế ( chính là Đức Giê-su của Tân Ước sẽ đến sau này ).
– Các Ngôn Sứ đã nói lại Lời Chúa một cách thẳng thắn và mạnh mẽ, nên họ thường bị dân chúng bạc đãi xua đuổi, bị các vua bắt bớ.

II. ĐÍCH ĐIỂM và XÁC TÍN:
Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây: Thiên Chúa luôn yêu thương Dân Ngài. Ngài đã chọn và sai các Ngôn Sứ đến nói với Dân Ít-ra-en để giúp họ mau sám hối quay về, hoặc để họ được vững lòng cậy trông qua mọi thử thách.

III. TÂM TÌNH:
                Mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện. Giáo Lý Viên cầu nguyện thay cho các em: “Cám ơn Chúa Cha đã gửi Đức Giê-su là vị Ngôn Sứ tối cao và cuối cùng đến với nhân loại chúng con. Xin cho chúng con biết vâng nghe Lời Người qua các bài học Giáo Lý, qua Tin Mừng trong Thánh Lễ, qua các lời dạy dỗ của cha mẹ, thầy cô…”

IV. THỰC HÀNH:
Tự chọn và chép vào vở một lời dạy dỗ của Chúa Giê-su, và cố gắng đem ra thực hành trong đời sống, ví dụ một trong các câu sau đây:
– Về sự cầu nguyện: “Ai xin thì sẽ được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho” ( Lc 11, 9 ).
– Về sự khiêm tốn: “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên” ( Lc 14, 11 ).
– Về tinh thần phục vụ: “Thầy đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ” ( Mc 10, 41 ).
­- Về tình yêu thương: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” ( Ga 15, 12 ).

V. SINH HOẠT:
Cho các em chơi trò chơi “Ngôn Sứ Bảo Thì Làm”. Quản trò đóng vai Ngôn Sứ hô: “Tôi bảo đứng !” Mọi người phải đứng. Quản trò bất ngờ không nói “Tôi bảo” mà chỉ hô: “Ngồi xuống !”, những ai lỡ ngồi xuống thì sẽ bị phạt sau khi trò chơi đã kết thúc. Cứ thế quản trò cứ đổi hành động và khẩu lệnh ngày một nhanh cho đến khi có được khoảng 10 em bị phạt thì chuyển sang trò chơi phạt.

Tu Sĩ NGUYỄN VĂN NGHỊ, Dòng Xi-tô Châu Thủy

THIÊN CHÚA ĐẶT CÁC VUA CAI TRỊ DÂN NGƯỜI

I. KHỞI ĐIỂM:

1. Kể truyện:

Quận công Philippe d’Anjou, sau khi lên ngôi hoàng đế của cường quốc Tây-ban-nha, hễ đi kinh lý đến đâu cũng đều được thần dân tung hô vạn tuế vang trời dậy đất. Nhà vua vốn là người bình dân, ngoan đạo và khiêm tốn, ngài đã nhiều lần tỏ ra bực bội khi phải nghe những bài diễn văn chúc mừng quá dài dòng và quá văn hoa trải chuốt đến mức giả tạo của những kẻ nịnh thần chỉ mong thủ lợi.

Một lần nọ, nhà vua đến thăm một Họ Đạo nhỏ. Cha Sở đã tổ chức nghi thức nghênh đón xa giá một cách đơn sơ nhưng vẫn trang trọng. Cha tiến ra chân thành đọc lời chào mừng thật giản dị và ngắn gọn: “Tâu hoàng đế, thay cho những bài diễn văn chúc tụng như ở mọi nơi, tôi chỉ xin phép thay mặt toàn thể Họ Đạo để hát mừng ngài 2 câu thơ, nói đúng hơn, là một lời cầu nguyện với Thiên Chúa như sau:

“Nguyện xin Thiên Chúa độ trì,
Đức Vua trường thọ trị vì muôn dân”.

Vừa dứt lời, nhà vua lấy làm vui sướng vô cùng, khuôn mặt rạng rỡ, ngài thốt kêu lên như truyền một mệnh lệnh khả ái: “Nào, hãy thêm một lần nữa !” Cha Sở lập lại bài thơ một lần nữa, giọng ngân nga trầm bổng. Nhà vua liền gọi cận thần tùy tùng đến ra lệnh trao thưởng một món tiền lớn cho Họ Đạo để Cha Sở có thể dùng vào việc từ thiện bác ái cho người nghèo trong Họ Đạo.

Lần này thì Cha Sở cũng kêu lên thật to: “Thêm một lần nữa chứ ạ !” Hết sức thấm ý, nhà vua tủm tỉm cười, quyết định trao tặng thêm gấp đôi số tiền ban nãy cho toàn Họ Đạo.

Đất nước Tây Ban Nha dưới triều đại trị vì của nhà vua đã luôn được thịnh trị thái bình, trăm họ an cư lạc nghiệp, đạo giáo được đề cao. Ai cũng khen ngợi nhà vua là một minh quân được Thiên Chúa độ trì.

2. Đặt câu hỏi hội thoại:

– Trong câu truyện trên, ai là người có trách nhiệm lãnh đạo và hướng dẫn dân tộc và đất nước ? ( Đó là vua nước Tây Ban Nha )

– Thế còn trong gia đình thì sao ? ( Bố mẹ chính là người đứng đầu )

– Trong một Giáo Xứ ? ( Chính là cha xứ ) Trong một Giáo Phận ? ( Chính là Đức Giám Mục )

– Trong một gia đình, trong một Giáo Xứ, Giáo Phận hoặc trong một nước, nếu như không có người coi sóc hướng dẫn, thì tình trạng sẽ ra sao ? ( Rất lộn xộn, xáo trộn lung tung, có thể đưa tới hỗn loạn ).

– Cũng vậy, trong thời Cựu Ước, Thiên Chúa cũng đã gián tiếp chăm sóc, lãnh đạo, hướng dẫn dân Ít-ra-en thông qua các vị thẩm phán, rồi đến các vua cho chính Thiên Chúa tuyển chọn.

– Ai có thể kể tên tên một vài vị thẩm phán, một vài vị vua nổi tiếng của dân Ít-ra-en trong Cựu Ước ? ( Ba vị thẩm phán nổi tiếng của dân Ít-ra-en là: Ghê-đê-ôn, Sam-sôn và Sa-mu-en. Còn ba vị vua đầu tiên chính là: Sao-lê, Đa-vít và Sa-lô-môn. Đặc biệt, vua Đa-vít được coi là vị lãnh đạo xuất sắc vì vua hết lòng tin thờ Thiên Chúa và yêu mến dân, làm cho đất nước Ít-ra-en vừa đạo đức vừa hưng thịnh… ).

– Còn đến thời Tân Ước thì sao ? Ai là người được Thiên Chúa ủy thác lo liệu cho dân của Ngài ? ( Ngay từ thời vua Đa-vít, Thiên Chúa đã hứa ban cho triều đại của vua sẽ được trường tồn và phát triển vững mạnh, và một người sau này, xuất phát từ giòng dõi của vua Đa-vít, sẽ là vua muôn dân tộc, vua cả vũ trụ càn khôn. Đó chính là lời tiên báo về Đức Giê-su, là Con Thiên Chúa nhập thể làm người, sẽ chết và phục sinh trong vinh quang… )

3. Tập hát:

Bài “Tôn Vinh Giê-su” ( Nối Lửa Cho Đời tập 7, trang 06, bài 11 ) hoặc bài “Ta Là Vua” ( Sách Giáo Lý Thêm Sức tập 1 trang 25, có trong CD Vang Ca Tin Mừng Thêm Sức 1 )

4. Đọc Lời Chúa:

Giáo Lý Viên đọc to cho các em nghe đoạn 2 Sm 5, 1 – 3:

Toàn thể các chi tộc Ít-ra-en đến gặp vua Đa-vít tại Khép-rôn và thưa: “Chúng tôi đây là cốt nhục của ngài. Ngay cả trước kia, khi ông Sa-un làm vua cai trị chúng tôi, chính ngài đã chỉ huy các cuộc hành quân của Ít-ra-en. Đức Chúa đã phán với ngài: Chính ngươi sẽ chăn dắt Ít-ra-en, dân Ta, chính ngươi sẽ là người lãnh đạo Ít-ra-en.”

Toàn thể kỳ mục Ít-ra-en đến gặp vua tại Khép-rôn. Vua Đa-vít lập giao ước với họ tại Khép-rôn, trước nhan Đức Chúa. Rồi họ xức dầu tấn phong Đa-vít làm vua Ít-ra-en.

II. ĐÍCH ĐIỂM và XÁC TÍN:

Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây:

Thiên Chúa luôn yêu thương chăm sóc dân của Ngài. Thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã chọn các vị vua để thay mặt Ngài lãnh đạo dân tộc và đất nước Ít-ra-en sống theo lề luật và đạo lý của Ngài. Từ thời Tân Ước cho đến tận thế, Đức Giê-su Ki-tô, Ngôi Hai Thiên Chúa chính là Vua của cả vũ trụ.

III. TÂM TÌNH:

Mời các em đứng lên, Giáo Lý Viên dẫn vào bầu khí cầu nguyện với 2 ý:

– Tạ ơn Thiên Chúa vì Ngài vẫn luôn yêu thương chúng con.

– Tôn vinh Đức Giê-su là Vua của muôn dân nước, của vũ trụ, của chính mỗi người chúng con.

Giáo Lý Viên có thể mời các em hát lại bài “Tôn Vinh Giê-su” đã tập và hát ban nãy.

IV. THỰC HÀNH:

– Em ngoan ngoãn vâng lời cha mẹ anh chị trong gia đình, và các thầy cô ở trường học, ở lớp Giáo Lý.

– Khi tham dự Thánh Lễ, em lắng nghe, ghi nhớ và thực hành những lời Linh Mục giảng dạy.

Tu Sĩ NGUYỄN CHẤN HỒNG, Dòng Gio-an Thiên Chúa

DÂN THIÊN CHÚA CHIA RẼ VÀ BỊ LƯU ĐÀY

I. KHỞI ĐIỂM:

1. Kể truyện:

KN8 1912, khi con tàu khổng lồ mang tên Titanic vừa được xuất xưởng và hạ thủy, người ta có thể đọc thấy dọc theo sườn con tầu lộng lẫy sa hoa và trang bị hết sức hiện đại ấy có vẽ sơn những câu khẩu hiệu đầy kiêu căng ngạo mạn như sau: “Không có Chúa, cũng chẳng có Giáo Hoàng !” và “Ngay đến Đức Ki-tô cũng không tài nào đánh đắm con tàu này. Cả trời lẫn đất cũng không thể khiến chúng ta bị nhận chìm !”

Ngay khi ấy, một trong các công nhân đóng tàu, vốn là một người Công Giáo ở Anh đã ghi vào trong nhật ký của mình như một lời tiên báo: “Vì những tội xúc phạm ghê gớm đó, tôi tin là con tàu Titanic này sẽ không bao giờ tới được bến bờ nó muốn đến”.

Và quả không sai, vào lúc 0 giờ 5 phút ngày 14.4.1912, đúng vào một Chúa Nhật trong mùa Phục Sinh, đang khi chủ tàu và các hành khách giàu có vui chơi tiệc tùng, thì tàu Titanic đã mất cảnh giác, va chạm mạnh với một tảng băng khổng lồ giữa đại dương, nó thủng một lỗ lớn rồi gãy đôi. Người ta chỉ vớt được 705 người sống sót, còn 1.502 người thì đã phải chết theo con tàu kiêu hãnh đến mức phạm thượng ấy…

Sau đó mấy ngày, một tờ báo lớn ở Anh đưa tin kèm theo một bức tranh hí họa đầy ý nghĩa: Hình vẽ con tàu nhỏ nhoi so với một tảng băng khổng lồ, có ý so sánh thân phận mong manh của con người với quyền năng vĩ đại của Thiên Chúa. Sự kiện thảm khốc đã xảy ra, không ai dám đổ trách nhiệm cho Thiên Chúa đã trừng phạt con tàu và những kẻ sản xuất ra nó, nhưng người ta chỉ có thể khẳng định rằng: chính sự tự mãn vênh vang của con người đã tự đánh chìm mình…

2. Đặt câu hỏi hội thoại:

– Con tàu Titanic bị phá hủy có phải là do Thiên Chúa trừng phạt không ? ( Không phải Thiên Chúa đã trừng phạt, nhưng là chính sự kiêu căng ngạo mạn của con người đã tự tiêu diệt mình. Họ cứ tưởng đã làm được một con tàu quá lớnmạnh, an toàn và quá sang trọng, coi như đã vượt cả quyền năng của Thiên Chúa. Ngờ đâu nó đã đụng phải một tảng băng còn lớn, cứng, mạnh mẽ hơn nó nhiều, và thế là tan tành và hủy diệt tất cả ).

– Vậy, những người chế tạo và điều khiển con tàu ấy đã có thể thoát khỏi tai nạn kinh khủng ấy hay không ? ( Giá như họ khiêm tốn hơn, họ sẽ không quá chủ quan, nhưng sẽ cản thận đề phòng cảnh giác, và nhờ thế họ sẽ có thể tránh được rủi ro chết người ).

3. Tập hát:

Bài “Lưu Đày Sa Mạc” ( Sách Giáo Lý Thêm Sức tập 1, trang 34 )

4. Khai triển bằng hội thoại:

– Hôm nay các em cũng sẽ học biết về một thảm họa tương tự cho dân Ít-ra-en thời Cựu Ước ( Trước khi soạn bài này và dạy ở lớp, Giáo Lý Viên nên đọc trước các truyện về vua Sa-lô-môn, về các vua sau đó và về đất nước Ít-ra-en trong sách Các Vua quyển 1 và quyển 2 ).

– Các em đã biết, sau triều đại rực rỡ của vua Đa-vít, vua Sa-lô-môn kế vị. Ông là một người được Ơn Chúa đặc biệt khôn ngoan và thông minh, đã hoàn tất việc xây dựng Đền Thờ Giê-ru-sa-lem và cung điện, phát triển nghề buôn bán bằng đường biển, giúp cho đất nước Pa-lét-tin trở nên hết sức hùng cường.

– Thế nhưng, khi đã quá sung sướng sa hoa, vua Sa-lô-môn lại lần lượt cưới rất nhiều bà vợ ngoại giáo, rồi nghe lời họ xúi giục, đã bỏ Thiên Chúa mà đi xây cả đền thờ cho các tà thần.

– Các em có đoàn được hôm qua sẽ ra sao không ? ( Đất nước Ít-ra-en sẽ ngày một rối loạn và chia rẽ, dân chúng ngày một đói khổ ).

– Đúng rồi, các đời vua kế tiếp vua Sa-lô-môn lại càng bất tuân Thiên Chúa, ăn chơi trác táng, bóc lột tàn bạo. Đất nước liên tục bị mất mùa và hạn hán, lại bị các phe chia cắt làm hai trong suốt 200 năm, và cuối cùng cả hai miền Nam – Bắc đều bị các đế quốc chung quanh thôn tính. Dân bị đưa đi lưu đày ở đất lạ quê người trăm ngàn tủi cực.

– Như vậy, các em thấy chuyện dân Ít-ra-en bị chia rẽ và lưu đày với chuyện con tàu Titanic bị chìm giống nhau ở điểm nào ? ( Các vua cũng giống các kỹ sư đóng tàu và những người điều khiển con tàu Titanic, và cả một số lớn các hành khách, họ không còn tin cậy vào Thiên Chúa, nhưng bị ngả theo sự kiêu căng ngạo mạn, tôn thờ tà thần… )

– Và hậu quả ra sao ? ( Con tàu Titanic thì chìm nghỉm, còn dân Ít-ra-en đã bị mất nước và lưu đày ).

4. Đọc Lời Chúa:

Giáo Lý Viên đọc cho các em đoạn Sách Các Vua quyển thứ 2 ( 2 V 24, 11

– 12 và 14 ): Khi ấy, các thuộc hạ của vua Na-bu-cô-đô-nô-xo, vua Ba-bi-lon, tiến lên đánh Giê-ru-sa-lem, và thành bị vây hãm. Vua Na-bu-cô-đô-nô-xo, vua Ba-bi-lon, đến đánh thành, trong khi các thuộc hạ của vua vây hãm thành. Vua Giơ-hô-gia-khin, vua Giu-đa, cùng với mẹ vua, các thuộc hạ, các tướng lãnh và thái giám của vua ra hàng vua Ba-bi-lon. Vua đã bị bắt vào năm thứ tám triều vua Ba-bi-lon. Vua bắt toàn thể Giê-ru-sa-lem, mọi tướng lãnh và mọi dũng sĩ đi đày, tất cả là mười ngàn người phải đi đày, cùng với mọi thợ rèn và thợ làm khoá; không sót lại một ai, trừ dân cùng đinh trong xứ.

II. ĐÍCH ĐIỂM và XÁC TÍN:

Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây:
Các vua và dân Ít-ra-en mải mê tận hưởng sự giàu sang hùng mạnh của đất nước, họ đã vô ơn, kiêu căng, bất tuân, bỏ Thiên Chúa mà đi thờ các tà thần. Và đất nước đã bị chia rẽ và sụp đổ, cả dân tộc bị lưu đày khốn khổ. Thiên Chúa luôn yêu thương Dân của Ngài, Ngài không hề trừng phạt ai vì tội lỗi họ đã phạm, nhưng Ngài đã muốn cho họ biết sám hối trở về với Ngài sau khi phải gánh chịu những hậu quả thương đau.

III. TÂM TÌNH:

Mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện. Giáo Lý Viên dâng thay các em theo 2 ý nguyện sau:

– Xin lỗi Chúa vì tội lỗi của nhân loại đối với Chúa.
– Xin Chúa ban ơn gìn giữ Hội Thánh được luôn hiệp nhất.

IV. THỰC HÀNH:

– Không tham ăn giành uống, không ăn cắp vặt.

Lm. TRẦN CAO CHỈ, Dòng Chúa Cứu Thế

 

 

THIÊN CHÚA NHẮC LẠI LỜI HỨA BAN ƠN CỨU ĐỘ

I. KHỞI ĐIỂM:
1. Đọc truyện:
Đức Hồng Y Fulton Sheen có thuật lại một câu chuyện như sau:
“Tại Nam-tư, trong một lần giúp lễ, một chú bé đã vô ý xẩy tay đánh rơi vỡ chiếc lọ nước, vị Linh Mục đang dâng lễ đã tức giận tát cậu bé giúp lễ và quát mắng: “Cút xéo ngay và đừng bao giờ trở lại đây nữa !” Và quả thật, chú bé tủi thân uất ức ấy đã không bao giờ trở lại nữa. Lớn lên, chú trở thành một vị lãnh tụ độc tài vô thần nổi tiếng của đất nước Nam Tư. Chú bé ấy tên là Tito.

“Còn về phần mình, tôi nhớ khi mình còn là chú bé giúp lễ 7 tuổi ở Nhà Thờ Chính Tòa cho Đức Cha. Một lần nọ, tôi cũng đánh rơi chiếc lọ đựng rượu lễ. Tôi đã sợ hãi tưởng chết đi được vì biết rõ tính khí của Đức Cha rất nghiêm khắc đối với những chuyện vô ý vô tứ như thế này.
Thế nhưng tôi đã không bị tát tai và đuổi đi một cách nhục nhã… Ngược lại, sau Thánh Lễ, đang khi tôi còn hồi hộp chờ để lãnh một hình phạt còn ghê gớm nặng nề hơn là một cái tát tai hay sẽ bị đuổi cổ từ nay không được làm lễ sinh nữa, thì không ngờ Đức Cha lại gọi tôi tới để ôn tồn dặn dò tôi phải biết cản thận hơn khi giúp lễ.

Cuối cùng ngài lại còn hỏi tôi: “Lớn lên con dự tính sẽ học ở trường nào ?” Rồi ngài nói tiếp luôn: “Thế đã bao giờ con nghe nói đến Louvain chưa nhỉ ?” Tôi rụt rè trả lời, lòng đã thấy bớt sợ: “Thưa Đức Cha, chưa ạ !” Biết hoàn cảnh gia đình tôi nghèo lại phải mồ côi bố từ bé, ngài dõi mắt nhìn xa xăm, miệng tủm tỉm cười: “Vậy, con hãy về thưa với mẹ con rằng, lớn lên Đức Cha hứa sẽ giúp cho con có điều kiện được vào học tại trường Đại Học Louvain ở nước Bỉ nhé !”
Không ngờ lớn lên, từ chú giúp lễ, tôi đã xin Đức Cha cho đi tu, và 2 năm sau khi chịu chức Linh Mục, tôi đã được Đức Cha chỉ định đi học tại Đại Học Louvain. Cũng một sự kiện, một lỗi lầm như nhau, nhưng tôi đã đi về hướng này, còn ông Tito thì đi về hướng ngược lại…”

2. Đặt câu hỏi hội thoại:
– Các em thấy trong câu truyện do Đức Hồng Y Fulton Sheen kể lại: 2 chú bé lễ sinh đều phạm lỗi lầm là đánh vỡ lọ nước trong khi giúp lễ, nhưng lỗi lầm ấy có đáng bị phạt nặng không ? ( Đúng là lỗi lầm nào cũng dẫn tới một hình phạt, nhưng ở đây, trường hợp chú bé Tito thì không đáng bị Cha Sở quá nóng giận mà tát tai và đuổi ngay trong Thánh Lễ như thế ).
– Còn đối với trường hợp chú bé Fulton Sheen thì sao ? ( Bản thân chú nghĩ sẽ bị phạt nặng lắm, vì ở đây không phải là Cha Sở mà là một Đức Cha nổi tiếng nghiêm khắc. Thế nhưng, Đức cha lại không nổi nóng và trừng phạt, sau Lễ ngài đã nhắc nhở ôn tồn, lại hỏi han và hứa sẽ giúp cho chú bé được ăn học chu đáo… )
– Thế Đức Cha sau này có nhớ lời hứa ấy không ? ( Đức Cha đã nhớ và giữ lời hứa, chú bé giúp lễ ngày xưa đã được nhận đi tu, làm Linh Mục, lại được du học ở một trường đại học Công Giáo nổi tiếng, và rồi đã trở thành một Đức Hồng Y, Tổng Giám Mục Giáo Phận New York, nước Mỹ, có công lớn trong Công Đồng Vatican 2 ).
– hôm nay, các em sẽ học bài mới: “Thiên Chúa nhắc lại lời hứa ban Ơn Đức Độ”. Các em sẽ thấy một chuyện tương tự, nhưng vĩ đại lớn lao hơn rất nhiều: đó là Thiên Chúa cũng không ra tay trừng phạt nặng nề khi Dân của Ngài phản bội, Ngài vẫn giữ lời hứa sẽ ban Đấng Cứu Độ cho Ít-ra-en…

3. Tập hát:
Bài “Chúa Thương Vô Bờ” ( Nối Lửa Cho Đời tập 7, trang 4, số 08 )

4. Khai triển bằng hội thoại:
– Chuyện mấy chú bé giúp lễ làm vỡ lọ nước chỉ là một lỗi lầm quá nhỏ so với tội lỗi của dân Ít-ra-en.
– Ai có thể nhắc lại những tội lỗi sai trái của dân Ít-ra-en mà chúng ta đã biết trong bài Giáo Lý trước ? ( Họ đã bất tuân Thiên Chúa, không giữ các giới răn, thờ tà thần, chia rẽ, ganh ghét, tham lam, độc ác, sa hoa trụy lạc, để đến nỗi mất nước và phải bị lưu đày biệt xứ… )
– Dân Ít-ra-en bị như thế có phải là do Thiên Chúa nổi giận và trừng phạt họ không ? ( Chuyện mất nước và lưu đày không phải là do Thiên Chúa trừng phạt, nhưng hậu quả đó là chuyện đương nhiên dành cho một dân tộc chia rẽ và một quốc gia suy yếu. Tuy nhiên, dân Ít-ra-en bị lưu đày ở Ba-bi-lon đã có thời gian để suy xét ngẫm nghĩ, họ sám hối và nhận ra tội lỗi của họ đối với Thiên Chúa ).
– Dân Ít-ra-en lưu đày đã cố gắng làm được những việc gì quan trọng ? ( Họ đã ghi chép soạn thảo lại tất cả những việc Chúa làm và đã nói với họ thành bộ Sách Kinh Thánh. Họ cũng lập ra các Hội Đường để tập họp thành cộng đoàn nghe đọc Lời Chúa và cầu nguyện mỗi dịp lể Sa-bát cuối tuần ).
– Và Thiên Chúa quả thật vẫn thương yêu Dân của Ngài, Ngài lần lượt gửi đến với họ những vị Ngôn Sứ để dạy dỗ, an ủi và khơi lên niềm hy vọng vào một Đấng Cứu Thế sẽ được Ngài gửi đến để cứu vớt họ như chúng ta sẽ nghe đọc lời Kinh Thánh sau đây:

5. Đọc Lời Chúa:
Giáo Lý Viên đọc to và dõng dạc đoạn trích Sách Ngôn Sứ I-sai-a ( Is 40, 3 – 5 ):
Có tiếng hô: “Trong sa mạc, hãy mở một con đường cho Đức Chúa, giữa đồng hoang, hãy vạch một con lộ thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta. Mọi thung lũng sẽ được lấp đầy, mọi núi đồi sẽ phải bạt xuống, nơi lồi lõm sẽ hoá thành đồng bằng, chốn gồ ghề nên vùng đất phẳng phiu. Bấy giờ vinh quang Đức Chúa sẽ tỏ hiện, và mọi người phàm sẽ cùng được thấy rằng miệng Đức Chúa đã tuyên phán.”

II. ĐÍCH ĐIỂM và XÁC TÍN:
Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây:
Thiên Chúa vẫn luôn yêu thương và trung thành với Dân của Ngài. Ngài gửi đến các vị Ngôn Sứ để nhắc lại Lời Hứa sẽ ban Đấng Cứu Độ ( sau này chính là Đức Giê-su của thời Tân Ước ).

III. TÂM TÌNH:
            Mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện:
– Cảm tạ Chúa Cha vì Ngài vẫn luôn rủ tình thương xót chúng ta. Cảm tạ Chúa Giê-su vì Ngài đã đến để cứu độ chúng ta. Cảm tạ Chúa Thánh Thần vì Ngài luôn hướng dẫn chúng ta biết sống yêu thương, xứng đáng với Ơn Đức Độ của Thiên Chúa.

IV. THỰC HÀNH:
– Mỗi khi trót phạm một lỗi lầm nào đó với ai ( cha mẹ, thầy cô, anh chị, người lớn, bạn bè… ), em hãy xin lỗi người ấy ngay.
– Khi tham dự Thánh Lễ, em đọc kinh cáo mình một cách sốt sắng và có ý thức về những lỗi lầm của mình, xin Chúa thứ tha.

Lm PHẠM HỒNG TÀI, DCCT

NHỮNG HÌNH ẢNH VỀ ĐẤNG CỨU ĐỘ


I. KHỞI ĐIỂM:

1. Đặt câu hỏi hội thoại:
– Buổi học trước, chúng ta Đã Được học về điều gì ? ( Thiên Chúa nhắc lại Lời Hứa Sẽ ban Đấng Cứu Độ cho dân Ít-ra-en trong thời gian họ còn đang bị lưu đày ).
– Thiên Chúa đã dùng ai để nói thay Ngài về điều quan trọng đó ( Thiên Chúa đã dùng các vị Ngôn Sứ ).
– Hôm nay chúng ta sẽ đào sâu hơn vấn đề: tìm hiểu xem các Ngôn Sứ đã dùng những hình ảnh nào để nói về Đấng Cứu Độ sẽ đến.

2. Đọc truyện:

Các em nghe đọc lại câu truyện sau đây của Mẹ Tê-rê-xa thành Calcutta như sau ( có thể vắn tắt giới thiệu về Mẹ Tê-rê-xa để các em không lầm với Thánh Nữ Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su ):

“Một hôm, có một cô thiếu nữ đã tìm đến Ấn-độ xin gia nhập Dòng Thừa Sai Bác Aùi của chúng tôi. Chúng tôi có một quy luật, theo đó, ngày đầu tiên khi mới đến, tất cả những ai muốn sống với chúng tôi, cũng đều được mời sang Nhà Hấp Hối, tức là ngôi nhà đón tiếp những người sắp chết, vì thế, tôi nói với cô gái:

“Chắc là con đã nhìn thấy Linh Mục dâng lễ, con đã thấy Ngài sờ đến Thánh Thể với sự chăm chú và yêu thương xiết bao. Vậy, con cũng hãy đi và làm như thế tại Nhà Hấp Hối, vì con sẽ tìm thấy Chúa Giê-su nơi thân thể những người anh em khốn khổ…”

Người thiếu nữ vâng lời ra đi… Một thời gian sau, cô trở lại với nụ cười rạng rỡ chưa từng có, cô vui vẻ thốt lên: “Thưa Mẹ, con đã sờ được vào Thân Thể Chúa Giê-su suốt 3 tiếng đồng hồ !”

Tôi hỏi sự thể ra sao, cô kể lại: “Con vừa đến Nhà Hấp Hối, người ta mang đến một người vừa ngã xuống một hố sâu, mình mẩy đầy những vết thương lở loét và hôi thối. Con đã đến tắm rửa băng bó cho anh. Con biết mình làm như thế là đã chạm được đến Thân Thể Chúa Giê-su…”

– Các em thấy trong câu truyện này, chị thiếu nữ đã cảm nhận được điều gì về Đức Giê-su ? ( Chị ấy đã nhận ra Đức Giê-su hiện diện nơi những người nghèo khổ bất hạnh. Ngài mang lấy khuôn mặt của một người bệnh đang hấp hối, mình mẩy lở loét những vết thương hôi thối, và chị đã tận tình chăm sóc băng bó cho anh ta ).
– Chị thiếu nữ đã kể lại với Mẹ Tê-rê-xa như thế nào ? ( Chị ấy đã hớn hở khoe với Mẹ Tê-rê-xa rằng:
“Thưa Mẹ, hôm nay chính tay con đã sờ được vào chính Thân Thể Chúa Giê-su trong suốt 3 tiếng đồng hồ !”

– Đúng vậy, có thể nói, hình ảnh của Đức Giê-su, Đấng Cứu Độ ngày hôm nay chính là một người nghèo khổ bất hạnh nhất trong xã hội. Nhưng ngày xưa, đối với dân Ít-ra-en, các Ngôn Sứ cũng đã dùng hình ảnh tương tự và nhiều hình ảnh khác nữa để giới thiệu Đấng Cứu Độ.

3. Đọc Lời Chúa:
Giáo Lý Viên đọc chậm đoạn trích Sách Ngôn Sứ I-sai-a về Người Tôi Tớ của Thiên Chúa: ( Is 53, 2 – 5 ):
“Người tôi trung đã lớn lên tựa chồi cây trước Nhan Thánh, như khúc rễ trên đất khô cằn. Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn, dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích. Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới.
Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta… Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành…”

4. Khai triển bằng hội thoại:
– Như vậy, trong thời Cựu Ước, các Ngôn Sứ đã giới thiệu Đấng Cứu Độ sẽ đến dưới 3 hình ảnh, với 3 tước hiệu chính sau đây:
+ Đấng Cứu Độ là con ( thuộc dòng tộc ) vua Đa-vít
+ Đấng Cứu Độ là Con Người từ Trời xuống ( Thiên Sai )
+ Đấng Cứu Độ là Tôi Tớ khiêm nhu, chịu nhiều đau khổ.
– Đương nhiên dân Ít-ra-en đã chú ý nhiều nhất đến 2 tước hiệu “Con vua Đa-vít” và “Con Người từ Trời xuống” vì họ nghĩ như thế mới vinh quang, mới xứng đáng là Đấng được Thiên Chúa sai đến, có quyền lực vĩ đại để chiến thắng mọi kẻ thù đang áp bức họ, và giải thoát họ khỏi kiếp lưu đày, khôi phục lại đất nước Pa-lét-tin hùng cường.

– Còn đối với với tước hiệu “Người Tôi Tớ khiêm nhu, chịu nhiều đau khổ” thì dân Ít-ra-en lấy làm khó hiểu: tại sao lại có thể như thế được ? Họ không thích và không thể chấp nhận một Đấng Cứu Độ lại để cho người khác hành hạ và giết chết !
– Vậy các em thấy Đức Giê-su là Đấng Cứu Độ đã đến trong thời Tân Ước dưới hình ảnh nào trong 3 hình ảnh vừa nêu ? ( Đức Giê-su đã đến trong thân phận một người tôi tớ hết lòng phục vụ Thiên Chúa và nhân loại, để rồi Ngài đã bị hành hạ và giết chết thương đau ).

3. Tập hát:
Bài “Xin Ngài Hãy Đến” ( Nối Lửa Cho Đời tập 7, trang 16, số 27 ) hoặc bài “Chúa Giê-su” ( Sách Giáo Lý Thêm Sức tập 1, trang 40 có trong CD Vang Ca Tin Mừng Thêm Sức 1 )

II. ĐÍCH ĐIỂM:
Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây:
Thiên Chúa luôn yêu thương Dân của Ngài. Ngài hứa sẽ có một Đấng đến để cứu vớt mọi người. Đấng ấy chính là Đức Giê-su, được sai xuống từ Trời, sinh ra làm người thuộc dòng tộc vua Đa-vít, nhưng lại chấp nhận làm một người Tôi Tớ hiền lành khiêm nhường, gánh chịu hết mọi khổ đau của nhân loại và chết trên thập giá khổ nhục.

III. XÁC TÍN:
            Kinh Tin Kính: “Vì loài người chúng ta, và để cứu độ chúng ta, Chúa Giê-su đã từ trời xuống thế”.

IV. THỰC HÀNH:
– Em sẵn sàng giúp đỡ một người già yếu trong xóm, thăm một người bệnh tật, hoặc tiết kiệm tiền tiêu vặt để làm quỹ bác ái của lớp.

V. TÂM TÌNH:
Chuẩn bị trước trong một góc lớp, hoặc trước bảng đen: một cây Thánh Giá lớn, một sách Kinh Thánh đặt trên giá, một ngọn nến Phục Sinh, một bình hoa tươi ( mượn tất cả của phòng thánh Nhà Thờ ). Nếu là chiều tối, có thể phát cho mỗi em một mẩu nến cầm trên tay. Tắt các đèn trong lớp. Mời các em đứng lên, tiến lên thắp nến của mình từ lửa của nến Phục Sinh rồi đứng thành hình vòng cung trước Bàn Thờ:
– Đọc lại đoạn Sách Ngôn Sứ I-sai-a về Người Tôi Tớ đau khổ…
– Ý nguyện: Cảm tạ Chúa Cha đã thương chúng con mà sai Chúa Giê-su xuống thế làm Đấng Cứu Độ để chết và Phục Sinh vì chúng con, cho chúng con được sống và sống dồi dào.
– Hát lại bài “Xin Ngài Hãy Đến”.

Tu Sĩ ĐOÀN ĐỨC ĐỒNG, Dòng Đa-minh

 

 

DÂN THIÊN CHÚA ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP

I. KHỞI ĐIỂM:
1. Kể truyện:
Giáo Lý Viên dựa vào Sách Ma-ca-bê quyển thứ 1, từ chương 3 đến chương 9 để tóm tắt thành câu truyện kể về ông Giu-đa Ma-ca-bê, một vị anh hùng của dân Ít-ra-en:

Khi vua Na-bu-cô-đô-nô-xo chết năm 560 trước Công Nguyên, đế quốc Ba-by-lon mất vào tay người Ba-tư, người Ít-ra-en bị lưu đày ở Ba-by-lon được cho trở về quê hương. Tuy vậy, họ không hề được độc lập tự do, mà liên tiếp bị các đế quốc Ba-tư ( từ năm 537 tcn ) và Hy Lạp ( từ năm 301 tcn ) thay nhau đô hộ.

Vào thời hoàng đế An-ti-ô-khô đệ tứ, năm 165 trước Công Nguyên, có một người tên là Giu-đa cũng gọi là Ma-ca-bê, con ông Mát-tít-gia, đã cùng với các em mình nổi dậy để chống lại các cuộc bách đạo của đế quốc Hy Lạp đối với với dân Ít-ra-en. Ông mặc áo giáp như một vị anh hùng, mình mang đầy võ khí, được mọi người ví như một con sư tử dũng mãnh. Ông thường kéo quân xuất hiện bất ngờ lúc đêm tối, đánh chiếm các vị trí xung yếu để đóng quân, trận nào cũng đại thắng, khiến cho quan quân của vua An-ti-ô-khô phải lo sợ. Mặt khác, ông cũng cùng những người khởi nghĩa bí mật len lỏi vào các làng Ít-ra-en, kêu gọi bà con thân thích, liên kết những người vốn trung thành với đạo Thiên Chúa. Họ đã quy tụ được khoảng sáu ngàn người, liên tiếp ra tay dẹp yên được bọn phản bội đã theo ngoại bang để xách động dân chúng bỏ Thiên Chúa mà thờ tà thần. Ông Ma-ca-bê là người đạo đức và trung thành với Thiên Chúa, không bao giờ quên cầu nguyện với Thiên Chúa cho cuộc khởi nghĩa được thành công, hầu tái lập lại vương quốc Ít-ra-en sau một thời gian dài đã quá tang thương vì nội bộ xâu xé và ngoại bang xâm lược.

Tuy nhiên, trong trận đánh ở Bê-rê-a gần thành Giê-ru-sa-lem, ông Ma-ca-bê chỉ có 3.000 quân rất dũng cảm nhưng không đủ sức để chống lại 20.000 quân bộ binh và 12.000 quân kỵ binh thiện chiến của đế quốc Hy Lạp, tất cả đã chiến đấu một cách anh hùng cho đến chết. Ông Ma-ca-bê tử trận. Toàn dân Ít-ra-en thương khóc để tang ông nhiều ngày liền.

Cuộc khởi ngĩa của dân Ít-ra-en thất bại nhưng không hoàn toàn bị dập tắt. Người em của ông Ma-ca-bê, tên là Giô-na-than sẽ lại tiếp nối, lãnh đạo dân chống lại đế quốc Hy Lạp. Trải qua biết bao gian nan khốn khổ, mãi mãi dân Ít-ra-en vẫn mơ ước sẽ có ngày một Đấng Cứu Tinh được Thiên Chúa sai đến để giải thoát họ khỏi ách đô hộ của ngoại bang.

2. Đặt câu hỏi hội thoại:
– Câu truyện các em vừa nghe là lịch sử của dân Ít-ra-en, xảy ra trước khi Chúa Giê-su sinh ra hơn 150 năm. Nguyên do nào khiến ông Ma-ca-bê nổi dậy chống đế quốc Hy Lạp ? ( Đó là dân Ít-ra-en muốn lấy lại độc lập tự do cho quê hương đất nước, và hơn nữa trấn áp được việc một số đông trong dân đã bỏ Thiên Chúa mà đi thờ tà thần ).

– Cuộc nổi dauyc3 ông Ma-ca-bê có thành công không ? ( Lúc đầu thì quân của ông Ma-ca-bê rất mạnh, đánh đâu thắng đó, nhưng sau này, đế quốc Hy Lạp đưa quân đội đông đảo và hùng mạnh vào đến tận Giê-ru-sa-lem, quân của ông Ma-ca-bê ít hơn nhưng đã chiến đấu anh dũng cho tới chết. )

– Cuộc khởi nghĩa của người Ít-ra-en như vậy là đã bị thất bại chăng ? ( Không, tuy ông Ma-ca-bê đã chết, nhưng người em của ông là Giô-na-than đã tiếp tục chống lại quân Hy Lạp. Sau này, đến thời đô hộ của đế quốc Rô-ma, người Ít-ra-en vẫn thường xuyên nổi dậy ).

– Người Ít-ra-en mong ước và chờ đợi điều gì ? ( Kể từ khi đất nước sụp đổ, mất vào tay ngoại bang, người Ít-ra-en vẫn luôn ước mơ tìm lại được độc lập tự do, họ chờ đợi Thiên Chúa giữ lời hứa, sai đến với họ một vị dũng tướng, một vị vua oai hùng như một Đấng Cứu Tinh có khả năng lãnh đạo họ giành lại chủ quyền cho dân tộc và đất nước. )

– Thật ra Thiên Chúa có hứa và muốn ban cho dân Ít-ra-en điều ấy không ? ( Qua các Ngôn Sứ, Thiên Chúa hứa ban một Đấng đến cứu Dân của Ngài gồm cả người Ít-ra-en và toàn thể nhân loại khỏi tội lỗi và sự chết, chứ không phải là một vị vua, vị tướng theo nghĩa trần gian ).

3. Đọc Lời Chúa:
Giáo Lý Viên đọc lời cầu nguyện với Chúa của những người theo ông Ma-ca-bê ( 2 Mcb 8, 2 – 4 ): Họ cầu khẩn Đức Chúa, xin Ngài đoái nhìn đám dân đang bị mọi Ngài bị chà đạp và đoái thương Đền Thờ đã bị quân vô đạo làm cho ra ô uế. Họ cũng xin Ngài xót thương thành phố đã bị phá hủy gần như bình địa, và lắng nghe máu Ngài vô tội đang kêu lên Ngài. Xin Ngài nhớ đến các trẻ thơ vô tội bị tàn sát dã man và những lời lộng ngôn phạm đến Danh Ngài, xin tỏ ra lòng Ngài ghê tởm sự dữ.

II. ĐÍCH ĐIỂM và XÁC TÍN:
Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây: Dân Ít-ra-en mong ước Thiên Chúa gửi đến một Đấng Cứu Tinh giải thoát họ khỏi ách đô hộ, tìm lại độc lập tự do. Nhiều cuộc khởi nghĩa với những vị thủ lãnh anh dũng đều thất bại. Và người ta tiếp tục đợi chờ. Nhưng Thiên Chúa lại muốn gửi một Đấng đến cứu tất cả mọi người khỏi tội lỗi và sự chết. Đấng ấy chính là Đức Giê-su sau này.

III. TÂM TÌNH:
            Mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện: Cám ơn Chúa vì bài học Giáo Lý hôm nay cho chúng con nhận ra Thiên Chúa luôn muốn điều tốt nhất cho chúng con, cho mọi người.

IV. THỰC HÀNH:
Không cãi nhau, không đánh nhau, nói tục chửi thề. Không tranh giành bắt nạt những em bé hơn, yếu hơn.

Tu Sĩ NGUYỄN MINH SƠN, Dòng Đa-minh

XỨ PA-LÉT-TIN THỜI CHÚA GIÊ-SU

I. KHỞI ĐIỂM:
1. Kể truyện:
Có một bài hát kể truyện về quê hương rất hay, thơ của Đỗ Trung Quân, nhạc của cố nhạc sĩ Giáp Văn Thạch ( Mời cả lớp hát chung ):

“Quê hương là chùm khế ngọt, cho con trèo hái mỗi ngày. Quê hương là đường đi học, con về rợp bướm vàng bay. Quê hương là con diều biếc, tuổi thơ con thả trên đồng. Quê hương là con đò nhỏ, êm đềm khua nước ven sông. Quê hương là cầu tre nhỏ, mẹ về nón lá nghiêng che. Quê hương là đêm trăng tỏ, hoa cau rụng trắng ngoài thêm. Quê hương mỗi người chỉ một, như là chỉ một mẹ thôi. Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nỗi thành người”.

2. Hội thoại:
Nếu được, nên có treo sẵn một tấm bản đồ nước Pa-lét-tin thời Chúa Giê-su. Khi hội thoại, có thể lấy nước Việt Nam để so sánh, giúp các em hiểu biết thêm về nước Pa-lét tin.

– Quê hương thật là đẹp, thật đáng yêu phải không các em ? Quê hương nơi mà chúng ta đươc sinh ra và lớn lên, đó là nơi mỗi người chúng ta đều có những kỷ niệm thật đáng nhớ, cùng bè bạn đi trên con đường làng, cùng cắp sách đến trường, cùng vui chơi, ca hát, nhảy múa v.v…

– Ai cũng có quê hương, dân tộc nơi mình sinh ra và lớn lên. Chúa Giê-su cũng có quê hương là xứ Pa-lét-tin. Cùng tuổi như các em, Chúa Giê-su cũng từng đi học, vui chơi, ca hát, sinh hoạt, học Giáo Lý v.v…
– Ngày nay quê hương Pa-lét-tin của Chúa Giê-su mà chúng ta đang nghe thời sự trên ti-vi, báo chí xảy ra những cuộc tranh chấp giữa người Pa-lét-tin và Ít-ra-en về phần đất dải Ga-da và bờ Tây sông Gio-đan. Những cuộc xung đột giữa hai bên gây thiệt hại rất nhiều về tính mạng và của cải.
– Pa-lét-tin nhỏ hơn Việt Nam nhiều. Vị trí Pa-lét-tin thuộc Trung cận đông, ven biển Địa Trung Hải. Diện tích khoảng 20.000 Km2, chiều dài 200 Km, chiều ngang chừng 60 Km. Dân số thời Chúa Giê-su chừng 1.500.000 người. Thủ đô là Giê-ru-sa-lem. Phía tây nam giáp Ai Cập, đông nam giáp Aû-rập Xê-út, phía bắc giáp Li-băng.
– Pa-lét-tin được chia làm 3 miền: Miền Bắc là Ga-li-lê, Miền Trung là Sa-ma-ri và Miền Nam là Giu-đê. Pa-lét-tin là nước nông nghiệp, trồng lúa mì, lúa mạch và các loại cây như chà là, vả, nho, ô-liu trồng ở khắp nơi trong nước. Một số người lo chăn nuôi chiên, dê, bò. Một số ít làm nghề chài lưới và buôn bán. Nói chung người dân đều nghèo.
– Pa-lét-tin thời Chúa Giê-su bị đế quốc Rô-ma xâm chiếm và thâu thuế. Vua bù nhìn Hê-rô-đê cai trị miền bắc Ga-li-lê. Miền trung Sa-ma-ri và miền nam Giu-đê thuộc quyền tổng trấn Rô-ma. Dân phải nộp thuế và đi lính cho đế quốc Rô-ma.

3. Đọc Lời Chúa:
Giáo Lý Viên đọc đoạn Sách Đệ Nhị Luật ( Đnl 11, 8 – 9 ) nhắc lại lời hứa của Thiên Chúa về một miền đất làm quê hương cho dân Ít-ra-en: Ông Mô-sê nói với dân Ít-ra-en: “Vậy anh em phải giữ tất cả mệnh lệnh tôi truyền cho anh em hôm nay, để anh em được mạnh sức và vào chiếm hữu đất anh em sắp sang chiếm hữu, và để anh em được sống lâu trên đất, mà Đức Chúa đã thề với cha ông anh em là sẽ ban cho các ngài và dòng dõi các ngài, một đất tràn trề sữa và mật ong.”

4. Hội thoại để đạt tới Đích Điểm:
– Nước Pa-lét-tin có hùng mạnh giàu có và được độc lập tự do không ? ( Không, đó là một nước nhỏ, nghèo và bị đô hộ.
– Vậy lời hứa của Thiên Chúa về một miền đất tràn trề sữa và mật ong, là không đúng sao ? ( Thiên Chúa không có ý nói về một đất nước ở trần gian, nhưng Ngài muốn nói về một miền Đất Hứa là Nước Trời ).

II. ĐÍCH ĐIỂM và XÁC TÍN:
Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây: Pa-lét-tin, quê hương của Chúa Giê-su, là một miền đất nhỏ, rất nghèo, lại còn bị đô hộ bởi đế quốc Rô-ma. Vậy, đây chỉ là quê hương trần gian để Chúa Giê-su sinh ra làm người mà thôi. Miền đất Thiên Chúa hứa ban là chính Nước Trời mai sau, quê hương vĩnh cửu của muôn dân.

III. TÂM TÌNH:
            Mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện: Cám ơn Chúa đã cho chúng con một quê hương Việt Nam mến yêu… Cám ơn Chúa nhiều hơn nữa, vì chúng con biết chúng con còn có được một quê hương tuyệt vời là Nước Trời…

IV. THỰC HÀNH:
– Em cố gắng học thật giỏi để mai sau giúp ích đất nước.
– Em cũng chăm học Giáo Lý để xứng đáng với Nước Trời.

Tu Sĩ NGUYỄN BẢO LỘC, Tu Hội Gio-an Tẩy Giả

TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở PA-LÉT-TIN THỜI CHÚA GIÊ-SU

I. KHỞI ĐIỂM:
1. Kể truyện:

Tại một làng nọ ở đất nước Pa-lét-tin, quê hương của Chúa Giê-su, có một gia đình nghèo, cha mẹ làm việc vất vả cả ngày ở ngoài đồng, các con còn nhỏ thì ở nhà một mình. Một hôm, có một người hành khất đến nhà xin bố thí. Một em bé ra mở cửa, đăm đăm nhìn người ăn xin rồi chạy vào nhà, một lúc sau, em trở ra nhỏ nhẹ thưa: “Chú ơi, chúng cháu rất muốn tặng chú một cái gì đó, thế nhưng nhà cháu lại cũng chẳng còn gì để ăn hôm nay, chúng cháu cũng đang đói lắm chú ạ ! Chúng cháu rất áy náy phải từ chối chú vậy, chú đừng buồn nhé !”

Người hành khất lặng lẽ bỏ đi. Đến xập tối thì ông ta quay lại gõ cửa. Em bé lại ái ngại từ chối như ban sáng. Người ăn xin lúc đó mới nói: “Các cháu dễ thương của chú, chú không xin các cháu bố thí nữa đâu, nhưng chú lại có cái này để tặng các cháu…” Nói đoạn, người ấy mở chiếc bị đeo bên hông ra, đưa cho mấy đứa bé một ổ bánh mì nhỏ và một vài đồng bạc. Ông ta dặn dò: “Các cháu hãy lấy bánh chia nhau ăn đi kẻo đói lắm rồi, còn tiền thì đợi ba mẹ về, bảo là chú biếu. Chú chỉ là một người ăn xin tàn tật, nhưng chú sẵn sàng chia sẻ với gia đình các cháu, bởi các cháu dễ thương và tốt bụng quá… và nhất là bởi bác muốn sống đúng như lời Thiên Chúa dạy”.

2. Đặt câu hỏi hội thoại:
– Gia đình của em bé giàu có dư giả hay là nghèo túng ? ( Đó là một gia đình người Do-thái thuộc lớp nông dân nghèo và con cái lại đông, nên thường xuyên thiếu ăn ).
– Em bé trong truyện đã cho người hành khất được gì ? ( Em bé rất muốn chia sẻ một chút gì đó để ăn nhưng trong nhà lại chẳng còn gì, chính em bé và các em của em bé ấy cũng đang phải nhịn đói ).
– Vậy đến xập tối, người hành khất còn trở lại nhà em bé để làm gì ? ( Ông đã quay trở lại không phải để xin nữa nhưng là để chia sẻ với gia đình em bé một phần trong những gì ông in được trong ngày hôm ấy ).
– Các em hãy thử đặt tên thật ngắn gọn cho câu truyện này nhé ( Giáo Lý Viên phát cho các em các mẩu giấy nhỏ và cho thời gian là 2 phút, sau đó thu lại và công bố, chọn ra một tên hay nhất, gọn nhất… )

3. Tập hát:
“Làm Cho Chính Thầy” ( Nối Lửa Cho Đời tập 7, trang 110, số 170 )

4. Dẫn vào bài bằng hội thoại:
– Các nhân vật trong câu truyện trên: em bé và người hành khất chính là những người tuy nghèo về của cải vật chất nhưng lại giàu tấm lòng chia sẻ với tha nhân, họ được gọi là “Những Người Nghèo của Thiên Chúa”, những người luôn tuân giữ luật yêu thương của Thiên Chúa, chấp nhận mọi thiệt thòi, một lòng khao khát chờ mong Đấng Thiên Chúa sai đến để cứu vớt và bênh vực họ.
– Vậy, ngược lại với những người nghèo là những người như thế nào ? ( Đó là những người giàu có quyền thế và chiếm địa vị cao trong xã hội. Vào thời Chúa Giê-su cũng thế, trong dân Ít-ra-en có tầng lớp các người ( còn quen gọi là các Biệt Phái ), Xa-đốc, Thượng Tế, Kinh Sư, Luật Sĩ… Đa số những người này giữ luật Thiên Chúa quá chi tiết tỉ mỉ nhưng chỉ là đạo đức giả bề ngoài, vì họ tham lam, ích kỷ, khinh rẻ, hà hiếp bạc đãi người nghèo. Và như thế, họ đã sống ngược với lề luật của Thiên Chúa đã truyền dạy ).
– Vậy, lề luật của Thiên Chúa đối với người Ít-ra-en là gì ? ( Chỉ thờ phượng một mình Thiên Chúa, tuân giữ 10 điều răn, và mong chờ Đấng Thiên Chúa sẽ sai đến để giải thoát. Tất cả làm nên đời sống tôn giáo của người Ít-ra-en ).

5. Đọc Lời Chúa:
Giáo Lý Viên đọc to cho các em nghe đoạn trích Sách Huấn Ca về việc Thiên Chúa yêu thương bênh vực người nghèo ( Hc 35, 12 – 17 ):
“Vì Đức Chúa là Đấng xét xử, Người chẳng thiên vị ai. Người không vị nể mà làm hại kẻ nghèo hèn, nhưng nghe lời kêu xin của người bị áp bức. Người không coi thường lời khấn nguyện của kẻ mồ côi, hay tiếng than van của người goá bụa. Nước mắt quả phụ lại không giàn giụa trên gò má, và tiếng bà kêu lại chẳng cáo tội kẻ làm bà phải khóc sao ? Kẻ phục vụ Đức Chúa theo ý Người sẽ được Người chấp nhận, lời họ kêu xin sẽ vọng tới các tầng mây. Lời nguyện của người nghèo vượt ngàn mây thẳm…”

II. ĐÍCH ĐIỂM và XÁC TÍN:
Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây: Vào thời Chúa Giê-su, trong dân Ít-ra-en có các tầng lớp giàu có và quyền thế giữ luật Chúa một cách giả dối, ngược lại, tầng lớp nghèo khổ thấp hèn lại vẫn tuân giữ luật Chúa một cách chân thành. Và Thiên Chúa đã luôn yêu thương và bênh vực những người được gọi là “Người Nghèo của Thiên Chúa” ấy.

III. TÂM TÌNH:
            Mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện. Giáo Lý Viên có thể thay các em dâng lên ý nguyện: “Lạy Chúa, trong Giáo Xứ chúng con, trong lớp chúng con đây, đều có những gia đình khá giả và cả những gia đình nghèo. Chúng con xin Chúa cho chúng con, dù giàu hay nghèo, đều sống đạo đức, sống đúng giới răn yêu thương của Chúa, để chúng con luôn sẵn sàng giúp đỡ chia sẻ với nhau, nhất đối với những người nghèo khổ tật nguyền…”
Hát lại bài “Làm Cho Chính Thầy”…

IV. THỰC HÀNH:
Cả lớp đặt một chiếc hộp nhỏ, ghi bên ngoài: “Chia Sẻ”. Các em sẽ dành tiền tiêu vặt mỗi ngày để góp lại đến cuối năm, lớp sẽ đến thăm và chia sẻ với một số gia đình quá nghèo trong Giáo Xứ ( hoặc với một trại mồ côi, một trại phong, các em lớp học Tình Thương… ).

Tu Sĩ HOÀNG VĂN THÀNH, Dòng Xi-tô Châu Thủy

ĐỨC GIÊ-SU LÀ CON THIÊN CHÚA

I. KHỞI ĐIỂM:
1. Kể truyện:
Có một nhà báo phỏng vấn một vị tiến sĩ nổi tiếng khi biết tin ông vừa mới xin chịu Bí Tích Thánh Tẩy để gia nhập Đạo Chúa, rằng: “Tại sao ông là người học cao hiểu rộng, đã biết đến nơi đến chốn về các tôn giáo, về các triết lý cao siêu của Á Đông mà ông lại tin vào một người tên là Giê-su mà ông chưa hề gặp mặt như vậy ?”
Vị học giả trả lời: “Tôi vốn dĩ giống như một người chìm tàu giữa đại dương, sóng cả dập vùi, sức người có hạn. Các vị lãnh đạo tôn giáo khác đã dạy tôi rằng: Con phải bơi lội theo phương pháp này, tập dưỡng sức theo phương pháp nọ. Nhưng các lý thuyết ấy đã không cứu vớt tôi ra khỏi biển sâu cuộc đời này. Chỉ có Chúa Giê-su, chính Ngài đã tự nguyện nhảy xuống biển và liều chết để cứu vớt tôi, vì vậy mà tôi tin vào Ngài.”

2. Đặt câu hỏi hội thoại:
– Trong câu truyện vừa nghe, vị tiến sĩ đã xác tín như thế nào về Chúa Giê-su ? ( Ông ta nhận ra rằng: Chính Chúa Giê-su đã xuống thế làm người để cứu mọi người, trong đó có ông ).
– Vì sao Con Thiên Chúa lại cần phải xuống thế làm người ? ( Con Thiên Chúa xuống thế làm người để cứu chuộc loài người ).
– Đức Giê su xuống thế làm người như thế nào ? ( Ngài đã nhập thể làm người bởi quyền năng Chúa Thánh Thần trong lòng Đức Mẹ Ma-ri-a, cha nuôi Ngài là Thánh Giu-se ).
– Chúa Giê-su chịu phép rửa ở đâu và của ai ? ( Chúa Giê-su chịu phép rửa ở sông Gio-đan của Thánh Gio-an Tẩy Giả… Ngài vừa lên khỏi nước thì trời mở ra, Chúa Thánh Thần lấy hình chim bồ câu ngự xuống và có tiếng từ trời phán: “Đây là Con Ta yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng” ).
– Trong một lần khác, trước khi Chúa Giê-su chịu để cho người ta bắt giết, Ngài đã dẫn 3 môn đệ Phê-rô, Gio-an và Gia-cô-bê lên núi Ta-bo. Ngài đã biến hình, trở nên sáng chói vinh quang, và Chúa Cha đã xác nhận: “Đây là con rất yêu dấu của Ta, các ngươi hãy nghe lời Người”.
– Và rồi chính Chúa Giê-su cũng xác nhận Ngài chính là Con Thiên Chúa trong dịp Thánh Phê-rô tuyên xưng: “Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian”.
– Thế nhưng, phải đợi đến sau khi Chúa Giê-su Phục Sinh và về Trời, Chúa Thánh Thần được ban xuống rồi thì các môn đệ mới nhớ lại mọi sự và hoàn toàn tin Chúa Giê-su chính là Con Thiên Chúa.

3. Tập hát:
Bài “Tôn Vinh Giê-su” ( Nối Lửa Cho Đời tập 7, trang 06, số 11 ).

4. Đọc Lời Chúa:
Giáo Lý Viên đọc to, chậm rãi và tâm tình đoạn trích Sách Tin Mừng Gio-an ( Ga 14, 8 – 11 ) sau đây:
Khi ấy, ông Phi-líp-phê nói: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện.” Đức Giê-su trả lời: “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư ? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: `Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha’ ? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao ? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không, thì hãy tin vì chính các việc kia vậy.”
Hát lại bài “Tôn Vinh Giê-su”.

II. ĐÍCH ĐIỂM:
Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây: Thiên Chúa Cha luôn yêu thương nhân loại, Ngài đã giữ đúng Lời Hứa, cho Con Một của Ngài là Đức Giê-su xuống thế làm người để cứu độ tất cả chúng ta, kết thúc thời Cựu Ước và mở ra thời Tân Ước.

III. XÁC TÍN:
Kinh Tin Kính: “Tôi tin kính một Chúa duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô, Con Một Thiên Chúa, sinh bởi Chúa Cha từ trước mong đợi. Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, ánh sáng bởi ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Chúa Cha…”

IV. TÂM TÌNH:
Mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện, sau mỗi ý nguyện hát lại bài “Tôn Vinh Giê-su”: Tạ ơn Chúa Cha đã luôn yêu thương và giữ đúng Lời Hứa với nhân loại chúng con. Tạ ơn Chúa Giê-su đã xuống thế làm người để cứu độ chúng con khỏi tội lỗi và sự chết. Tạ ơn Chúa Thánh Thần đã soi sáng để chúng con tin vào Chúa Giê-su, lắng nghe và tuân giữ Lời Ngài giảng dạy.

V. THỰC HÀNH:
Sau mỗi lần nghe Lời Chúa trong Thánh Lễ, em nói thầm với Chúa Giê-su: “Lạy Chúa Giê-su, con xin tuân giữ Lời Chúa”. Sau mỗi lần Rước Lễ, em lại nói thầm với Chúa Giê-su: “Lạy Chúa Giê-su, con yêu mến Chúa”

Tu Sĩ NGUYỄN VĂN HUY ,  Giáo Phận Bắc Ninh

CHÚA GIÊ-SU RAO GIẢNG NƯỚC TRỜI

I. KHỞI ĐIỂM:
1. Kể truyện:

Một buổi tối nọ, viên sĩ quan người Pháp tên là Charles De Foucauld say mê kể cho gia đình nghe những cuộc thám hiểm của anh ở đất nước Maroc của Châu Phi. Người chăm chú nghe và theo dõi câu chuyện của anh nhất là cô cháu gái chưa đầy 10 tuổi, vừa mới được Rước Lễ Lần Đầu. Khi anh vừa chấm dứt câu chuyện thì cô bé đã bất thần đặt một câu hỏi: “Thưa cậu, cháu đã thấy cậu làm được nhiều việc vĩ đại, thế cậu đã làm được gì cho Chúa Giê-su chưa ?”

Câu hỏi ấy như một luồng điện giựt khiến anh như trở thành bất động. Từ bấy lâu nay, chưa có người nào đã khiến anh phải suy nghĩ lâu như thế. “Anh đã làm gì cho Chúa Giê-su chưa ?” Charles de Foucauld nhìn lại toàn bộ quãng đời đã sống và chỉ thấy một sự trống rỗng. Anh đã phí phạm tất cả thời giờ của mình cho những cuộc vui chơi hưởng thụ trong danh vọng phù phiếm…

Mắt anh bỗng mở ra để thấy được nỗi khốn khổ nghèo hèn của mình. Ngày hôm sau, anh tìm đến xưng tội với một Linh Mục. Rồi anh xin vào Dòng Khổ Tu, sau này tự nguyện sang tận Na-da-rét đất nước Pa-lét-tin, quê hương của Chúa Giê-su để sống trọn vẹn cho Ngài…

Một lần nọ, trong lúc đang đắm mình cầu nguyện, anh bỗng nghe thấy từ căn nhà bên cạnh có tiếng than vãn rên rỉ của một người Hồi Giáo. Anh nghĩ đến những lời giảng dạy về yêu thương của Chúa Giê-su, anh thấy không đành lòng ở yên trong nhà để cầu nguyện một mình giữa lúc những người anh em của anh đang rên rỉ trong hấp hối tuyệt vọng…

Kể từ đó, anh quyết định đến sống hẳn giữa họ, trở thành bạn hữu của họ, những người cô đơn lạc lõng, nghèo hèn nhất xã hội.

2. Tập hát: ( tuỳ nghi )
3. Đọc Lời Chúa:

Chúng ta vừa nghe câu truyện về cuộc đời của Charles de Foucauld. Ngài đã sám hối nhờ việc nhớ lại những lời Chúa Giê-su đã kêu gọi, đã giảng dạy về Nước Trời, về giới luật yêu thương và thánh nhân đã cố gắng đem ra thực hành trong đời.

Vậy, giờ đây chúng ta cũng hãy lắng nghe lại những lời Chúa Giê-su đã kêu gọi người ta sám hối trong Sách Tin Mừng theo Thánh Mác-cô ( Mc 1, 14 – 15 ). Mời các em đứng lên cùng đọc câu đã viết trước trên bảng: Sau khi ông Gio-an bị bắt, Đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Ngài nói: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.”

4. Khai triển bằng hội thoại:
– Tin Mừng theo Thánh Mác-cô đã ghi lại việc Chúa Giê-su đã bắt đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Ngài bằng việc kêu gọi loài người hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng.
– Hãy lập lại nội dung lời Chúa Giê-su kêu gọi mà chúng ta vừa đọc ( Chúa Giê-su kêu gọi: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng’ )
– Chúa Giê-su nói rằng Nước Thiên Chúa đã đến gần. Nhưng vì Nước Thiên Chúa quá phong phú, quá trừu tượng, nên Chúa đã lấy những hình ảnh, những ví dụ rất cụ thể để nói về Nước Trời như: Kho tàng được chôn giấu giữa ruộng, Viên ngọc quý, người gieo giống, hạt cải lớn lên, nắm men trong bột… )
– Chúa Giê-su đã kêu gọi mọi ngưòi phải làm gì để được vào nước Trời ? ( Phải ăn năn sám hối, phải tin vào Tin Mừng và sống theo tinh thần Tin Mừng mà Chúa Giê-su đã giảng dạy. Tinh thần này được tóm tắt cụ thể trong Hiến Chương của Nước Trời hay còn gọi là các Mối Phúc Thật được ghi lại trong Sách Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu ( Mt 5, 3 – 12 ).

– Có em nào nhớ được các Mối Phúc Thật mà các em đã được nghe nhiều lần trong các Thánh Lễ không ?

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.
Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.

Phúc cho anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.

II. ĐÍCH ĐIỂM và XÁC TÍN:

Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây: Chúa Giê-su chính là Đấng được Chúa Cha sai đến để cứu độ nhân loại. Ngài loan báo rằng Nước Trời đã đến rồi. Ngài kêu gọi mọi người hãy chân thành sám hối mọi tội lỗi, thay đổi hẳn cuộc đời, sống yêu thương theo tinh thần của Tin Mừng.

III. TÂM TÌNH:

Mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện. Bản thân Giáo Lý Viên làm mẫu trước, sau đó cho các em tự phát một cách đơn sơ những xin lỗi Chúa về những điều đã phạm trong gia đình, ở trường học, với mọi người. Nhưng đặc biệt nhấn mạnh ở phần quyết tâm sống theo Lời Chúa dạy. “Chúng con xin lỗi Chúa vì… Chúng con xin hứa với Chúa sẽ…”

IV. THỰC HÀNH:
Mỗi ngày em sẽ cố gắng nói một lời dễ thương và làm một cử chỉ đẹp.

Tu Sĩ VÕ HÀ, Dòng Xi-tô Châu Thủy

 

CHÚA GIÊ-SU LOAN BÁO THIÊN CHÚA MUỐN CỨU ĐỘ CON NGƯỜII. KHỞI ĐIỂM:
1. Kể truyện:

Quả thật không có niềm vui nào lớn hơn niềm vui của một bà mẹ vừa sinh con. Đức Ma-ri-a đã rất mệt mỏi sau những ngày hành trình dài vất vả trở về Bê-lem giữa lúc bụng mang dạ chửa, thế nhưng khi Con Thiên Chúa giáng sinh với bao nhiêu hiện tượng kỳ diệu của trời đất, thì Mẹ sung sướng ngất ngây, luôn miệng hòa theo bài ca của các thiên thần: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương…”

Khi tiếng đàn hát của thiên thần vừa dứt hẳn, tan biến vào bầu trời đêm thăm thẳm,và khi người mục đồng cuối cùng vừa lui bước trở ra, Đức Mẹ định cho Chúa Hài Đồng bú sữa trước khi đi ngủ, thì bỗng dưng có tiếng kẽo kẹt ngoài cửa chuồng bò, làn gió lạnh lùa vào hang. Đức Ma-ri-a nhìn ra cửa: một người choàng chiếc áo dài đen, với khăn phủ đầu cũng màu đen trải dài từ đầu xuống chân, mệt nhọc lê bước vào.

Qua ánh lửa mờ ảo lập lòe của ngọn bạch lạp không đủ chiếu sáng, Đức Mẹ cảm thấy lo ngại, liền vội đánh thức Thánh Giu-se dậy. Thật khó mà nhận diện được người lạ mặt này là ai vì chiếc khăn che hết mặt, chỉ để lộ ra hai con mắt. Người lạ có vẻ ngập ngừng sợ hãi, từ từ bước đến gần máng cỏ nơi Chúa Hài Đồng đang nằm ngủ mơ màng.

Bỗng nhiên, người khách lạ quỳ sụp xuống, lạy Con Thiên Chúa nhiều lần. Trong lúc ngẩng mặt lên, chẳng may chiếc khăn che mặt rơi xuống, Đức Mẹ kinh hãi kêu lên “Chúa ơi !” Đó là một bà cụ già. Mẹ vội níu chặt cánh tay Thánh Giu-se như để tìm sự che chở. Bộ mặt của người bà cụ này trông khiếp quá ! Các nếp nhăn chồng chất và mái tóc bạc trắng cho thấy tuổi tác có lẽ phải đến cả ngàn năm !

Đến đây thì bà cụ lôi trong chiếc bọc đeo bên mình ra một trái táo đỏ như máu, rồi dùng cả hai tay trịnh trọng đến đặt vào vòng tay Chúa Hài Đồng như một lễ vật. Đức Ma-ri-a và Thánh Giu-se theo dõi từng cử chỉ của bà cụ. Mẹ chợt nhớ đến một truyện cổ tích về một mụ phù thủy chuyên hại những đứa bé bằng cách cho ăn một trái táo độc, Mẹ định chạy tới giật lấy trái táo vất đi. Nhưng không kịp nữa rồi, Hài Nhi Giê-su đã mớ hé đôi mắt, mỉm cười giơ tay cầm chặt lấy trái táo !

Lạ lùng thay, trái táo màu đỏ đã dần dần chuyển sắc thành màu xanh nước biển với những vệt loang màu nâu đất và lá cây. Cùng một lúc, gương mặt già nua cằn cỗi, nhăn nheo sần sùi của bà cụ cũng từ từ biến đổi thành ra trẻ trung xinh đẹp như một phụ nữ chỉ độ 25 tuổi ! Bà ta hân hoan mừng rỡ, lại quỳ xuống lạy tạ Chúa Giê-su, quay sang vái chào Đức Ma-ri-a và Thánh Giu-se rồi vội vàng chạy ra khỏi hang…

Bỗng từ trời cao có tiếng phán bảo: “Ta sẽ ban cho nhân loại một E-và mới, Người sẽ đạp giập đầu con rắn (Sáng Thế 3, 15 ). Đức Mẹ hiểu ngay rằng người phụ nữ vừa rồi chính là E-và, bà tổ nguyên thủy của nhân loại. Bà ấy vừa dâng cho Chúa trái táo tội lỗi mà bà đã ăn ngày xưa vì nghe lời xúi bẩy của ma quỷ. Đó là trái táo định mệnh, trái táo oan nghiệp, kết tinh bởi tội lỗi của nhân loại từ hàng vạn năm trước. Nhưng khi Chúa Giê-su vừa đón lấy, trái táo đỏ tức thì biến thành một quả địa cầu ngọc bích chiếu sáng lung linh, tràn đầy bình an và hy vọng…

2. Đặt câu hỏi hội thoại:
– Đây là một câu truyện thuộc dạng cổ tích, không hề có thật, chỉ cốt nói tấm lòng yêu thương nhân loại của Thiên Chúa Cha, Ngài đã muốn gửi Con Một của Ngài xuống thế, sinh làm người để cứu độ mọi người.
– E-và là ai ? ( Theo câu truyện kể của Sách Sáng Thế, E-và chính là người đàn bà đầu tiên của nhân loại, đã bị con rắn dụ dỗ phạm tội không vâng lời Thiên Chúa để tự ý hái và ăn trái cấm trong vườn địa đàng ).
– Ngoài bà E-và, còn ai cũng phạm tội như thế ? ( Bà E-và còn dụ cả chồng là ông A-đam cũng hái ăn với bà. Khi Thiên Chúa hỏi, cả hai ông bà đã chối và đổ lỗi cho nhau, cuối cùng họ đổ lỗi cho con rắn ).
– Con rắn trong câu truyện tượng trưng cho ai ? ( Trong thực tế đời sống, dân Ít-ra-en rất sợ và rất ghét loài rắn, nên tác giả Kinh Thánh đã chọn nó làm hình ảnh của Ma Quỷ chuyên gieo rắc điều ác và dụ dỗ loài người phạm tội chống lại Thiên Chúa. Nó còn được gọi tên là Xa-tan ).
– Thiên Chúa đã quyết định thế nào ? ( Thiên Chúa đã phạt họ bằng cách không cho họ được ở trong vườn địa đàng nữa, có nghĩa là từ đó về sau, nhân loại là các thế hệ con cháu của hai ông bà cũng phải mang nơi mình hậu quả của tội lỗi và phải chết ).
– Nhưng Thiên Chúa có hứa một điều gì chứ ? ( Theo đoạn St 3, 14 – 15, Thiên Chúa bảo con rắn: “Mi đã làm điều đó, nên mi đáng bị nguyền rủa nhất trong mọi loài súc vật và mọi loài dã thú. Mi phải bò bằng bụng, phải ăn bụi đất mọi ngày trong đời mi. Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó”. )
– Vậy là ngay từ ban đầu, giận thì giận, mà thương thì vẫn thương, Thiên Chúa đã hứa ban một Đấng Cứu Độ sẽ đến làm người như mọi người, sinh ra bởi một người đàn bà, và Đấng ấy sẽ chấp nhận chịu chết thay để cứu toàn thể nhân loại khỏi tội lỗi và sự chết.

– Đấng ấy là Ai ? ( Chính là Đức Giê-su, được sinh ra bởi Mẹ Ma-ri-a ).

3. Đọc Lời Chúa:
Giáo Lý Viên đọc to, chậm rãi đoạn Tin Mừng theo Thánh Gio-an ( Ga 6, 37 – 40 ) trích lời của Đức Giê-su tự giới thiệu về sứ mạng của Ngài và về tấm lòng yêu thương của Thiên Chúa là Cha của Ngài:

“Tất cả những người Chúa Cha ban cho tôi đều sẽ đến với tôi, và ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài, vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi. Mà ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết. Thật vậy, ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết.”

4. Tập hát: ( tuỳ nghi )

II. ĐÍCH ĐIỂM:

Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây: Vì yêu thương nhân loại, muốn cứu nhân loại khỏi tội lỗi và sự chết đời đời, Thiên Chúa Cha đã giữ đúng Lời Hứa ban Con Một xuống thế làm người là Đức Giê-su. Ngài đã chịu chết và phục sinh. Tất cả những ai tin vào Đức Giê-su thì đều được cứu.

III. XÁC TÍN:

Kinh Tin Kính: “Vì loài người chúng ta, và để cứu độ chúng ta, Người đã từ Trời xuống thế… Và đã làm người. Vì chúng ta, Người chịu đóng đinh vào Thập Giá… Người chịu khổ hình và mai táng, ngày thứ ba Người sống lại đúng như lời Thánh Kinh”.

IV. TÂM TÌNH:

Mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, hôm nay Chúa cũng đang nói với mỗi người chúng con rằng: Thiên Chúa Cha đã muốn cho mỗi người chúng con tin vào Chúa, vì chỉ có Chúa mới là Đấng cứu độ chúng con, và chỉ có Chúa mới đem lại cho chúng con sự sống đời đời…

V. THỰC HÀNH:

Trong tuần, mỗi ngày em lại lấy vở ra đọc lại đoạn Tin Mừng Ga 6, 40. Sau đó nói với Chúa Giê-su một lời cầu nguyện nào đó tùy ý.

 Tu Sĩ NGUYỄN VIẾT THANH, Tu Hội Thừa Sai Tin Mừng Chúa Cứu Thế

NHỮNG VIỆC CHÚA GIÊ-SU LÀM

 I. KHỞI ĐIỂM:
1. Kể truyện:

Có một nhà báo không tin có Chúa, cho đó là trò mê tín dị đoan. Ông ta tìm đến một Giáo Xứ, hỏi thăm mọi người để tìm ra một người mới theo Đạo, và đã tìm được một người công nhân ít học để phỏng vấn, dự định từ đó sẽ viết một bài báo bôi bác Đạo. Cuộc phỏng vấn diễn ra như sau:

– Xin hỏi thăm, có phải anh mới theo Đạo Chúa không ?
– Vâng, nói đúng và rõ hơn, tôi đã xin theo Đức Ki-tô.
– Thế thì chắc anh biết rất nhiều về ông ta, vậy anh hãy nói cho tôi biết ông ta sinh ra trong quốc gia nào ?
– Rất tiếc, tôi là người ít học, lại mau quên, tôi đã có được học những chi tiết này trong một khóa Giáo Lý, nhưng bây giờ thì tôi lại không nhớ nổi, nghe đâu như Đức Ki-tô là người Do-thái thì phải !
– Thế khi chết, ông ta được bao nhiêu tuổi ?
– Tôi không nhớ rõ lắm, hình như cũng vào khoảng tuổi tôi bây giờ, gần 40 hoặc trẻ hơn một chút.
–  Vậy, anh có biết ông ta đã thuyết giảng bao nhiêu bài, có bao nhiêu tác phẩm ông ta để lại, nói chung, về cuộc đời sự nghiệp của ông ta ?
– Câu này thì tôi xin chịu thua !
– Như vậy, anh biết quá ít, quá mơ hồ để có thể quả quyết là anh đã thật sự đi theo cái ông Ki-tô ấy !
– Ông nhà báo nói thế thì chỉ đúng một phần. Tôi rất hổ thẹn vì mình đã biết quá ít về Đức Ki-tô. Thế nhưng, điều mà tôi biết rất rõ là thế này: 3 năm trước, tôi là một tên nghiện rượu, sáng say chiều xỉn, nợ lút đầu lút cổ. Gia đình tôi xuống dốc một cách kinh khủng. Mỗi tối, khi tôi trở về nhà, vợ và các con tôi đều tức giận và buồn tủi… Thế mà, bây giờ thì tôi đã dứt khoát bỏ rượu và đã cố gắng trả được hết nợ nần, gia đình tôi đã tìm lại được hạnh phúc, các con tôi ngong ngóng đợi chờ tôi về nhà mỗi tối sau giờ làm ca. Tất cả những điều này, không ai khác hơn, chính Đức Ki-tô đã làm cho tôi. Và đó là tất cả những gì tôi biết về Người…

Nghe đến đây thì ông nhà báo không tin Chúa hậm hực đứng lên bỏ ra về, không được một lời cám ơn. Ông ta không ngờ lại gặp một con người hết lòng xác tín vào Đức Ki-tô như thế…

2. Đặt câu hỏi hội thoại:
– Người công nhân mới theo Đạo đã tin vào Chúa như thế nào ? ( Người công nhân đã nhận ra chính Chúa Giê-su đã làm cho ông một chuyện kỳ diệu, đó là biến đổi toàn bộ con người và cuộc đời ông, ông không còn bê tha nhậu nhẹt nữa, và nhờ vậy ông tìm lại được hạnh phúc gia đình, tìm lại được ý nghĩa cuộc sống ).
– Ông nhà báo có tin một Chúa Giê-su như thế không ? ( Không, ông ta đã dứt khoát không chịu tin rằng Chúa Giê-su là Con của Thiên Chúa, mà chỉ muốn chứng minh là Ngài cũng chỉ là một con người bình thường, không thể nào làm gì để cứu vớt nhân loại. Ông ta cho rằng: tin như thế là dại dột ngu dốt, là mê tín dị đoan ).

– Trong thực tế, Chúa Giê-su đã làm những gì cho người ta ? ( Chúa Giê-su đã làm rất nhiều phép lạ để cứu người ta. Các em hãy lắng nghe kể lại một phép lạ Chúa đã làm trong Tin Mừng theo Thánh Mác-cô… )

3. Đọc Lời Chúa:
Giáo Lý Viên mời các em đứng lên nghe đoạn Mc 10, 46 – 52:

“Khi ấy, Đức Giê-su cùng với các môn đệ và một đám người khá đông vừa ra khỏi thành Giê-ri-khô, thì có một người hành khất mù, tên là Bác-ti-mê, con ông Ti-mê, đang ngồi ở vệ đường. Vừa nghe nói đó là Đức Giê-su Na-da- rét, anh ta bắt đầu kêu lên rằng: “Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi !” Nhiều người quát nạt bảo anh ta im đi, nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng: “Lạy Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi !”

Đức Giê-su đứng lại và nói: “Gọi anh ta lại đây !” Người ta gọi anh mù và bảo: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Ngài gọi anh đấy !” Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giê-su. Ngài hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh ?” Anh mù đáp: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” Ngài nói: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh !” Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Đức Giê-su trên con đường Ngài đi”.

4. Khai triển bằng hội thoại:
– Sau khoảng 30 năm sống ẩn dật tại làng Na-da-rét, Chúa Giê-su bắt đầu đi khắp đất nước Pa-lét-tin để rao giảng Tin Mừng. Ngài gặp gỡ nhiều người và làm rất nhiều phép lạ cho những ai tin vào Ngài.
– Trong phép lạ Chúa Giê-su chữa cho người mù tên là Bác-ti-mê mà chúng ta vừa nghe Sách Tin Mừng kể lại, Ngài đã bảo gì ? ( Ngài bảo người mù: “Lòng Tin của anh đã cứu anh !” )
– Như vậy, Chúa Giê-su không làm các phép lạ để biểu diễn, khoe khoang tài năng, nhưng Ngài muốn điều gì ? ( Ngài muốn mọi người được Ngài chữa lành hoặc chứng kiến phép lạ hãy tin rằng: Ngài chính là Con của Thiên Chúa xuống thế làm người ).

– Còn các em thì sao ? Các em có tin Chúa Giê-su và có muốn Ngài làm điều gì cho các em không ? ( Chúa Giê- su rất muốn chữa lành mọi tật bệnh thể xác, và hơn nữa, Ngài còn muốn chữa lành cả những tật bệnh linh hồn cho chúng ta, Ngài muốn các em sẽ sống ngoan hơn, tốt hơn, dễ thương hơn, sống đẹp lòng Chúa hơn… )

5. Tập hát:

Bài “Được Chúa Ban Ơn” ( Nối Lửa Cho Đời tập 7 trang 16, số 26 ).

II. ĐÍCH ĐIỂM và XÁC TÍN:

Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây: Chúa Giê-su là Đấng giàu lòng thương xót, Ngài muốn mọi người, đặc biệt là những người nghèo khổ tật nguyền, được chữa lành cả xác lẫn hồn, được biến đổi cả cuộc đời. Ngài làm rất nhiều phép lạ cho những ai tin rằng Ngài chính là Đấng được Chúa Cha sai đến để cứu độ nhân loại.

III. TÂM TÌNH:

Mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện: Tôn vinh ca ngợi lòng nhân từ thương xót của Chúa Giê- su và cảm tạ tri ân những gì Ngài đã làm cho tuổi thơ chúng con.

IV. THỰC HÀNH:

Trong tuần, cả lớp nhất trí chọn một ngày sẽ cùng nhau đến xin Cha Sở thay mặt Chúa ban Bí Tích Hòa Giải cho từng em. Sau đó, các em không chỉ làm việc đền tội theo dặn dò của Cha Sở, mà còn cố gắng làm được những việc tốt nho nhỏ cho mọi người.

Tu Sĩ NGUYỄN VIẾT THANH, Tu Hội Thừa Sai Thánh Mẫu Chúa Cứu Thế

NHỮNG LỜI CHÚA GIÊ-SU NÓI


 I. KHỞI ĐIỂM:
1. Kể truyện:

Thánh Jean de Kenti, mất năm 1473, hồi còn là giáo sư tại đại học Cracovie nước Ba Lan, đã đặt ra một nguyên tắc được áp dụng tại phòng ăn tập thể của các sinh viên của mình như sau: Mỗi khi mọi người đang ăn uống mà bất ngờ có một người nghèo khổ đến xin bố thí, thì người trực nhật coi cửa phải chạy vào báo ngay cho người ngồi ở đầu bàn ăn, người này có trách nhiệm đứng lên hô to: “Các bạn ơi, hôm nay có Chúa Giê-su đến xin dùng bữa ăn chung với chúng ta…” Sau đó, mọi người sẽ cùng đứng dậy đón tiếp người hành khất vào bàn ăn như một vị thượng khách. Thánh nhân đã muốn thường xuyên nhắc nhở mình cũng như các sinh viên trẻ nhớ đến Lời Chúa Giê-su đã truyền dạy rằng: “Điều gì anh em làm cho những người hèn mọn nhất trong anh em, đó là anh em đã làm cho chính Thầy !” ( Mt 25, 40 ).

2. Đặt câu hỏi hội thoại:

– Trong câu truyện trên, Thánh Nhân cùng các sinh viên học trò của ngài ghi nhớ và thực hành điều gì ? ( Đó là Lời Chúa Giê-su đã dạy: “Điều gì anh em làm cho những người hèn mọn nhất trong anh em, đó là anh em đã làm cho chính Thầy” ).

– Chúa Giê-su còn có những lời dạy nào khác ? Mời các em thử nhớ lại và kể ra ( Ví dụ như… )
§      Về việc cầu nguyện: “Ai xin thì sẽ được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho” ( Lc 11, 9 ).
§      Về đức khiêm tốn: “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên” ( Lc 14, 11 ).
§      Về tinh thần phục vụ: “Thầy đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ” ( Mc 10, 41 ).
§      Về sự bền đỗ: “Kẻ được gọi thì nhiều, nhưng người được chọn thì lại ít” ( Mt 22, 14 ).
§      Về lòng tình yêu thương: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” ( Ga 15, 12 ).
§      Về sự từ bỏ: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” ( Lc 9, 23 ).
– Mặt khác, Chúa Giê-su còn dùng rất nhiều dụ ngôn là những câu truyện bình dân, gần gũi, dễ hiểu, để giảng dạy hoặc giải thích những chân lý cao siêu. Ví dụ như:
§      Về lòng thương xót của Thiên Chúa: dụ ngôn Con Chiên Bị Mất, dụ ngôn Đồng Bạc Bị Mất, dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu ( x. Lc 15, 1 – 32 ).
§      Về thái độ đối với Lời Chúa dạy: dụ ngôn Người Gieo Giống ( Mc 4, 1 – 8 ).

§      Về Nước Trời: dụ ngôn Viên Ngọc Quý, dụ ngôn Mẻ Lưới Cá ( Mt 13, 45 – 48 )

3. Tập hát:

Bài “Câu Truyện Nước Trời” ( Nối Lửa Cho Đời tập 7 trang 106 ) hoặc “Có Hạt Lúa Vàng” ( Nối Lửa Cho Đời tập 7 trang 109 )

4. Đọc Lời Chúa:

Nếu học trong lớp, có bảng đen, Giáo Lý Viên nên chép sẵn trên bảng đoạn Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu ( Mt 11, 27 ) về việc Chúa nói với đám đông dân chúng đang nghe Ngài giảng dạy. Mời các em đứng lên và cùng đọc chậm rãi và trang trọng: “Khi ấy Đức Giê-su bảo: “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết Người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết Chúa Cha, trừ Người Con và kẻ mà Người Con muốn mặc khải cho”.

Mời các em ngồi. Giáo Lý Viên giải thích một chút cho các em hiểu rõ về từ ngữ “mặc khải” ( “mặc khải” nghĩa tự Thiên Chúa muốn nói ra, muốn tỏ bày cho nhân loại được biết ). Cũng nên cho các em một vài ví dụ dễ hiểu để minh họa việc “Mặc khải”.

II. ĐÍCH ĐIỂM:

Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây: Ngoài những điều Chúa Giê-su làm, Ngài còn nói rất nhiều điều quan trọng để mặc khải về chính Ngài, về Chúa Cha, về Chúa Thánh Thần, về Nước Trời. Những lời Ngài nói được ghi lại trong các Sách Tin Mừng mà chúng ta thường nghe trong Thánh Lễ, trong các buổi học Giáo Lý hoặc tự mình có thể tìm đọc trong Kinh Thánh.

III. XÁC TÍN:

Kinh Tin Kính: ‘Vì loài người chúng ta, với để cứu độ chúng ta, Chúa Giê-su đã từ trời xuống thế. Bởi phép Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng trinh nữ Ma-ri-a và đã làm người…”

IV. TÂM TÌNH:

Mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện: Cám ơn Chúa Giê-su về những điều Ngài đã nói, đã giảng dạy cho chúng con được biết về Thiên Chúa. Xin cho chúng con biết chuyên chăm lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành.

V. THỰC HÀNH:

Công việc ở nhà: Tìm một tờ giấy bìa cứng, kích thước cao 10 cm, dài khoảng 40 cm, viết nắn nót bằng nét chữ to câu Lời Chúa: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” ( Ga 15, 12 ). Buổi học sau mang đến lớp cùng triển lãm, sau đó đem về xin cha mẹ cho gắn một cách trang trọng ở vách tường trên bàn thờ gia đình.

Tu Sĩ HOÀNG CÔNG VŨ, Tu Hội Thánh Gio-an Tẩy Giả

CHÚA GIÊ-SU MỜI GỌI: “HÃY THEO TA”

I. KHỞI ĐIỂM:
1. Kể truyện:
Truyền thuyết Tây Phương kể lại rằng: Christophe là một người có vóc dáng cao lớn vạm vỡ. Vốn dĩ sinh ra trong một gia đình không Công Giáo, chàng chỉ ấp ủ một ước mơ lạ lùng là tìm cho được một vị quân vương cao cả nhất để tuyệt đối tuân lệnh và phụng sự suốt đời.

Thế rồi chàng đã tìm gặp được một vị vua có tiếng là oai phong lẫm liệt nhất trong vùng. Chàng vui mừng vì ngỡ đã tìm được minh chủ theo ước nguyện. Nhưng rồi không ngờ, một hôm, chàng đã vô tình bắt gặp nhà vua ấy đang run rẩy quỳ lạy tại một đền miếu thờ quỷ thần. Chàng liền bỏ đi ngay, với quyết tâm ao ước sẽ được theo hầu một ma vương quỷ thần nào đó có đủ quyền phép hô phong hoán vũ. Tức khắc, ma quỷ hiện ra và dẫn dụ chàng rảo bước khắp cánh đồng mênh mông rộng lớn. Bất chợt, ma quỷ giáp mặt với một cây Thập Giá dựng lên sừng sững ở một ngã tư đường ruộng theo phong tục của người dân Công Giáo vùng ấy. Ma quỷ hoảng sợ, lấm lét nhìn Thập Giá rồi bỏ chạy mất dạng !

Chàng trai thấy vậy liền dứt khoát không thèm theo ma quỷ nữa, mà đứng lại trước Thập Giá, ngắm nhìn pho tượng Chúa Giê-su chịu Thương Khó thật lâu, rồi chàng quyết tâm từ nay sẽ xin theo Thập Giá. Đứng gần đó, vị Linh Mục quản xứ nhà quê cảm động trước lời thề nguyền ngây thơ và hồn nhiên của một chàng trai vạm vỡ to cao như thế, cha bước lại gần và bắt chuyện hỏi han sự tình…
Thế là, trong một thời gian ngắn, chàng trai chất phác mộc mạc ấy đã xin học Đạo và chịu Bí Tích Thánh Tẩy. Sau này, Christophe đã phụng sự Thiên Chúa hết lòng, hết sức, hết linh hồn, hết trí khôn, khi cuộc Bách Đạo tràn đến, chàng đã được phúc chết vì Đạo để chứng minh cho mối tình thắm thiết thủy chung của mình với Chúa Giê-su.

Ngày nay, Hội Thánh tại một số quốc gia Châu Âu vẫn mừng lễ Thánh Christophe vào ngày 25 tháng 7 hằng năm, để nêu một tấm gương theo Chúa Giê-su và phụng sự Thiên Chúa trọn vẹn cả cuộc đời.

2. Đặt câu hỏi hội thoại:
– Chàng trai Christophe đã thao thức đi tìm một Đấng để tôn thờ như thế nào ? ( Chàng đã không theo phò một ông vua vì thấy ông ta lại quỵ lụy trước ma quỷ. Chàng cũng đã không theo ma quỷ vì thấy nó sợ hãi trước cây Thánh Giá. Chàng đã muốn theo thờ Thánh Giá, nhưng vị Linh Mục đã giúp chàng hiểu ra chính Chúa Giê-su đã chết trên cây Thánh Giá ấy mới là Đấng chàng phải đi theo ).

– Có thể nói không phải là chàng trai đã đi tìm Chúa Giê-su, mà thật ra phải nói thế nào cho đúng ? ( Thật ra, chính là Chúa Giê-su đã đi tìm anh. Chính Ngài đã âm thầm kêu gọi anh bằng nhiều cách gián tiếp ).

– Và cuộc đời chàng trai đã biến đổi ra sao ? ( Sau khi theo Đạo, chàng trai đã hết mình tôn thờ Thiên Chúa và phục vụ tha nhân, cuối cùng chàng đã can đảm chịu chết vì Đạo, trở thành một vị Thánh lớn ).

3. Đọc Lời Chúa:
Chúng ta hãy nghe chính Thánh Mát-thêu kể lại việc Chúa Giê-su đã gọi ông như thế nào. Nếu học trong lớp, có bảng đen, Giáo Lý Viên nên chép sẵn trên bảng đoạn Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu ( Mt 9, 9 ) Mời các em đứng lên và cùng đọc chậm rãi và trang trọng: “Khi ấy, Đức Giê-su đi ngang qua một trạm thu thuế, thì thấy một người tên là Mát-thêu đang ngồi ở đó. Ngài bảo ông: “Anh hãy theo tôi !” Ông đứng dậy đi theo Người.

4. Khai triển bằng hội thoại:
– Trước hết, Chúa Giê-su đã gọi những ai ? Có thể kể tên không cần theo thứ tự: ( Chúa Giê-su đã gọi 12 người làm Tông Đồ: Phê-rô, An-rê, Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê, Gio-an, Phi-líp-phê, Ba-tô-lô-mê-ô, Mát-thêu, Tô-ma, Gia-cô-bê con ông An-phê, Si-mon Nhiệt Thành, Giu-đa con ông Gia-cô-bê và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt ( Lc 6, 14 – 16 ).

– Ngoài ra các em còn biết có những ai nữa ? ( Đó là 72 môn đệ và rất nhiều người đi theo Chúa Giê-su ).

– Đi theo Chúa Giê-su thì các ông được những gì ? ( Các Tông Đồ, các môn đệ đi theo Chúa Giê-su thì được sống gần gũi bên cạnh Chúa, nghe những lời Chúa nói, thấy những việc Chúa làm, và rồi sẽ được Chúa sai đi loan báo Tin Mừng ).

– Cuộc đời các ông đã biến đổi như thế nào ? ( Các ông đã bỏ hết nghề cũ để đi theo Chúa Giê-su. Sau khi Ngài phải chịu chết trên thập giá, các ông đã hoang mang định giải tán, nhưng rồi khi Ngài phục sinh, nhờ ơn Chúa Thánh Thần, các ông đã can đảm nhận lệnh Chúa ra đi rao giảng tình yêu thương của Ngài cho đến khi các ông lần lượt chịu chết vì Đạo một cách anh hùng ).

5. Tập hát:
Bài “Nghe Tiếng Chúa Mời” ( Nối Lửa Cho Đời tập 7 trang 5, số 09 ).

II. ĐÍCH ĐIỂM:
Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây:
Chúa Giê-su yêu thương mọi người, Ngài kêu gọi hãy đi theo Ngài, sống như Ngài, nghĩa là biết quên mình để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân. Ngài bảo: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo thầy” ( Mt 16, 24 ). Được như thế, chúng ta sẽ vui hưởng hạnh phúc Nước Trời.

III. XÁC TÍN:
Kinh Tin Kính: “Vì chúng ta, Chúa Giê-su đã chịu đóng đinh vào thập giá dưới thời Phong-xi-ô Phi-la-tô…”

IV. TÂM TÌNH:
Mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện:

– Cám ơn Chúa vì Ngài đã yêu thương chúng con, gọi chúng con đi theo Chúa để được sống như Chúa.

– Xin Chúa cho chúng con biết can đảm hy sinh những thú vui nghịch ngợm để đến học Giáo Lý, để đi tham dự Thánh Lễ, hoặc để giúp việc trong nhà, biết tiết kiệm việc tiêu xài lặt vặt, nhịn những món ăn ngon để chia sẻ cho người nghèo.
Hát lại bài “Nghe Tiếng Chúa Mời”.

V. THỰC HÀNH:
Lớp Giáo Lý họp nhau quyên góp tổ chức một buổi đi thăm các gia đình có người già yếu, neo đơn, bệnh tật trong Giáo Xứ, hoặc tổ chức một chuyến đi thăm một cô nhi viện, một trại phong ở trong vùng.

Tu Sĩ ĐINH QUỲNH ĐIỆP, Tu Hội Gio-an Tẩy Giả

TIN MỪNG PHỤC SINH

I. KHỞI ĐIỂM:
1. Kể truyện:

Một bé trai mười hai tuổi lâm chứng bệnh nguy hiểm. Cả tháng trời em vật lộn với thần chết. Khi các bác sĩ cho biết cuối cùng em đã thoát khỏi lưỡi hái tử thần, em và cả gia đình đều mừng rỡ vô cùng.

Thế nhưng không bao lâu sau, đến lượt em gái của cậu bé lâm phải chứng bệnh y như anh nó. Cả gia đình lại rơi vào cảnh âu lo. Các bác sĩ cho biết cách duy nhất để cứu sống bé gái là sử dụng máu của chính cậu bé anh truyền cho em thì mới có hy vọng khỏi bệnh. Không thể tránh né vấn đề, người ta phải hỏi ý kiến bé trai. Thoạt đầu em tỏ ra lo lắng, nhưng sau một vài phút thinh lặng cầu nguyện, em đã cương quyết trả lời: “Vâng, con sẵn sàng hiến máu cho em con”.

Quả thật, nhờ sử dụng máu của cậu bé anh mới vừa lành bệnh, tiếp cho cô bé em đang mê man, các bác sĩ đã cứu sống được thêm một sinh mạng. Có điều, bé trai đã làm cho các bác sĩ ngẩn người ra khi nêu câu hỏi: “Vậy ra, con vẫn còn sống à ?” Cậu bé cứ tưởng mình sẽ tắt thở ngay sau khi tiếp máu cho em, và em đã can đảm chấp nhận hy sinh !

Cả hai anh em cậu bé sau đó đều hoàn toàn khoẻ mạnh. Nhiều nhà báo đến phỏng vấn: Nhờ đâu mà cậu bé đã dám chấp nhận chết để cứu sống em gái ? Cậu bé chỉ trả lời thật đơn sơ: “Cháu chỉ nhớ là được học Giáo Lý ở lớp Thêm Sức rằng: Chính Chúa Giê-su đã yêu thương mọi người, Ngài đã sẵn sàng chịu chết để cứu sống mọi người. Cháu yêu thương em cháu lắm, nên cháu cũng muốn được chết để em cháu được sống. Không ngờ Chúa đã cho em cháu sống, mà cháu thì cũng không phải chết !”

2. Đặt câu hỏi hội thoại:

– Cậu bé đã yêu thương em gái của mình như thế nào ? ( Tuy cậu bé vừa mới lành sau một cơn bệnh nguy hiểm, nhưng khi biết em bé gái của mình cần phải được cho máu mới có thể sống được, cậu bé đã sẵn sàng hy sinh, cho dù cậu bé nghĩ mình sẽ phải chết ).

– Tại sao cậu bé lại quyết định như thế ? ( Tất cả chỉ vì cậu bé hết sức yêu thương em gái mình, yêu thương đến mức quên cả sức khỏe và mạng sống của mình ).
– Do đâu mà cậu bé lại can đảm hy sinh như thế ? ( Chính là nhờ cậu bé đã học Giáo Lý và biết được chính Chúa Giê-su vì yêu thương, cũng đã hy sinh chịu chết để cho nhân loại chúng ta được sống ).
– Và cuối cùng thì thế nào ? ( Nhờ máu của anh trai, cô bé em đã sống được. Mà chính cậu bé cũng không phải chết ).

– Trong 2 phút, hãy suy nghĩ và thử đặt một cái tên ngắn gọn trong 4 từ cho câu truyện, rồi ghi vào tờ phiếu nhỏ, nộp lại ( Giáo Lý Viên công bố nội dung các tờ phiếu rồi cho các em biểu quyết chọn tên nào hay nhất, xúc động nhất. Trao một món quà nhỏ nhưng ý nghĩa, ví dụ: một xâu chuỗi Mai Khôi, một ảnh tượng Thánh Giá Chúa Giê-su… )

3. Tập hát:

Bài “Hát Mừng Phục Sinh” ( Nối Lửa Cho Đời tập 7 trang 49 số 77. )

4. Đọc Lời Chúa:
Mời đứng lên nghe đọc đoạn Tin Mừng theo Thánh Lu-ca thuật lại việc Đức Giê-su đã Phục Sinh và hiện ra với các môn đệ ( Lc 24, 36 – 43 ):
“Đức Giê-su hiện ra đứng giữa các môn đệ và bảo: “Bình an cho anh em !” Các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma. Nhưng Ngài nói: “Sao anh em lại hoảng hốt ? Sao còn ngờ vực trong lòng ? Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà ! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây ?” Nói xong, Ngài đưa tay chân ra cho các ông xem. Vì mừng quá, các ông vẫn chưa tin và còn đang ngỡ ngàng, thì Ngài hỏi: “Ở đây anh em có gì ăn không ?” Các ông đưa cho Ngài một khúc cá nướng. Ngài cầm lấy và ăn trước mặt các ông”.

Hát câu 1 bài “Hát Mừng Phục Sinh”.

5. Khai triển bằng hội thoại:
– Chúa Giê-su đã làm gì để cứu độ nhân loại ? ( Chúa Giê-su đã vâng lời Chúa Cha mà xuống thế làm người, rao giảng Tin Mừng, và cuối cùng Ngài đã tự nguyện hy sinh chịu chết trên Thánh Giá cho nhân loại ).
– Chúa Giê-su đã chết, nhưng sau đó thì sao ? ( Sau 3 ngày chôn trong mộ đá, Chúa Giê-su đã sống lại và Ngài đã hiện ra với các môn đệ khi các ông còn đang buồn rầu, thương tiếc và hết sức sợ hãi ).
– Chúa Giê-su Phục Sinh chứng tỏ điều gì ? ( Ngài quả thật là Con Thiên Chúa hằng sống, Ngài có quyền năng để chiến thắng tội lỗi và sự chết một cách vinh quang ).
– Nhờ Chúa Giê-su chịu chết và Phục Sinh, mọi người chúng ta được điều gì quan trọng ? ( Chúa Giê-su đã chết thay cho tội lỗi của tất cả chúng ta, Ngài lại Phục Sinh nên nếu như chúng ta tin vào Ngài, chúng ta không còn phải chết nhưng sẽ được sống đời đời với Ngài. Chính vì thế, chúng ta gọi đó là Tin Mừng Phục Sinh, một tin vui mừng hết sức lớn lao cho những ai tin vào Chúa Giê-su và đi theo Ngài ).

Hát lại câu 1 và thêm câu 2 bài “Hát Mừng Phục Sinh”.

II. ĐÍCH ĐIỂM:
Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây:

Chúa Giê-su đã chết và đã Phục Sinh. Đây là Tin Mừng Phục Sinh cho toàn thể nhân loại. Chúa Giê-su đã phán: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết.” ( Ga 11, 25 – 26 )

III. XÁC TÍN:

Kinh Tin Kính: “Chúa Giê-su chịu khổ hình và mai táng, ngày thứ ba Người sống lại đúng như lời Kinh Thánh…”

IV. TÂM TÌNH:
            Mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện:Chúng con cám ơn Chúa vì Chúa đã chịu chết thay cho chúng con. Chúng con tin Chúa đã Phục Sinh và Chúa vẫn đang hiện diện giữa Hội Thánh, giữa chúng con.

V. THỰC HÀNH:
Em về thắp một nén hương trước bàn thờ gia đình để tưởng nhớ và cầu nguyện cho những người thân đã qua đời ( ông bà, cha mẹ… ). Lòng em xác tín rằng tất cả mọi người sẽ được sống lại vào ngày sau hết.

Tu Sĩ PHẠM ĐỨC THIỆN, Tu Hội Đắc Lộ

 

 

THÁNH THẦN ĐƯỢC BAN CHO CÁC TÔNG ĐỒ

I. KHỞI ĐIỂM:
1. Kể truyện:
Chiaretta ( Ki-a-rét-ta ) sinh ra trong một gia đình nghèo miền quê nước Ý. Mới lên 4, em đã mắc phải một căn bệnh nan y, hay nghẹt thở và nôn ra máu. Cha mẹ em nuốt nước mắt bán dần mảnh ruộng nhỏ bé của mình để tìm cách đưa em lên thành phố, đi hết bệnh viện này sang bệnh viện khác tìm thầy tìm thuốc để chữa trị, đồng thời cũng đổi chỗ ở liên tục để may ra vì thế mà em khoẻ lại với những vùng khí hậu mới. Thế nhưng, tiền mất tật mang, các bác sĩ giỏi cũng đành bó tay !

Trong cơn tuyệt vọng, cha mẹ em nghe nói đến phong trào Bác Ái Hiệp Nhất, liền đưa em tìm đến một bệnh viện của phong trào này ở gần Trung Tâm Loppiano thuộc vùng Firenze nước Ý. Nơi đây cả nhà em xin nhập viện, tham gia cầu nguyện với Nhóm Tổ Ấm ( Focolare – Phô-cô-la-rê ) và tập sống yêu thương chia sẻ theo Lời Chúa. Hằng ngày, Chiaretta rước Chúa Giê-su Thánh Thể ở ngôi Nhà Nguyện của bệnh viện và cố gắng sống từng giây phút hiện tại trong ý nghĩa hiệp thông với Chúa. Em ghi tên vào một lớp học Tình Thương, nhưng suốt năm chỉ có thể đến lớp được 3, 4 lần vào những lúc sức khỏe khá nhất. Dù vậy, các bạn vẫn mang bài vở đến nhà cho em, rồi lại nhận bài của em làm đem nộp cho các thầy cô giáo. Thế mà đến kỳ thi cuối năm, Chiaretta vẫn đứng hạng nhất. Ở lớp Giáo Lý Thêm Sức, em cũng luôn là học sinh ngoan ngoãn, dễ thương và sốt sắng.

Mặc dù biết mình không thể sống được bao lâu nữa, em vẫn luôn hồn nhiên dễ thương với mọi người, khiến cho các bác sĩ, y tá ở bệnh viện, ai cũng phải vừa xót xa vừa cảm phục. Đặc biệt mỗi lần phải chích thuốc, em đều vui vẻ đưa tay ra, kèm theo một nụ cười thật tươi: “Xin cứ chích thuốc cho cháu đi, đừng ngại, có Chúa ở với em mà !”

Khi Chiaretta được nhận lãnh Chúa Thánh Thần qua Bí Tích Thêm Sức thì cũng là lúc cơn bệnh của em trở nên trầm trọng. Cha mẹ quyết định đưa em về lại làng cũ. Lúc từ giã, phải khó khăn lắm em mới có thể bước đi bắt tay các bạn cùng phòng, em không quên lập lại một câu nói đơn sơ: “Chỉ tạm biệt thôi, chúng ta sẽ gặp lại nhau, không dưới đất thì trên Nước Trời vậy !” Em cũng lễ phép đi cám ơn và chào từng bác sĩ và y tá đã chăm sóc cho em hơn một năm qua trong tình yêu mến gắn bó kỳ lạ… Không lâu sau đó, ở bệnh viện Loppiano, được tin Chiaretta đã qua đời, ai cũng nhắc đến em với một lòng kính phục, họ trân trọng gọi em là “Tông-Đồ-Thiếu-Nhi” vì chính em đã dạy cho họ biết thế nào niềm vui phó thác trọn đời cho Chúa…

2. Đặt câu hỏi hội thoại:

– Tính tình của cô bé Chiaretta như thế nào ? ( Mặc dù mắc phải chứng bệnh nan y, sức khỏe rất yếu, cô bé vẫn sống rất hồn nhiên, ngoan ngoãn và chăm học cả ở lớp Tình Thương cũng như ở lớp Giáo Lý. Cô bé còn có một Lòng Tin vào Chúa một cách đặc biệt nên không bao giờ sợ phải đau đớn do bệnh tật, do chích thuốc… )

– Sau khi được lãnh nhận Chúa Thánh Thần qua Bí Tích Thêm Sức, cô bé đã sống những ngày cuối đời thế nào ? ( Nhờ ơn Chúa Thánh Thần thêm sức thiêng liêng, cô bé lại càng thêm xác tín vào Tin Mừng Phục Sinh của Chúa Giê-su ).

– Sau khi em qua đời, người ta nhắc nhớ về cô bé ra sao ? ( Người ta gọi cô bé là “Tông-Đồ-Thiếu-Nhi” là vì cô bé đã giúp cho mọi người sống chung quanh mình thêm Lòng Tin vào tình yêu của Thiên Chúa, cô bé thật sự là một Tông Đồ tý hon của Chúa Giê-su ).

3. Tập hát:

Bài “Xin Ban Thánh Thần” ( Nối Lửa Cho Đời tập 7 trang 15 số 24 ).

4. Đọc Lời Chúa:

Giáo Lý Viên đọc to, chậm rãi cho các em nghe đoạn Tin Mừng theo Thánh Gio-an về việc Chúa Giê-su ban Thánh Thần cho các môn đệ ( Ga 20, 19 – 23 ): Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em !” Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông: “Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em”. Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ”.

5. Khai triển bằng hội thoại:
– Trong cuộc đời rao giảng, Chúa Giê-su đã nhiều lần nói tới Chúa Thánh Thần. Ngài hứa khi Ngài về cùng Chúa Cha, Ngài sẽ gửi Chúa Thánh Thần đến với các môn đệ.
– Sau khi Phục Sinh và trước khi về Trời, như trong đoạn Tin Mừng vừa nghe, Chúa Giê-su đã hiện ra, chúc bình an và hà hơi ban Chúa Thánh Thần cho các môn đệ.
– Đến ngày Lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần đã được ban cho các môn đệ một cách long trọng. Cuộc đời các môn đệ của Chúa Giê-su đã thay đổi như thế nào sau khi nhận lãnh ơn Chúa Thánh Thần ? ( Cuộc đời các ông đã thay đổi hoàn toàn: từ nhút nhát thành can đảm, từ chậm tin thành xác tín, từ ích kỷ thành vị tha… Các ông đã hân hoan ra đi khắp nơi để rao giảng Tin Mừng Phục Sinh, khai mở Hội Thánh trên toàn thế giới ).

– Trong tương lai, các em cũng sẽ được lãnh nhận Chúa Thánh Thần qua Bí Tích Thêm Sức, các em sẽ sống như thế nào ? ( Với ơn Chúa Thánh Thần, các em sẽ thêm can đảm để sống đời Ki-tô hữu một cách thật tốt đẹp: ngoan hơn, chăm học hơn, sẵn sàng giúp đỡ mọi người hơn và nhất là sốt sắng đạo đức hơn, và đó là cách các em sẽ rao giảng về Thiên Chúa cho mọi người chung quanh các em… )

II. ĐÍCH ĐIỂM:

Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây: Chúa Thánh Thần đã được ban xuống cho các môn đệ Chúa Giê-su để họ thêm sáng suốt, bình an trong tâm hồn và can đảm ra đi rao giảng Tin Mừng Phục Sinh cho mọi người và ở mọi nơi. Ngày hôm nay, Chúa Thánh Thần vẫn tiếp tục hướng dẫn và canh tân Hội Thánh.

III. XÁC TÍN:

Kinh Tin Kính: “Tôi tin kính Chúa Thánh Thần, Người là Chúa và là Đấng ban sự sống, Người phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con, Người cùng được phụng thờ và tôn vinh với Chúa Cha và Chúa Con. Người đã dùng các Ngôn Sứ mà phán dạy.”

IV. TÂM TÌNH:

Mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện: Xin Chúa Thánh Thần biến đổi hồn xác lòng trí chúng con… Chúng con ước mong sẽ sớm tới ngày được chính thức lãnh nhận Chúa Thánh Thần qua Bí Tích Thêm Sức… Hát lại bài “Xin Ban Thánh Thần”.

V. THỰC HÀNH:

Thân xác và tâm hồn em là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần, em sẽ thôi không nói dối, chửi thề, không ăn cắp vặt, không quay cóp khi thi…

 Tu Sĩ LÊ XUÂN QUÝ, Dòng Xi-tô Châu Thủy

CỘNG ĐOÀN TÍN HỮU ĐẦU TIÊN

I. KHỞI ĐIỂM:

1. Kể truyện:

Ngày xưa, tại một vùng nông thôn giáp kinh đô Giê-ru-sa-lem nước Do-thái, có hai anh em trai cùng làm ruộng trên một thửa đất nhỏ. Người anh về sau đã lập gia đình và con cái ngày một đông đúc nheo nhóc, trong khi người em thì vẫn sống độc thân. Thế nhưng cả hai vẫn giữ đúng lời di chúc của cha mẹ, đó là luôn sống bên nhau, cùng ra sức cầy cấy mảnh ruộng nhà. Tới vụ mùa, họ thu gặt rồi bó những bó lúa thành hai đống bằng nhau, rồi cứ thế để nguyên trên bờ ruộng…

Một năm, gặp cơn mất mùa đói kém, lúa thu về giảm hẳn đi nhưng cả hai vẫn chia đều nhau một cách vô tư. Đến đêm, người em trằn trọc mãi không ngủ được, cậu nghĩ: “Tội nghiệp ông anh mình phải vất vả một tay nuôi vợ nuôi con năm sáu miệng ăn, nếu phần thóc lúa thu hoạch của mình mà lại cũng bằng ngang với phần của anh ấy thì không công bằng chút nào. Vậy mình hãy bí mật ra đồng lấy chục bó lúa trong đống của mình mà bỏ thêm sang cho đống của anh ấy, anh ấy có lẽ không để ý nhận ra đâu !” Đoạn anh trở dậy, thực hiện ngay ý định dễ thương ấy…

Cũng đêm hôm ấy, ở gian nhà bên cạnh, người anh cũng trăn trở mãi không ngủ được, anh đánh thức vợ dậy để bàn bạc: “Mình xem, em trai tôi, chú ấy còn trẻ, lại cứ sống cô độc không có ai giúp đỡ trong công việc nặng nhọc hoặc an ủi chăm sóc chú ấy những khi trái gió trở trời. Cùng làm chung thửa ruộng với chú ấy mà chúng mình lại cũng nhận số lúa bằng với chú ấy thì coi không được chút nào ! Mình nghĩ sao ? Hay là tiện dịp đêm nay tối trời không có trăng, để tôi lén ra ruộng để chia thêm độ chục bó lúa phần chúng mình sang cho đống của chú ấy…” Người vợ nhân hậu đồng ý và người anh thực hiện ngay như dự tính…

Ngày hôm sau, cả hai anh em cùng ra đồng thì đều ngạc nhiên thấy hai đống lúa của họ sao lại vẫn cứ bằng nhau y như trước, không thay đổi suy suyển gì như dụng ý của họ. Trong thâm tâm cả hai đều thầm nhủ: đúng là do mình đã quá dè xẻn ích kỷ, chuyển số lúa ít quá, chẳng đáng bao nhiêu !

Thế là đến khuya, người em lại trở dậy, bí mật ra ruộng bỏ số bó lúa nhiều gấp đôi hôm trước sang cho anh. Đến rạng sáng thì người anh cũng nhẹ bước rời nhà ra đồng bỏ số lúa nhiều gấp đôi sang cho em…

Sáng hôm sau, một lần nữa, cả hai lại kinh ngạc vì hai đống lúa vẫn cứ y nguyên như cũ. Họ tự giận mình mà làm đi làm lại như thế mấy đêm liền, nhưng vì người này mang bỏ vào đống của người kia số bó lúa xấp xỉ như nhau, nên hai đống lúa vẫn cứ bằng nhau !

Cuối cùng, một đêm nọ, hai anh em cùng chạm mặt nhau trên bờ ruộng, bắt gặp người này đang lấy lúa mình mà bỏ thêm cho người kia. Họ chưng hửng và chợt hiểu ra tất cả. Họ xúc động ôm chầm lấy nhau, nghẹn ngào trong nước mắt. Từ đó, hai anh em quyết định nhập chung số lúa lại để dùng chung cho cả hai nhà trong thuận hòa hạnh phúc còn hơn cả những ngày trước đó…

2. Đặt câu hỏi hội thoại:

– Hai anh em trai cùng với người chị dâu có yêu thương nhau không ? ( Đó là một gia đình sống chung với nhau thật hạnh phúc đầm ấm. Dù nghèo, họ vẫn luôn chia sẻ nhường nhịn nhau, người này đều muốn điều tốt cho người kia ).

– Sau nhiều lần bí mật nhường thóc lúa cho nhau không thành công, hai anh em đã đụng độ nhau và quyết định như thế nào ? ( Họ đã quyết định nhập chung tất cả số thóc lúa cả hai làm ra, từ đây sẽ dùng chung với nhau trong thuận hòa còn hơn cả những ngày trước đó ).

– Cả gia đình ấy đã sống được trọn vẹn lời dạy nào của Chúa Giê-su ? ( Đó là câu: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” ( Ga 15, 12 ).

3. Tập hát:

Bài “Dấu Chỉ Môn Đệ” ( Nối Lửa Cho Đời tập 7, trang 111, số 173 ) hoặc bài “Trong Đức Ki-tô” ( Sách Giáo Lý Thêm Sức tập 1, trang 82, có trong CD Vang Ca Tin Mừng Thêm Sức 1 ).

4. Đọc Lời Chúa:
Giáo Lý Viên đọc đoạn Sách Công Vụ Tông Đồ ( Cv 4, 32 – 35 ):

Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung. Nhờ quyền năng mạnh mẽ Thiên Chúa ban, các Tông Đồ làm chứng Chúa Giê-su đã sống lại. Và Thiên Chúa ban cho tất cả các ông dồi dào ân sủng. Trong cộng đoàn, không ai phải thiếu thốn, vì tất cả những người có ruộng đất nhà cửa, đều bán đi, lấy tiền, đem đặt dưới chân các Tông Đồ. Tiền ấy được phân phát cho mỗi người, tùy theo nhu cầu.

5. Khai triển bằng hội thoại:
Có thể tham khảo thêm đoạn Cv 2, 42 – 47 để mở rộng bài:
– Các tín hữu đầu tiên đã sống với nhau như thế nào về mặt tín ngưỡng ? ( Họ yêu thương nhau, lập thành cộng đoàn Hội Thánh, chia sẻ với nhau Lòng Tin vào Chúa Giê-su Phục Sinh bằng cách lắng nghe giáo huấn của các Tông Đồ, cầu nguyện, dâng lễ… )
– Còn về mặt vật chất và tinh thần ? ( Họ bán tất cả ruộng đất nhà cửa, giao cho các Tông Đồ để tương trợ cho nhau, chẳng ai trong cộng đoàn phải thiếu thốn nghèo đói hoặc bị bỏ rơi lạc lõng… )

– Tất cả những điều ấy giúp gì cho việc họ làm chứng Chúa Giê-su Phục Sinh ? ( Họ sống chung thật đoàn kết vui tươi, được mọi người quý mến kính trọng, nhờ vậy càng ngày càng có thêm nhiều người tin vào Chúa Giê-su Phục Sinh, xin chịu Bí Tích Thánh Tẩy và gia nhập cộng đoàn ).

II. ĐÍCH ĐIỂM:
Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây:

Cộng đoàn các tín hữu đầu tiên đã được hình thành do ơn Chúa Thánh Thần, nêu lên một mẫu mực, một nếp sống mới: vừa gắn bó với Thiên Chúa và Hội Thánh, vừa xây dựng một tình thương yêu tương trợ lẫn nhau theo như lời dạy của Chúa Giê-su.

III. XÁC TÍN:

Kinh Tin Kính: “Tôi tin kính một Hội Thánh Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền…”

IV. TÂM TÌNH:

Mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện. Giáo Lý Viên có thể gợi ý để các em dâng lời nguyện tự phát: Xin Chúa cho chúng con cũng biết lắng nghe Lời Chúa và sẵn sàng chia sẻ điều mình có với anh em bạn bè, nhất là với những người nghèo khó, bệnh hoạn, trẻ mồ côi, các cụ già yếu, người khuyết tật…

V. THỰC HÀNH:

Cả lớp cùng nhau khui hộp tiết kiệm đã thực hiện chung từ 4 tuần trước ( sau khi hoặc bài Giáo Lý số 21 ), tổng kết và góp cho Giáo Xứ để trợ giúp đồng bào bị thiên tai hạn hán mất mùa hay lũ lụt…

Phó tế Giu-se  NGUYỄN VĂN HỘI, DCCT

CÁC TÍN HỮU NHỚ LẠI VÀ LƯU TRUYỀN ĐỨC TIN

I. KHỞI ĐIỂM:
1. Kể truyện:

Ngày 3 tháng 4 năm 311, hoàng đế Galère ( Ga-le ) của đế quốc Rô-ma ở Phương Đông đã cho ban hành một sắc lệnh chấm dứt các cuộc bách hại đối với người Ki-tô hữu. Thế nhưng khi ông ta chết, hoàng đế kế vị là Maximilian Daia ( Mắc-mi-liêng Đa-i-a )lại tái diễn thảm kịch, và do vậy, Hội Thánh Công Giáo lại có thêm những vị anh hùng vui lòng chịu chết vì Đạo Chúa, đặc biệt, họ đã quyết lòng hy sinh để bảo tồn sách Kinh Thánh, tác phẩm vô giá của Thiên Chúa đã trao ban cho nhân loại.

Đức Giám Mục Félix ( Phê-lích ) ở Phi châu, khi bị bắt phải đem nộp những quyển Kinh Thánh hiện đang lưu giữ, ngài đã bình tĩnh tuyên bố: “Thà chính tay tôi phải đốt sách Kinh Thánh còn hơn để Kinh Thánh bị thiêu rụi bởi tay người bách hại Đạo Chúa !”

Nữ Thánh Irène ( I-ren ) ở Salonique, em gái của nữ Thánh Agapé ( A-ga-pê ) đã khẳng khái tuyên xưng: “Chúng tôi sẵn sàng chịu thiêu sống hoặc chịu bất cứ khổ hình nào, hơn là giao nộp những cuốn Kinh Thánh !”

Thầy Phó Tế Hermes ( Héc-mét ) tại Héraclée ( Ê-ra-clê ) thì mạnh dạn nói với pháp quan: “Dù các ông có thành công trong việc bắt giao nộp tất cả các sách Kinh Thánh, dù trên thế gian này chẳng còn dấu vết Thánh Truyền của chúng tôi đi nữa, thì các thế hệ con cháu chúng tôi sớm muộn gì cũng sẽ tái tạo được những tác phẩm ấy nhiều gấp bội, và họ sẽ càng hăng say giảng dạy sự kính mến Thiên Chúa nhiều hơn nữa !”

2. Đặt câu hỏi hội thoại:
– Các vị Tử Đạo những thế kỷ đầu tiên đã hy sinh ra sao và để làm gì ? ( Họ đã chấp nhận bị bắt, bị giết để bảo tồn được Sách Kinh Thánh ).
– Tại sao lại chấp nhận như thế ? ( Bởi vì họ xác tín Sách Kinh Thánh, nhất là 4 cuốn Sách Tin Mừng, chính là kho tàng vô giá do Thiên Chúa để lại cho các tín hữu để nuôi dưỡng đời sống Đức Tin của họ ).

– Bảo tồn được Sách Kinh Thánh với mục đích gì ? ( Họ đã bảo tồn, không để Sách Kinh Thánh bị tịch thu, bị thiêu hủy, chính là để có thể lưu truyền lại cho các thế hệ tín hữu kế tiếp, đến cả chúng ta hôm nay ).

3. Tập hát:

Bài “Ghi Nhớ Lời Ngài” ( Nối Lửa Cho Đời tập 7, trang 38, số 63 ).

4. Đọc Lời Chúa:

Giáo Lý Viên mời các em đứng lên lắng nghe đọc đoạn mở đầu Sách Tin Mừng theo Thánh Lu-ca ( Lc 1, 1 – 4 ). Tác giả trình bày về việc ngài cố gắng viết lại Sách Tin Mừng để lưu lại cho các thế hệ tín hữu:

“…Có nhiều người đã ra công biên soạn bản tường thuật những điều đã được thực hiện giữa chúng ta. Họ viết theo những điều mà các người đã được chứng kiến ngay từ đầu và đã phục vụ lời Chúa truyền lại cho chúng ta. Tôi cũng vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự, thì thiết tưởng cũng nên tuần tự viết ra để kính tặng ngài, mong ngài sẽ nhận thức được rằng giáo huấn ngài đã học hỏi thật là vững chắc.”

5. Khai triển bằng hội thoại:
– Những người được may mắn sống với Chúa Giê-su một thời gian dài là ai ? ( Đó là các Thánh Tông Đồ và các vị môn đệ của Chúa Giê-su. Họ đã được nghe tận tai những Lời của Chúa Giê-su nói, được thấy tận mắt những việc Chúa Giê-su làm, và nhất là họ còn được chứng kiến Ngài chết, sống lại và lên trời ).
– Và họ sẽ làm gì với tất cả những chuyện ấy ? ( Họ đã kể lại mọi chuyện liên quan đến Chúa Giê-su, đến nếp sống Đức Tin của Hội Thánh cho các tín hữu mới theo Đạo, rồi cứ thế người trước truyền lại cho người sau ).
– Họ chỉ kể bằng câu chuyện thôi sao ? ( Các Tông Đồ đã ghi chép lại thành các Sách Tin Mừng, Sách Công Vụ Tông Đồ và Khải Huyền. Mặt khác, các tín hữu cũng quý trọng và lưu giữ cả những lá thư các Tông Đồ đã gửi đến cho họ khi không thể đến tận nơi trực tiếp giảng dạy, nhờ vậy mà ngày nay còn có được các bài Thánh Thư. Tất cả làm thành phần Tân Ước của bộ Kinh Thánh ).
– Nhưng rồi các Tông Đồ và môn đệ cùng thời với Chúa Giê-su cũng lần lượt chết vì Đạo thì biết làm thế nào ? ( Ngay từ thế kỷ đầu tiên cho đến nay, các thế hệ tín hữu tiếp nối trong Hội Thánh vẫn luôn bảo tồn các Sách Kinh Thánh kể cả phần Cựu Ước cùng những lời nhắn nhủ dạy dỗ của các Tông Đồ. Tất cả làm nên Truyền Thống các Tông Đồ ).

– Truyền Thống các Tông Đồ để lại cho chúng ta những gì về mặt Đức Tin ? ( Tất cả được cô đọng lại trong Kinh Tin Kính: tin Thiên Chúa Đấng tạo thành là Cha; Tin Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa, đã nhập thể làm người, chịu chết và sống lại, lên Trời; Tin Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống; Tin Hội Thánh duy nhất; Tin Bí Tích Thánh Tẩy; Tin vào sự sống lại; Tin vào sự sống đời đời ).

II. ĐÍCH ĐIỂM:
Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây:

Các Tông Đồ đã để lại cho các thế hệ tín hữu trong Hội Thánh từ khởi đầu cho đến ngày nay toàn bộ phần Tân Ước, cùng với phần Cựu Ước trước đó làm nên bộ Kinh Thánh. Các ngài cũng để lại cho chúng ta những lời nhắn nhủ dạy dỗ về đời sống Đức Tin Công Giáo.

III. XÁC TÍN:

Kinh Tin Kính: “Tôi tin kính một Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, Công Giáo và tông truyền. Tôi tuyên xưng có một Phép Rửa duy nhất để tha tội…”

IV. TÂM TÌNH:
Mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện:

Chúng con cám ơn Chúa Thánh Thần đã soi sáng và linh hứng cho các Tông Đồ ghi chép lại phần Tân Ước của Kinh Thánh và để lại cho chúng con. Chúng con hứa sẽ tuân giữ những lời truyền dạy ấy và nêu gương sáng Đức Tin cho mọi người chung quanh.

V. THỰC HÀNH:
Ghi lại tóm tắt từng điều xác tín của người Công Giáo và học thuộc Kinh Tin Kính ( bản được đọc trong Thánh Lễ Chúa Nhật ).

Tu Sĩ TRƯƠNG VĂN VÚT, Dòng Xi-tô Châu Thủy

BỐN SÁCH TIN MỪNG

I. KHỞI ĐIỂM:
1. Kể truyện:

Tại nước Anh, có hai nhà trí thức tên là Gilbert West và bá tước Littleton ( Những tên này rất khó phát âm nên Giáo Lý Viên có thể không cần nêu ). Cả hai rất thân với nhau và lại đều rất nổi tiếng về sự uyên bác, học cao hiểu rộng, nhưng khổ nỗi, cả hai đều không tin vào Thiên Chúa. Mỗi lần gặp nhau là hai ông đều lấy sách Tin Mừng ra làm đề tài để cười đùa, chế nhạo.

Một hôm, hai ông thảo luận tranh cãi với nhau và cho rằng có hai điều hoang đường khó tin nhất trong Tin Mừng: Một là chuyện Chúa Giê-su Phục Sinh và hai là sau khi sống lại, Chúa Giê-su hiện ra trên dường Đa- mát gặp Phao-lô khiến ông này chấm dứt cuộc khủng bố các môn đệ Chúa, rồi khiến ông ấy trở thành người rao giảng Tin Mừng số một trong thế kỷ đầu tiên. Hai ông này quyết định phân công, mỗi người đều ra sức nghiên cứu 4 Sách Tin Mừng cho thật kỹ để tìm ra cho bằng được những điểm giả dối, lừa bịp trong hai sự kiện nói trên. Họ tin chắc rằng một khi họ công bố kết quả nghiên cứu này, thì thế nào giá trị của Sách Tin Mừng cũng bị sụp đổ cho đến tận nền móng.

Thế nhưng, sau một thời gian dài nghiên cứu, phân tích, phê bình, thẩm định giá trị từng chi tiết và phối kiểm tất cả mọi bằng chứng lịch sử, cả hai ông đều không tìm ra được một lý lẽ nào để bài bác Tin Mừng hoặc đánh đổ hai biến cố quan trọng liên quan đến Chúa Giê-su Phục Sinh mà Sách Tin Mừng đã ghi chép. Điều không ai ngờ là giờ đây, thay vì bài bác chống đối, cả hai ông lại đều đã trở thành những môn đệ chân thành tin theo Chúa Giê-su. Sau khi xin chịu Bí Tích Thánh Tẩy, hai ông đã dùng cả cuộc đời còn lại để biên soạn nhiều tác phẩm rất có giá trị với nội dung trình bày về sự chân xác tuyệt vời của Sách Tin Mừng.

2. Đặt câu hỏi hội thoại:

– Hai nhà trí thức trong câu truyện đã có thái độ ban đầu như thế nào về các Sách Tin Mừng ? ( Họ đã nghi ngờ, coi thường và cho rằng Tin Mừng Chúa Giê-su Phục Sinh là chuyện bịa đặt hoang đường, không thể tin được ).

– Họ đã làm gì với các Sách Tin Mừng ? ( Họ đã chia nhau ra để nghiên cứu, “vạch lá tìm sâu” để bắt bẻ cho bằng được các chi tiết được ghi chép trong Sách Tin Mừng ).
– Cuối cùng kết quả ra sao ? ( Không ai ngờ là họ đã tỉnh ngộ và hoán cải, tin vào Chúa Giê-su Phục Sinh và tỏ ra hết sức kính trọng các Sách Tin Mừng ).

– Vì đâu mà họ lại thay đổi thái độ kỳ lạ như thế ? ( Vì các Sách Tin Mừng không hề bịa đặt, nhưng đã nói lên một sự thật về Chúa Giê-su Phục Sinh cùng các chi tiết, các biến cố có liên quan đến Ngài. Hơn nữa, chúng ta tin rằng: khi đọc các Sách Tin Mừng một cách kính trọng đàng hoàng, suy nghĩ về cuộc đời của Chúa Giê-su một cách chín chắn, thì ắt có ơn Chúa Thánh Thần đặc biệt soi sáng cho người đọc có thể hiểu và tin vào Tin Mừng ).

3. Tập hát:

Bài “Lời Chúa” ( Sách Giáo Lý Thêm Sức tập 1 trang 88, có trong CD Vang Ca Tin Mừng Thêm Sức 1 ).

4. Đọc Lời Chúa:

Giáo Lý Viên đọc cho các em nghe đoạn cuối cùng trong Sách Tin Mừng theo Thánh Gio-an ( Ga 20, 30 – 31 ) sau đây: “Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người.”

5. Khai triền bằng hội thoại:
– Có mấy tác giả ghi chép các Sách Tin Mừng ? ( Có 4 tác giả đã ghi chép 4 Sách Tin Mừng, đó là các vị: Mát-thêu, Mác-cô, Lu-ca và Gio-an ).
– Vậy, tác giả dích thật của các Sách Tin Mừng là Ai ? ( Đó là Chúa Thánh Thần, Ngài linh hứng, soi sáng cho 4 vị Thánh ghi chép lại ).
– 4 Sách Tin Mừng kể lại điều gì ? ( Tất cả đều cùng kể lại toàn bộ cuộc đời của Chúa Giê-su từ khi nhập thể làm người đến khi chịu chết và sống lại, rồi về Trời. Các Sách Tin Mừng ghi lại rất chi tiết và khá đầy đủ những việc Ngài làm, những lời Ngài nói, những điều Ngài giảng dạy. Vì thế, tuy có đến 4 Sách Tin Mừng với cách cảm nhận và cách viết khác nhau của 4 tác giả, nhưng lại chỉ có duy nhất một Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Giê-su mà thôi ).

– Nội dung các Sách Tin Mừng giúp chúng ta điều gì quan trọng và vô giá ? ( Đó chính là của ăn thiêng liêng nuôi dưỡng đời chúng ta, cho chúng ta được lãnh nhận Ơn Đức Độ. Chúa Giê-su đã nhắn nhủ: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” ( Mt 4, 4 ). Bởi vậy, chúng ta rất cần phải siêng năng đọc Sách Tin Mừng, chuyên cần học hỏi và cố gắng đem ra thực hành ).

II. ĐÍCH ĐIỂM và XÁC TÍN:

Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây: Chính Chúa Thánh Thần đã linh hứng cho 4 vị Thánh là: Mát-thêu, Mác-cô, Lu-ca và Gio-an, để các ngài ghi chép lại toàn bộ cuộc đời Chúa Giê-su trong 4 Sách Tin Mừng. Tuy có tới 4 Sách Tin Mừng nhưng lại chỉ có một Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Giê-su mà thôi.

III. TÂM TÌNH:
Chuẩn bị trước một nơi trang trọng ở góc lớp để đặt Sách Tin Mừng, có nến Phục Sinh thắp sáng từ đầu buổi học, có thể có thêm một bình cắm hoa tươi. Mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện: Cám ơn Chúa Thánh Thần đã soi sáng cho chúng con biết đọc Sách Tin Mừng, yêu mến Tin Mừng Chúa Giê-su và đem ra thực hành.

Lấy lại bài “Lắng Nghe Lời Chúa” của bài học đầu năm ( Sách Giáo Lý Thêm Sức tập 1, trang 5 ).

IV. THỰC HÀNH:

Công việc ở nhà: Tìm một tờ giấy bìa cứng, cao 10 cm, dài 40 cm, viết nắn nót bằng nét chữ to câu Lời Chúa: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” ( Mt 4, 4 ). Buổi sau sẽ triển lãm ở lớp, rồi đem về treo ở gần bàn thờ gia đình.

 Phó tế Giu-se NGUYỄN VĂN HỘI, DCCT

SÁCH CÔNG VỤ TÔNG ĐỒ

I. KHỞI ĐIỂM:
1. Kể truyện:

Hạnh các Thánh Tử Đạo Việt Nam kể lại rằng: Ông cụ Trùm Đích và con rể là ông Lý Mỹ đều bị bắt trong cuộc bách đạo. Trước sức ép của bạo lực cũng như cám dỗ tiền bạc giàu sang, cả hai ông đều thà chịu chết chứ kiên quyết khước từ không chịu đạp lên Thánh Giá.

Sau khi 2 lần tự nguyện chịu đòn thay cho nhạc phụ đã già yếu, ông Lý Mỹ đối diện với quan quân, mạnh dạn tuyên xưng Đức Tin: “Thưa quan lớn, tôi đã suy xét và tin nhận Đạo Thiên Chúa là Đạo thật nên tôi không thể chối bỏ. Giả như có ai bảo quan lớn đạp lên đầu Đức Vua là người đã ban chức cao quyền trọng cho quan lớn, ắt hẳn quan lớn chẳng dám làm. Vậy thì tôi đây, lẽ nào lại cả gan đạp lên tượng ảnh Thiên Chúa mà tôi hết lòng thờ kính ?”

Cô con gái tên Mỹ, mới 12 tuổi, vào thăm ông Lý Mỹ trong ngục, đã khích lệ: “Xin cha hãy can đảm chịu chết vì Chúa !” Đến cậu bé Tường mới 9 tuổi cũng nói: “Cha đừng lo cho chúng con. Cha hãy an tâm vững lòng xưng Đạo chịu chết vì Đạo !” Cuối cùng là lời khuyên của bà vợ: “Vợ con ai mà chẳng thương tiếc, nhưng ông hãy vác thập giá, trung thành với Chúa cho đến cùng. Đừng lo nghĩ về mẹ con tôi !”

2. Đặt câu hỏi hội thoại:
– Hai cha con ông cụ Trùm Đích và ông Lý Mỹ đã can đảm tuyên xưng Lòng Tin bằng cách nào ? ( Họ đã dứt khoát thà chịu chết chứ không đạp lên Thánh Giá Chúa Giê-su, Đấng họ tôn thờ là Thiên Chúa ).
– Các con của ông Lý Mỹ thì sao ? ( Cô bé Mỹ 12 tuổi và cậu bé Tường 9 tuổi cũng đều can đảm, không khóc lóc sợ hãi, nhưng bình tĩnh an ủi khích lệ cha mình chấp nhận chết vì Đạo ).
– Còn bà vợ ông Lý Mỹ ? ( Bà cũng trấn an ông cứ trung thành với Chúa, đừng lo chuyện vợ con ).

– Chuyện chết vì Đạo của cả một gia đình gồm 5 người như thế có liên quan gì đến Hội Thánh chúng ta hôm nay không ? ( Cả gia đình này đều tỏ ra anh hùng chịu hy sinh vì Đạo Chúa. Họ đã góp phần vào việc làm chứng cho Chúa giữa cuộc đời, họ là những truyền giáo, mở mang Hội Thánh, nhờ họ mà Đạo Chúa tiếp tục phát triển mạnh mẽ trên đất nước Việt Nam chúng ta, cho chúng ta có được một di sản Đức Tin lớn lao bất khuất như hiện nay ).

3. Tập hát:

Bài “Là Người Công Giáo” ( Nối Lửa Cho Đời tập 7, trang 8, số 15 ).

4. Đọc Lời Chúa:
Giáo Lý Viên đọc đoạn trích Sách Công Vụ Tông Đồ ( Cv 1, 7 – 8 ) về những lời Chúa Giê-su truyền dạy cho các môn đệ: Khi ấy Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất.”5. Khai triền bằng hội thoại:
– Hội Thánh lúc ban đầu cũng gồm những con người can đảm và anh hùng ra đi truyền giáo, mở mang Nước Chúa trên khắp cõi trần gian. Họ được như thế là nhờ đâu ? ( Họ có được sức mạnh và sự kiên trì ấy là nhờ ơn Chúa Thánh Thần. Họ đã vượt qua được bao nhiêu thử thách gian nan, chấp nhận chịu chết vì Đạo ).
– Hội Thánh bắt đầu từ nơi nào ? ( Hội Thánh được hình thành tại Giê-ru-sa-lem, các tín hữu là người Do-thái, rồi sau đó, lan rộng ra các nước chung quanh với các dân tộc khác là nhờ các cuộc hành trình truyền giáo xa xôi và lâu dài của Thánh Phao-lô và các vị Tông Đồ khác nữa ).

– Và công cuộc truyền giáo ấy được ghi lại trong cuốn sách nào của Kinh Thánh Tân Ước ? ( Đó là là Sách Công Vụ Tông Đồ, tác giả ghi chép là Thánh Lu-ca ).

II. ĐÍCH ĐIỂM và XÁC TÍN:

Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây: Với Sách Công Vụ Tông Đồ, Thánh Lu-ca đã ghi chép lại lịch sử của Hội Thánh trong giai đoạn khởi đầu. Các Tông Đồ ở Giê-ru-sa-lem khi ấy đã nhận được ơn Chúa Thánh Thần, họ can đảm ra đi làm chứng về Chúa Giê-su Phục Sinh, rao giảng Tin Mừng cho nhiều dân tộc và nhiều đất nước bên ngoài Pa-lét-tin.

III. TÂM TÌNH:
Mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện:
– Xin cám ơn Chúa Giê-su, cám ơn Chúa Thánh Thần, cám ơn các Thánh Tông Đồ đã giúp cho việc truyền giáo được mở ra cho toàn thế giới, trong đó có dân tộc Việt Nam chúng con.

– Xin Chúa Thánh Thần giúp chúng con hôm nay cũng biết rao giảng Tin Mừng Chúa Giê-su bằng một cuộc sống dễ thương, bác ái giữa mọi người, nhất là giữa những người chưa biết chịu Chúa và biết Đạo.

IV. THỰC HÀNH:

Em hãy kể truyện về Chúa và những lời Ngài giảng dạy, kể về Đạo cho một người bạn không Công Giáo. Nếu bạn ấy đồng ý, em có thể mời bạn đến dự lễ thiếu nhi Giáo Lý tại Nhà Thờ hoặc cho bạn ấy mượn tập học Giáo Lý Thêm Sức của em…

 Tu Sĩ Giu-se MAI XUÂN TỰ, Tu Hội Nhà Chúa 

CÁC THƯ CHUNG VÀ SÁCH KHẢI HUYỀN

I. KHỞI ĐIỂM:
1. Kể truyện:

Đây là một câu truyện truyền thuyết về thánh Gio-an Tông Đồ, người môn đệ được Chúa Giê-su yêu mến cách đặc biệt. Sau 3 năm phải chịu lưu đầy biệt xứ ở đảo Patmos do bị bắt Đạo, khi trở về Ê-phê-xô, Thánh Gio-an được biết chuyện về một chàng trai ngài đã từng kỳ vọng rất nhiều tại cộng đoàn Ê-phê-xô. Hiện anh ta đã sa ngã và trở thành một thủ lãnh trộm cướp khét tiếng. Thánh Gio-an tuy đã già yếu gần 100 tuổi vẫn một mình chống gậy tìm lên ngọn núi sào huyệt của anh ta. Mới đến lưng chừng núi thì cụ già bị bọn lâu la bắt trói dẫn về cho thủ lãnh.

Vừa gặp mặt, chàng trai đã giật mình kinh sợ vì nhận ra thầy cũ của mình. Thánh Gio-an sau khi được cởi trói, ôn tồn khuyên nhủ: “Này con yêu của thầy, sao con lại tránh nhìn vào mắt thầy ? Bây giờ đứng trước mặt con, thầy chỉ là một con người già yếu, không thể tự vệ được cơ mà…” Ngài thinh lặng một chút rồi lấy hơi nói tiếp: “Con đừng ngại, tội lỗi của con chắc chắn đã được Thiên Chúa tha thứ. Chính thầy đã xin điều ấy cùng Chúa Giê-su đầy lòng thương xót cho con rồi. Thôi, con hãy cùng với các bạn con rời bỏ ngọn núi này mà theo về với thầy nhé…”

Chàng trai nghe đến đây thì quỳ xụp xuống, xấp mình khóc lóc trong niềm vui được hoán cải và tha thứ. Sau đó, mọi người được chứng kiến một cảnh tượng lạ lùng: một ông lão dìu một chàng trai xuống núi, theo sau là tất cả thủ hạ trong băng cướp…

2. Đặt câu hỏi hội thoại:

– Câu truyện trên liên quan đến vị Tông Đồ nào ? ( Đó là Thánh Gio-an Tông Đồ, người sống thọ nhất trong 12 Tông Đồ của Chúa Giê-su, ngài đã không bị giết nhưng bị bắt đi đày ở một hòn đảo tên là Patmos cho đến già mới được thả về lại cộng đoàn Ê-phê-xô ).

– Em nào biết Thánh Gio-an Tông Đồ là tác giả những sách nào trong Kinh Thánh ? ( Ngài là tác giả của 1 trong 4 Sách Tin Mừng, 3 lá Thư Chung, và cuối cùng là Sách Khải Huyền ).

– Khải Huyền có nghĩa là vén mở tấm màn cho thấy được điều bí mật còn ẩn giấu bên trong. Các tín hữu thuở ban đầu đã thắc mắc rất nhiều về tương lai của họ và của Giáo Hội, họ tỏ vẻ lo lắng trước các cuộc bách hại dữ dội. Thánh Gio-an đã viết Sách Khải Huyền để khẳng định với họ: Chỉ có Chúa Giê-su mới là chúa tể của lịch sử, các mãnh lực thế gian rồi sẽ phải chịu khuất phục trước Hội Thánh Chúa Giê-su. Những ai tin cậy vào Chúa Giê-su đến cùng thì cũng được toàn thắng như Ngài.

3. Tập hát:

Bài “Sức Sống Dồi Dào” ( Nối Lửa Cho Đời 7, trang 92, số 138 ), hoặc lấy bài “Chúa là Ánh Sáng” ( Nối Lửa Cho Đời 7 trang 94, số 142 ). Đây là các bài hát lấy ý tưởng trong Tin Mừng theo Thánh Gio-an.

4. Đọc Lời Chúa:

Ngoài 2 Thư của Thánh Gio-an, còn có các Thư của các Thánh Phê-rô, Gia-cô-bê và Giu-đa. Chúng ta sẽ nghe đọc một đoạn trích Thư Thánh Phê-rô Tông Đồ ( 1 Pr 3, 13 – 16 ): “Ai làm hại được anh em, nếu anh em nhiệt thành làm điều thiện ? Mà nếu anh em chịu khổ vì sống công chính, thì anh em thật có phúc ! Đừng sợ những kẻ làm hại anh em và đừng xao xuyến. Đức Ki-tô là Đấng Thánh, hãy tôn Người làm Chúa ngự trị trong lòng anh em. Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em. Nhưng phải trả lời cách hiền hoà và với sự kính trọng.”

5. Khai triển thêm bằng hội thoại:

– Ngoài 14 Thư của Thánh Phao-lô, em nào có thể kể được tên 7 Thư của các Thánh Tông Đồ khác ? ( Đó là 1 Thư của Thánh Gia-cô-bê, 2 Thư của Thánh Phê-rô, 3 Thư của Thánh Gio-an và 1 Thư của Thánh Giu-đa – không phải là ông Giu-đa đã bán Chúa và đi tự tử chết. 7 Thư này được gọi là các Thư Chung ).

– Nội dung của 7 Thư Chung xoay quanh các ý chính: Con Thiên Chúa đã làm người, chịu chết và sống lại, chính Ngài sẽ trở lại trong vinh quang để xét xử nhân loại. Vì thế, các tín hữu phải từ bỏ tội lỗi, hết lòng kính mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân.

II. ĐÍCH ĐIỂM:

Có thể đọc cho các em chép vào vở học phần toát yếu sau đây: Các Thư Chung của các Thánh Tông Đồ Gia-cô-bê, Phê-rô, Gio-an và Giu-đa đã dặn dò dạy dỗ các tín hữu luôn đặt Niềm Tin vào Chúa Giê-su, sống tốt lành như Ngài đã truyền dạy. Sách Khải Huyền củng cố thêm Niềm Tin ấy để các tín hữu vững tâm vượt qua mọi khó khăn của cuộc sống Đạo giữa thế gian.

III. XÁC TÍN:

Phần xác tín cuối cùng của Kinh Tin Kính: “Tôi đợi trông ngày kẻ chết sống lại, và sự sống đời sau. Amen”.

IV. TÂM TÌNH:

            Mời các em đứng lên, dẫn vào bầu khí cầu nguyện: Cám ơn Chúa Thánh Thần đã soi sáng và linh hứng cho các Thánh Tông Đồ viết và để lại cho chúng con những Thư Chung dạy dỗ cách ăn nết ở đối với Chúa và với mọi người. Cám ơn Chúa Thánh Thần vì chúng con đã học được đến bài cuối cùng của năm học Giáo Lý Thêm Sức thứ nhất… Hát lại bài “Sức Sống Dồi Dào”.

V. THỰC HÀNH:

Em về ôn lại tất cả những bài đã học chuẩn bị làm bài kiểm cuối năm. Lưu ý trước với các em: Đề bài thi cuối năm sẽ không đòi các em học thuộc lòng để trả bài, nhưng là hiểu bài một cách sâu xa, tổng hợp lại trong cảm nhận để có thể làm bài thật tốt với những câu hỏi về kiến thức Giáo Lý cũng như về cách sống của một người Ki-tô hữu.

Lm. Mát-thêu NGUYỄN HỮU QUANG, DCCT

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: